K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đặt tên cho câu chuyện từ chat meo meo cụa mi:Chiều hôm đó, cả làng nghe thấy một tiếng hét.“CỨU VỚI!”Tiếng hét vang lên từ đồng cỏ đầu làng, nơi mỗi buổi chiều bọn trẻ thường kéo nhau ra chơi.Khi mọi người chạy tới, họ nhìn thấy một cậu bé khoảng mười ba tuổi đang đứng chết lặng giữa bãi cỏ.Trên đầu cậu, một con diều màu đỏ đang mắc trên đường dây điện.Nhưng...
Đọc tiếp


Đặt tên cho câu chuyện từ chat meo meo cụa mi:

Chiều hôm đó, cả làng nghe thấy một tiếng hét.

“CỨU VỚI!”

Tiếng hét vang lên từ đồng cỏ đầu làng, nơi mỗi buổi chiều bọn trẻ thường kéo nhau ra chơi.

Khi mọi người chạy tới, họ nhìn thấy một cậu bé khoảng mười ba tuổi đang đứng chết lặng giữa bãi cỏ.

Trên đầu cậu, một con diều màu đỏ đang mắc trên đường dây điện.

Nhưng điều kỳ lạ nhất không phải là con diều.

Mà là...

cậu bé không hề cầm dây diều.

Tên cậu bé là Nam.

Chiều hôm ấy, Nam chỉ định ra đồng cỏ chơi một lúc trước khi về nhà ăn cơm.

Cậu nhìn thấy một con diều đỏ nằm giữa bãi cỏ.

Nó rất đẹp.

Trên mặt diều có vẽ một con mắt màu đen.

Nam nhặt nó lên.

“Chắc ai đánh rơi.”

Cậu buộc lại dây, chạy vài bước rồi thả.

Con diều lập tức bay lên.

Nó bay rất đẹp.

Gió cuốn nó lên cao, cao đến mức Nam phải ngửa cổ mới nhìn thấy.

Nhưng chỉ vài giây sau...

Vút!

Một cơn gió mạnh quật con diều sang phía đường điện.

“Ê! Ê! Quay lại!”

Nam kéo dây.

Không kịp.

Con diều mắc thẳng vào dây điện.

Nam hoảng hốt buông tay.

Sợi dây diều rơi xuống đất.

Cậu đứng cách xa cột điện, tim đập thình thịch.

Đúng lúc ấy, một ông lão chăn bò chạy tới.

“Đừng lại gần!”

Nam gật đầu.

Nhưng ông lão vừa nhìn thấy con diều thì sắc mặt thay đổi.

Ông nhìn Nam.

Rồi nhìn con diều.

“Cháu... nhặt nó ở đâu?”

“Ở dưới bãi cỏ ạ.”

“Cháu chắc chứ?”

“Chắc ạ.”

Ông lão im lặng.

Một lúc sau, ông nói rất nhỏ:

“Con diều này... không thể ở đây được.”

Nam không hiểu.

“Vì sao ạ?”

Ông lão không trả lời.

Ông chỉ kéo Nam ra xa.

“Về nhà ngay.”

Tối hôm đó, Nam kể chuyện cho mẹ.

Mẹ cậu nghe xong thì im bặt.

“Con nói... con diều màu gì?”

“Đỏ.”

“Có hình gì?”

“Một con mắt.”

Chiếc thìa trên tay mẹ Nam rơi xuống nền nhà.

Keng.

Nam giật mình.

“Mẹ?”

Mẹ cậu nhìn ra ngoài cửa sổ.

“Ngày mai con không được ra đồng.”

“Tại sao?”

Mẹ không trả lời.

Nhưng đêm đó, Nam nghe thấy bố mẹ nói chuyện.

“Không thể nào.”

“Em nhìn thấy nó rồi.”

“Đã hai mươi năm rồi.”

“Nhưng nó lại xuất hiện.”

Nam nằm trong phòng, mắt mở trừng trừng.

Hai mươi năm?

Bố mẹ cậu đang nói về cái gì?

Sáng hôm sau, Nam tìm đến ông lão chăn bò.

Ông tên là ông Tư.

Sau một hồi im lặng, ông kể cho Nam nghe một chuyện mà cả làng gần như không ai muốn nhắc đến.

Hai mươi năm trước, có một cậu bé tên Hùng.

Hùng rất thích thả diều.

Một buổi chiều, Hùng ra đồng cỏ đầu làng.

Cậu mang theo một con diều đỏ có hình con mắt.

Và rồi...

Con diều mắc vào dây điện.

Hùng trèo lên để lấy nó.

Từ hôm đó, không ai còn nhìn thấy Hùng nữa.

Nam nuốt nước bọt.

“Cậu ấy... chết rồi ạ?”

Ông Tư nhìn xuống đất.

“Không ai biết.”

“Không biết?”

“Người ta tìm cả tuần. Không thấy xác. Không thấy quần áo. Không thấy gì cả.”

Nam lạnh sống lưng.

“Thế con diều?”

Ông Tư ngẩng đầu nhìn Nam.

“Nó cũng biến mất.”

Nam không nói gì.

Một cơn gió lạnh thổi qua.

Chiều hôm đó, Nam không nghe lời mẹ.

Cậu quay lại đồng cỏ.

Con diều đỏ vẫn mắc trên dây điện.

Nhưng có một điều khiến Nam sợ hơn.

Sợi dây diều đang rơi xuống đất.

Và nó...

đang kéo dài về phía bãi cỏ.

Nam đi theo.

Một mét.

Hai mét.

Mười mét.

Sợi dây biến mất dưới một bụi cỏ.

Nam cúi xuống.

Cậu phát hiện một chiếc hộp gỗ nhỏ.

Bên trong là một cuốn sổ cũ.

Trang đầu tiên chỉ có một dòng:

“Nếu bạn tìm thấy con diều này, đừng kéo dây.”

Nam lập tức buông tay.

Nhưng quá muộn.

Từ phía sau lưng cậu vang lên một tiếng thì thầm.

“Nam...”

Cậu quay phắt lại.

Không có ai.

“Nam...”

Lần này tiếng gọi rõ hơn.

Nó phát ra từ phía con diều.

Nam ngẩng lên.

Con diều đỏ đang mắc trên dây điện.

Nó không thể nói.

Nhưng cái miệng trên hình vẽ của con mắt...

đang từ từ mở ra.

Nam lùi lại.

“Không thể nào...”

Con diều rung lên.

Rồi một giọng nói rất nhỏ vang xuống:

“Đưa... tớ... về...”

Nam đứng chết trân.

Giọng nói đó...

là giọng của một đứa trẻ.

Nam chạy thẳng về nhà.

Cậu kể mọi chuyện cho bố mẹ.

Lần này, bố cậu không giấu nữa.

Ông lấy từ trong tủ ra một tấm ảnh cũ.

Trong ảnh là một cậu bé khoảng mười ba tuổi.

Cậu đang cầm một con diều đỏ.

Trên mặt diều...

là một con mắt.

Nam nhìn bức ảnh.

Rồi nhìn bố.

“Đây là ai?”

Bố cậu im lặng rất lâu.

“Anh trai của bố.”

Nam sững người.

“Bác Hùng?”

Bố gật đầu.

“Nhưng... bác ấy mất tích mà?”

“Ừ.”

Nam nhìn kỹ bức ảnh.

Ở góc ảnh có một dòng chữ:

Ngày 13 tháng 8.

Nam bỗng thấy lạnh người.

“Hôm nay... cũng là ngày 13 tháng 8.”

Không ai nói gì.

Đúng lúc ấy...

Ngoài sân vang lên tiếng dây kéo trên mái nhà.

Két...

Két...

Két...

Bố Nam chạy ra cửa.

Trên bầu trời đêm, con diều đỏ đang bay.

Không có gió.

Không có ai thả.

Nó bay vòng quanh căn nhà ba lần.

Rồi từ từ hạ xuống.

Nó dừng ngay trước cửa sổ phòng Nam.

Trên mặt diều, con mắt màu đen nhìn thẳng vào cậu.

Một dòng chữ xuất hiện ở mặt sau.

Những nét chữ run rẩy như được viết bằng than:

“Anh đã tìm thấy đường về.”

Nam đứng bất động.

Bố cậu phía sau cũng không thốt nên lời.

Bỗng nhiên...

Cánh cửa phòng kho phía cuối nhà bật mở.

Rầm!

Một luồng gió lạnh thổi qua.

Từ trong bóng tối vang lên tiếng bước chân.

Một bước.

Hai bước.

Ba bước.

Nam nắm chặt tay mẹ.

Bóng người từ từ hiện ra.

Một cậu bé.

Áo trắng.

Quần xanh.

Chân đầy bùn đất.

Trên tay...

là một cuộn dây diều.

Cậu bé ngẩng đầu.

Mỉm cười.

“Em là Nam đúng không?”

Nam không thể nói.

Cậu bé nhìn bố Nam.

“Em trai...”

Bố Nam bật khóc.

“Anh...”

Cậu bé bước ra khỏi bóng tối.

Không hề già đi.

Vẫn là gương mặt của cậu bé mười ba tuổi trong bức ảnh.

Hai mươi năm đã trôi qua.

Nhưng đối với Hùng...

dường như chỉ mới là một buổi chiều.

Hùng nhìn ra cánh đồng.

“Anh thả diều hơi lâu.”

Rồi cậu mỉm cười.

“Nhưng cuối cùng cũng tìm được đường về.”

Ngoài kia, con diều đỏ bay lên.

Lần này, nó không mắc vào dây điện.

Nó bay thẳng lên bầu trời.

Cao đến mức biến thành một chấm đỏ giữa những vì sao.

Và từ hôm đó, người dân trong làng không bao giờ còn thấy con diều ấy nữa.

Chỉ có những đứa trẻ lớn lên trong làng vẫn truyền nhau một lời dặn:

Nếu một ngày bạn nhìn thấy một con diều đỏ có hình con mắt ở đồng cỏ đầu làng...

Đừng nhặt nó lên.

Bởi có thể người đang thả nó...

vẫn đang chờ bạn kéo sợi dây.

0
THÁNH GIÓNG – TƯỢNG ĐÀI VĨNH CỬU CỦA LÒNG YÊU NƯỚC 1.Chủ đề đánh giặc cứu nước là chủ đề lớn, cơ bản, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam nói chung, văn học dân gian Việt Nam nói riêng. Thánh Gióng thể hiện tập trung chủ đề đánh giặc cứu nước, thuộc loại tác phẩm hay nhất cho chủ đề này.2.Gióng ra đời kì lạMẹ Gióng có thai Gióng...
Đọc tiếp

THÁNH GIÓNG – TƯỢNG ĐÀI VĨNH CỬU CỦA LÒNG YÊU NƯỚC 1.Chủ đề đánh giặc cứu nước là chủ đề lớn, cơ bản, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam nói chung, văn học dân gian Việt Nam nói riêng. Thánh Gióng thể hiện tập trung chủ đề đánh giặc cứu nước, thuộc loại tác phẩm hay nhất cho chủ đề này.

2.Gióng ra đời kì lạ

Mẹ Gióng có thai Gióng không bình thường. Bà ướm chân mình vào vết chân khổng lồ rồi mang thai; lại có thai không phải chín tháng mười ngày mà mười hai tháng. Sự sinh nở thần kì, ta vẫn thường thấy trong truyện cổ dân gian. Chẳng hạn, truyện dân gian kể, lúc Lê Lợi sinh ra có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương lạ khắp xóm; còn Nguyễn Huệ, khi ra đời, có hai con hổ chầu hai bên. Những chi tiết hoang đường kể về Gióng như thế là cách dân gian tưởng tượng ra để nhân vật của mình trở thành phi thường. Nhân dân muốn tạo những nét kì lạ, biểu hiện niềm yêu mến, sự tôn kính với nhân vật và tin rằng nhân vật đã ra đời kì lạ thì tất cũng lập chiến công kì lạ. […]

3.Gióng lớn lên cũng kì lạ

Ba năm, Gióng không nói không cười, chỉ nằm im lặng. Nhưng bắt đầu cất lên tiếng nói thì đó là tiếng nói yêu nước, cứu nước. Tiếng nói ấy không phải là tiếng nói bình thường […] Gióng lớn nhanh như thổi, “cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc đã căng đứt chỉ”. [...] Gióng lớn lên bằng những thức ăn, thức mặc của nhân dân. Sức mạnh dũng sĩ của Gióng được nuôi dưỡng từ những cái bình thường, giản dị. Tất cả dân làng đùm bọc, nâng niu, nuôi nấng. “Nhân dân ta rất yêu nước, ai cũng mong Gióng lớn nhanh đánh giặc cứu nước. Gióng đâu còn là con chỉ của một bà mẹ, mà là con của mọi người, của nhân dân. Một người cứu nước sao đặng? Phải toàn dân góp phần chuẩn bị cho sức mạnh đánh giặc. Có vậy, khả năng đánh giặc, cứu nước mới lớn lên mau chóng. Gióng tiêu biểu cho sức mạnh toàn dân đó” (Lê Trí Viễn). [...]

4.Gióng vươn vai ra trận đánh giặc

Giặc đến. Thế nước rất nguy. Chú bé Gióng đã vươn vai đứng dậy, biến thành tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Sự vươn vai của Gióng có liên quan đến mô típ truyền thống của truyện cổ dân gian. Thời cổ, nhân dân quan niệm người anh hùng phải khổng lồ về hình thể, sức mạnh, chiến công. Thần Trụ Trời và Sơn Tinh,... đều là những nhân vật khổng lồ. Cái vươn vai của Gióng là để đạt đến sự phi thường ấy [...]. Gióng vươn vai là tượng đài bất hủ về sự trưởng thành vượt bậc, về hùng khí, tinh thần của dân tộc trước vận nước lâm nguy [...]. Quang cảnh Gióng ra trận rất hùng vĩ, hoành tráng. Tất cả sức mạnh của ý chí cộng đồng, của thành tựu lao động, văn hoá được bộc lộ trong cuộc đối đầu với kẻ thù: ngựa sắt phun ra lửa, giáp sắt, nón sắt chở che cho người anh hùng, roi sắt dân dã, rất Việt Nam, cũng xuất hiện. Gậy sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc. Gióng đánh giặc cả bằng cây cỏ đất nước, bằng những gì có thể tiêu diệt được giặc. [...]

5.Gióng bay lên trời và dấu xưa còn lại

Dẹp giặc tan, Gióng đến chân núi Sóc, cởi áo sắt để lại, rồi cả người lẫn ngựa bay lên trời. Gióng ra đời đã phi thường thì ra đi cũng phi thường. Nhân dân trân trọng, yêu mến, muốn giữ mãi hình ảnh người anh hùng, nên đã để cho nhân vật trở về với cõi vô biên bất tử, để nhân vật sống mãi. Đó là phần thưởng cao nhất, đẹp nhất trao tặng người anh hùng. Hình tượng Gióng đã được bất tử hoá. Bay lên trời, Gióng hoá rồi. Gióng là non nước, đất trời, là mọi người Văn Lang, Gióng sống mãi. [...] Chiến công của Gióng còn để lại cho quê hương, xứ sở nhiều chứng tích địa danh, sản vật,... Đó là dấu vết ngựa sắt phun ra lửa làm nên màu tre đằng ngà vàng óng, dấu chân ngựa thành những ao hồ chi chít. Nhân dân còn kể chỗ nào Gióng bắt đầu xuất quân; chỗ nào đoàn trẻ chăn trâu, người thợ rèn đi theo Gióng; chỗ nào Gióng nhổ bụi tre khổng lồ. Hội Gióng hằng năm cũng dựng lại cảnh không khí dân làng nuôi Gióng, bức tranh Gióng ra trận. Tất cả những chứng tích ấy như những viện bảo tàng thiên nhiên, bảo tàng lịch sử, bảo tàng văn hoá về Gióng, như muốn minh chứng rằng câu chuyện có thật, làm mọi người tin vào truyền thống giữ nước của dân tộc. (câu hỏi:tìm ý kiến,lí lẽ,bằng chứng trong có đoạn 1, đoạn 2, đoạn 3,đoạn 4, đoạn 5-ngắn thôi ạ,mình cảm ơn)

0
Soạn bài1. Đọc kĩ phần giới thiệu bài học và tri thức ngữ văn của bài 3:- Xác định chủ đề của bài- Cho biết trong truyện kể, nhân vật thường được miêu tả ở những khía cạnh, đặc điểm nào? Em hiểu ngoại hình là gì? Hành động, lời nói, nội tâm của nhân vật là gì?Người ăn xin      Lúc ấy, tôi đang đi trên phố. Một người ăn xin già lom khom đứng ngay trước mặt tôi.    ...
Đọc tiếp

Soạn bài

1. Đọc kĩ phần giới thiệu bài học và tri thức ngữ văn của bài 3:

- Xác định chủ đề của bài

- Cho biết trong truyện kể, nhân vật thường được miêu tả ở những khía cạnh, đặc điểm nào? Em hiểu ngoại hình là gì? Hành động, lời nói, nội tâm của nhân vật là gì?

Người ăn xin

      Lúc ấy, tôi đang đi trên phố. Một người ăn xin già lom khom đứng ngay trước mặt tôi.

     Đôi mắt ông lão đỏ hoe và giàn giụa nước mắt. Đôi môi tái nhợt, quần áo tả tơi thảm hại…Chao ôi! Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào!

Ông già chìa trước mặt tôi bàn tay sưng húp, bẩn thỉu. Ông rên rỉ, cầu xin cứu giúp.

Tôi lục tìm hết túi nọ túi kia, không có tiền, không có đồng hồ, không có cả một chiếc khăn tay. Trên người tôi chẳng có tài sản gì.

Người ăn xin vẫn đợi tôi. Tay vẫn chìa ra run lẩy bẩy. Tôi chẳng biết làm cách nào. Tôi nắm chặt lấy bàn tay run rẩy kia:

-       Ông đừng giận cháu, cháu không có gì để cho ông cả.

Người ăn xin nhìn tôi chằm chằm bằng đôi mắt ướt đẫm. Đôi môi tái nhợt chợt nở nụ cười và tay ông cũng xiết lấy tay tôi:

- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi – Ông lão nói bằng giọng khản đặc. Khi ấy, tôi chợt hiểu rằng: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được chút gì từ ông lão.

 

Ngoại hình

Hành động

Lời nói của nhân  vật (Ngôn ngữ)

Suy nghĩ (Nội tâm)của nhân vật

 

 

Tìm những từ ngữ, hình ảnh nói về ngoại hình của người ăn xin.

 

 

Khi người ăn xin rên rỉ cầu xin cứu giúp, “tôi” đã có hành động gì?

Nhân vật “tôi” đã nói điều gì với người ăn xin? Người ăn xin đã đáp lại ra sao?

Sau cuộc trò chuyện với người ăn xin, nhân vật “tôi” hiểu ra điều gì?





2. Đọc văn bản: Cô Bé bán Diêm hoàn thành 3 phiếu bài tập sau:

Phiếu học tập số 1

1.Tác giả:

+Tên, năm sinh năm mất

+Quê

+Phong cách sáng tác

+ Những tác phẩm tiêu biểu

Phiếu học tập số 2

2.Tác phẩm:

+Xuất xứ

+Thể loại

+ Người kể chuyên

+Ngôi kể:

+Bố cục

+ Tóm tắt

Phiếu học tập số 3:

1.Hoàn cảnh của cô bé bán diêm:

Cô bé ở ngoài phố trong một đêm ntn? Vì sao em không dám về nhà

Tìm chi tiết miêu tả ngoại hình, hoàn cảnh của cô bé bán diêm

-Thời gian

-Không gian 

-Thời tiết 

- Cô bé không dám về nhà vì

 

- Gia cảnh của cô bé :

+Những người yêu thương 

+Cuộc sống thực tại 

 

- Công việc 

- Ngoại hình 

Nghệ thuật và tác dụng

 

Hãy nhận xét về hoàn cảnh của cô bé bán diêm

 

0