Luyện tập

Câu 1

Hịch là gì?

Thể loại thường được vua viết dùng để ban bố một mệnh lệnh.
Thể loại thường được thần dân viết và gửi lên vua chúa.
Thể loại thường được vua, quan viết để thuyết phục hoặc kêu gọi mọi người dưới quyền đấu tranh chống kẻ thù trong bối cảnh có chiến tranh.
Thể loại thường được vua chúa, thủ lĩnh trình bày chủ trương hay công bố kết quả của một sự nghiệp để mọi người cùng biết.
Câu 2

HỊCH TƯỚNG SĨ

(Dụ chư tì tướng hịch văn)

(Trần Quốc Tuấn)

Ta thường nghe: Kỉ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vũ chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!

Các ngươi con nhà võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi những chuyện xưa, ta không nói đến nữa. Nay ta chỉ kể chuyện Tống, Nguyên mới đây.

Vương Công Kiên là người thế nào, tì tướng của ông là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào, mà giữ thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu, đường đường chống với quân Mông Kha đông đến hàng trăm vạn, khiến cho nhân dân đời Tống đến nay còn đội ơn sâu!

Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào, tì tướng của ông là Xích Tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi nghìn trùng, đánh bại được quân Nam Chiếu trong vài tuần, khiến cho quân tướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt!

Huống chi ta cùng các người sinh phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau?

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.

Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui vười. Cách đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước cũng chẳng kém gì.

Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh; hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc Mông Thát tràn sang, thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quý nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ khôn đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ chơi phỏng có được không?

Nay ta bảo thật các ngươi: Nên nhớ câu: "đặt mồi lửa vào dưới đống củi" là nguy cơ, nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" làm răn sợ. Huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên; khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ; có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi, trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui vẻ phỏng có được không?

Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp làm một quyển gọi là Binh thư yếu lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù.

Vì sao vậy? Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây sau khi dẹp yên quân giặc, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa? Ta viết ra bài hịch này để các ngươi biết bụng ta.

(Theo bản dịch trong Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (thế kỉ X - XIX), tập một, Bùi Duy Tân Chủ biên, NXB Giáo dục, 2004)

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?

Nghị luận.
Miêu tả.
Tự sự.
Thuyết minh.
Câu 3

Trong lịch sử, người ta thường viết hịch khi nào?

Khi đất nước thanh bình.
Khi đất nước vừa kết thúc chiến tranh.
Khi đất nước có giặc ngoại xâm.
Khi đất nước phồn vinh.
Câu 4

Nội dung chính của đoạn văn bản trên là gì?

Vạch trần những tội ác của quân giặc.
Vạch ra phương hướng, chiến lược đánh thắng quân giặc.
Nêu những tấm gương của các bậc trung thần nghĩa sĩ.
Đưa ra lời khuyên nhủ, khuyến thích binh lính đánh giặc.
Câu 5

Việc chỉ ra những tấm gương trung thần nghĩa sĩ trong đoạn văn bản trên có tác dụng gì? (Chọn 2 đáp án)

Khích lệ lòng trung quân ái quốc, chí lập công danh của tướng sĩ, binh lính dưới quyền.
Khắc sâu lòng thù hận của các tì tướng đối với quân thù.
Nhắc nhở các tì tướng về trách nhiệm đối với chủ tướng.
Nhắc nhở các tì tướng về lực lượng hùng mạnh, khí thế quyết chiến của quân thù.
Câu 6

Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích trên là gì?

Nhân hóa.
Ẩn dụ.
So sánh.
Liệt kê.
Câu 7

Nội dung chính của đoạn văn bản trên là gì?

Thể hiện sức mạnh của quân thù.
Thể hiện tấm lòng yêu nước của chủ tướng.
Khẳng định quyết tâm của các tì tướng.
Vạch trần tội ác của quân thù.
Câu 8

Đoạn văn nào thể hiện rõ nhất lòng yêu nước, căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn?

Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm...
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng.
Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc.
Từ xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!
Câu 9

Nghĩa của từ "nghênh ngang" trong câu văn "Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, [...] để vét của kho có hạn." là gì?

Ở trạng thái lắc lư, nghiêng ngả, không vững.
Không chịu theo ai cả mà cứ theo mình, dù có biết là sai trái đi nữa.
Tỏ ra tự đắc, coi thường mọi người bằng những thái độ, lời nói gây cảm giác khó chịu.
Tỏ ra không kiêng sợ gì ai, ngang nhiên làm những việc biết rằng mọi người có thể phản đối.
Câu 10

Dòng nào nói không đúng về chủ tướng?

Quan tâm, chăm lo đời sống cho các tì tướng.
Căm thù giặc sâu sắc, khát vọng đánh đuổi quân thù.
Dũng cảm, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc.
Biết ơn các tì tướng, sẵn sàng chiến đấu vì các tì tướng.
Câu 11

Hịch tướng sĩ là /…/ bất hủ thể hiện lòng yêu nước và tinh thần quyết chiến quyết thắng quân xâm lược của dân tộc ta.” Cụm từ nào điền vào chỗ trống trong câu văn trên là phù hợp ?

lời hịch vang dậy núi sông.
bài văn chính luận xuất sắc.
tiếng kèn xuất quân.
áng thiên cổ hùng văn.
Câu 12

Dụng ý của tác giả thể hiện qua câu: "Huống chi ta cùng các người sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan.”?

Thể hiện sự thông cảm với các tướng sĩ.
Miêu tả hoàn cảnh sinh sống của mình cũng như các tướng sĩ.
Kêu gọi tinh thần đấu tranh của các tướng sĩ.
Khẳng định mình và các tướng sĩ là những người cùng cảnh ngộ.
Câu 13

Biện pháp tu từ nào không được dùng trong đoạn văn sau?

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng.

Nói quá.
Nhân hóa.
Ẩn dụ.
So sánh.
Câu 14

Mục đích của tác giả khi viết đoạn văn trên là gì?

Khắc sâu lòng căm thù giặc của các tì tướng.
Khuyến khích tì tướng đứng lên chống quân thù.
Nhắc nhở tì tướng ghi nhớ công ơn, tình nghĩa của chủ tướng.
Khẳng định tầm quan trọng của các tì tướng, binh lính.
Câu 15

Trong đoạn văn trên, tác giả đã gợi ra cảm xúc gì cho các tì tướng?

Hổ thẹn, muốn sửa chữa những điều bản thân chưa làm đúng.
Căm tức, muốn cùng chủ tướng lập công danh.
Thất vọng, muốn lấy việc chống giặc báo đáp công ơn cho chủ tướng.
Hân hoan, muốn đứng lên chiến đấu chống quân thù.