Phạm Thảo Linh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Thảo Linh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Văn bản "Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa" thuyết minh về sự đa dạng trong cách thức đi lại của cộng đồng các dân tộc. Ở các tỉnh miền núi phía Bắc, do địa hình hiểm trở, người dân chủ yếu đi bộ và sử dụng chiếc gùi có hai dây đeo vai để vận chuyển hàng hóa. Một số dân tộc như Mông, Hà Nhì còn dùng ngựa thồ hoặc xe quệt trâu để kéo hàng ở những vùng cao. Ngược lại, các dân tộc Tây Nguyên lại nổi tiếng với việc sử dụng voi làm phương tiện vận chuyển chính cho người và hàng hóa nặng. Tại vùng sông nước Cửu Long, các dân tộc như Khmer lại sáng tạo ra nhiều loại ghe, xuồng độc đáo để phù hợp với kênh rạch chằng chịt. Sự khác biệt về phương tiện này phản ánh rõ nét đặc điểm địa lý và tập quán sinh hoạt của từng vùng miền. Qua đó, văn bản khẳng định trí tuệ sáng tạo và khả năng tận dụng tài nguyên thiên nhiên của cha ông ta trong việc chinh phục không gian.
Văn bản "Ghe xuồng Nam Bộ" cung cấp cái nhìn chi tiết về các loại phương tiện đường thủy đặc trưng của vùng sông nước Cửu Long. Tác giả phân loại cụ thể các loại ghe (ghe bầu, ghe lồng, ghe chài...) và xuồng (xuồng ba lá, xuồng năm quăng...) dựa trên cấu tạo và mục đích sử dụng. Qua đó, bài viết không chỉ giới thiệu về sự đa dạng của phương tiện đi lại mà còn tôn vinh nét đẹp trong đời sống văn hóa, lao động của người dân Nam Bộ. Những chiếc ghe, xuồng chính là "linh hồn" gắn liền với lịch sử khai phá và phát triển của vùng đất này.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN TƯỜNG TRÌNH (Về việc chứng kiến vụ tai nạn giao thông) Kính gửi: Cơ quan Công an [Tên quận/huyện/thành phố nơi xảy ra tai nạn] Tôi tên là: [Họ và tên của em]
Ngày tháng năm sinh: [Ngày sinh]
Số CCCD/CMND: [Số định danh] - Cấp ngày: [Ngày cấp] - Tại: [Nơi cấp]
Địa chỉ thường trú: [Địa chỉ nhà của em]
Số điện thoại liên lạc: [Số điện thoại]
Nội dung tường trình:
Vào hồi [Giờ xảy ra tai nạn] ngày [Ngày xảy ra tai nạn], tôi đang [đang đi học/đang đi bộ...] tại khu vực [Địa chỉ cụ thể, ví dụ: ngã tư đường A và đường B]. Lúc này, tôi đã chứng kiến một vụ tai nạn giao thông với diễn biến như sau:
  1. Về phương tiện: Gồm xe [Ví dụ: xe máy biển số 29A-123.45 và xe ô tô biển số 30H-678.90].
  2. Về diễn biến: Xe [Tên xe 1] đang lưu thông hướng [hướng đi] thì bất ngờ [mô tả va chạm: vượt đèn đỏ/va chạm/lấn làn...] với xe [Tên xe 2] đang đi từ hướng [hướng đi].
  3. Về hậu quả (nếu thấy): Tôi thấy [mô tả tình trạng người bị nạn, hư hỏng xe...].
Tôi xin cam đoan những thông tin trên là hoàn toàn đúng sự thật và sẵn sàng chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình. Kính mong cơ quan chức năng xem xét và giải quyết theo quy định. ........, ngày .... tháng .... năm 202... Người tường trình
(Ký và ghi rõ họ tên)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN TƯỜNG TRÌNH
(Về việc chứng kiến vụ việc xô xát trong lớp)
Kính gửi: Thầy/Cô giáo chủ nhiệm lớp [Tên lớp của em] Em tên là: [Họ và tên của em]
Học sinh lớp: [Tên lớp]
Em xin phép trình bày lại sự việc mà em đã chứng kiến như sau:
  • Thời gian xảy ra: Khoảng [Giờ cụ thể, ví dụ: 10 giờ 15 phút], ngày [Ngày tháng năm].
  • Địa điểm: Tại phòng học lớp [Tên lớp].
  • Các thành viên tham gia: Bạn [Tên bạn A] và bạn [Tên bạn B].
  • Nội dung sự việc:
    Vào giờ nghỉ giải lao sau tiết [Tên tiết học], em thấy bạn A và bạn B có xảy ra tranh cãi về việc [Lý do tranh cãi, ví dụ: mượn đồ dùng học tập]. Sau một hồi lời qua tiếng lại, cả hai bạn không kiềm chế được bình tĩnh và đã bắt đầu lao vào đánh nhau.
    Lúc đó, em và một số bạn khác đã chạy lại can ngăn nhưng không được. Sự việc chỉ dừng lại khi [Ví dụ: các bạn lớp bên cạnh sang can thiệp hoặc có giáo viên đi qua].
Hậu quả: [Ví dụ: Bạn A bị trầy xước tay, một chiếc ghế trong lớp bị đổ]. Em xin cam đoan những nội dung vừa nêu trên là đúng sự thật. Nếu có gì sai trái, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Thầy/Cô và nhà trường. ..., ngày... tháng... năm... Người làm tường trình
(Ký và ghi rõ họ tên)

Khuôn mặt cô hình trái xoan rất đẹp. Mái tóc cô dài, óng ả, có màu đen nhánh thường được cô buộc lên cao cho gọn. Trông cô thật trẻ trung khi buộc cao tóc lên bởi vì mái tóc đó rất hợp với khuôn mặt hình trái xoan của cô. Cô có một đôi mắt rất đẹp, nổi bật trên khuôn mặt. Dưới đôi mắt tinh anh kia là một cái mũi dọc dừa, thanh tú làm sao! Cô rất hay cười và mỗi lần cười cô lại để lộ hàm răng trắng tinh, đều tăm tẳp đằng sau đôi môi đỏ tươi. Nước da cô trắng ngần, tuyệt đẹp. Mỗi khi cô bước đi trên bục giảng là tà áo dài tím lại phấp phới bay. Trong lớp em, ai cũng bảo là cô đẹp nhất trường. Đứa nào cũng ước được đẹp giống cô một chút thôi cũng được.


Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người mà cuộc đời họ đã trở thành biểu tượng cho khát vọng độc lập, tự do. Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu, người cha già dân tộc – chính là một tấm gương sáng ngời như thế. Nhắc về Người, không thể không nhắc đến sự kiện vĩ đại: hành trình ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Nhà Rồng năm 1911. Đầu thế kỷ XX, nước ta đắm chìm trong đêm trường nô lệ dưới ách cai trị của thực dân Pháp. Các phong trào yêu nước như Đông Du của Phan Bội Châu hay Duy Tân của Phan Chu Trinh đều lần lượt thất bại. Lúc bấy giờ, trong lòng người thanh niên Nguyễn Tất Thành, nỗi đau mất nước và sự nhạy cảm thời đại đã nhen nhóm một ý chí táo bạo. Người không đi sang Nhật như các bậc tiền bối, mà quyết định sang tận nước Pháp – nơi có khẩu hiệu "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" – để xem họ làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào.  Ngày 5/6/1911, với tên gọi Văn Ba, người thanh niên 21 tuổi đã rời bến Nhà Rồng, bắt đầu hành trình gian khổ. Hành trang duy nhất của Người khi đó là tình yêu quê hương đất nước nồng nàn và ý chí sắt đá cứu dân, cứu nước. Sự việc này không chỉ là bước ngoặt cuộc đời của một con người, mà còn là bước ngoặt của cả một dân tộc, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước. Cổng thông tin Thành Phố Hồ Chí Minh +2 Hơn 30 năm bôn ba qua bốn biển năm châu, làm đủ mọi nghề vất vả, Người đã tìm thấy chân lý của thời đại - chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự ra đi năm ấy đã mở ra con đường chân chính, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hình ảnh người thanh niên trẻ tuổi bước lên con tàu, bỏ lại sau lưng quê hương thân yêu, đã trở thành một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong lịch sử Việt Nam. T ạp chí Cộng sản Hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ là bài học lớn về lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường và tầm nhìn xa trông rộng. Thế hệ hôm nay mãi mãi ghi nhớ công ơn, ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Người hằng mong muốn. 

Dân tộc Việt Nam để có được hòa bình như hôm nay đã phải trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến. Trong những cuộc chiến đó, luôn có sự hi sinh của các anh hùng, liệt sĩ. Họ là những chiến sĩ trên chiến trường, nói cách khác là nơi tiền tuyến. Ở hậu phương, trong những năm tháng chiến tranh, cũng có biết bao là sự hi sinh thầm lặng của người phụ nữ. Nhắc đến đây, tôi nghĩ tới nhân vật dì Bảy trong bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà của Huỳnh Như Phương.

Nhân vật Dì Bảy là một người phụ nữ để lại trong tôi nhiều sự thương mến và cảm phục khó nói thành lời. Khi mới 20 tuổi, độ tuổi xuân thì nhất, dì đã được gả đi. Dượng Bảy lại phải đi tập kết và chiến đấu. Vậy là từ ngày cưới, cả hai vợ chồng dì chưa được ở cạnh nhau bao lâu. Họ gặp nhau chỉ qua những cánh thư. 20 năm sau, Dượng Bảy mới có thể nhờ người gửi chiếc nón bài thơ cho dì làm quà và để chứng tỏ tình cảm của mình, để an ủi những người đang chờ mong. Thế nhưng, trước khi chiến tranh kết thúc khoảng mươi ngày, dì Bảy đã chở thành người phụ nữ góa chồng. Vậy là suốt hơn 20 năm chờ đợi, biết bao thương nhớ, biết bao buồn tủi, biết bao là những nỗi lo lắng, bồn chồn, cuối cùng dượng Bảy đã không thể cho dì được một hạnh phúc trọn vẹn. Đến khi nghe tin bản thân trở thành góa phụ, dì Bảy vẫn cứ lầm lũi ngồi bên bậc thềm, nhìn ra xa như trông đợi điều gì. Dì Bảy đã phải hi sinh hạnh phúc cá nhân mình vì nghĩa lớn. Tôi biết, không chỉ có dì Bảy, mà còn có rất nhiều người phụ nữ trên dải đất hình chữ S này cũng chung cảnh ngộ như dì. Họ đều đã hi sinh thầm lặng, cao cả cho cuộc kháng chiến, để đất nước được thống nhất và phát triển. Chúng ta, những thế hệ hôm nay phải biết ơn và làm được điều gì để đền đáp được công ơn đó.

Dì Bảy đã cho tôi hiểu về đức hi sinh của con người. Tôi tin rằng thế hệ tôi và những thế hệ mai sau sẽ đều ghi nhớ công ơn của các thế hệ trước. Nhưng tôi cũng mong sẽ không còn ai phải chịu cảnh ngộ, phải hi sinh như dì Bảy.