hãy viết 1 bài văn về 1 di tích lịch sử nhanh giúp mk nhé
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Trong truyện ngắn "Cải ơi!", nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã phô diễn một nghệ thuật kể chuyện vừa tự nhiên, vừa điêu luyện, mang đậm dấu ấn cá nhân của vùng sông nước Nam Bộ. Điểm sáng đầu tiên nằm ở cách lựa chọn ngôi kể thứ ba khách quan nhưng điểm nhìn trần thuật lại linh hoạt hòa nhập vào thế giới nội tâm của nhân vật, đặc biệt là ông Năm Nhỏ. Nhờ vậy, người đọc dễ dàng thấu cảm sâu sắc nỗi đau xót, sự dằn vặt và tình yêu thương vô bờ bến của người cha đi tìm con suốt mười hai năm ròng rã. Bên cạnh đó, cốt truyện không đi theo trình tự thời gian tuyến tính thông thường mà được kiến tạo bằng kỹ thuật đồng hiện, đan xen giữa hiện tại lưu lạc tại ngã ba Sương và những ký ức bảng lảng về quá khứ ở quê nhà. Cách tổ chức mạch truyện này giúp tác phẩm không bị đơn điệu, đồng thời làm nổi bật bi kịch kéo dài và sự bế tắc của các thân phận nhỏ bé. Nghệ thuật tạo tình huống truyện của Nguyễn Ngọc Tư cũng đầy nghịch lý và giàu giá trị nhân văn: ông Năm Nhỏ chấp nhận đi ăn trộm, chấp nhận bị bêu rếu trên tivi chỉ với một khao khát duy nhất là để con gái nhìn thấy mình. Chi tiết tiếng kêu "Cải ơi!" vang lên nghẹn ngào ở cuối tác phẩm trở thành một nhãn tự nghệ thuật, một nốt lặng đầy ám ảnh xé tâm can người đọc. Thêm vào đó, ngôn ngữ kể chuyện của tác giả là sự hòa quyện tuyệt vời giữa chất phác, mộc mạc của lời ăn tiếng nói Nam Bộ với chất trữ tình, đậm chất thơ. Những từ ngữ địa phương, những câu văn ngắn, nhịp điệu chậm rãi như những dòng sương thu hút người đọc vào bầu không khí u buồn nhưng ấm áp tình người. Có thể nói, nghệ thuật kể chuyện độc đáo, giàu tính khơi gợi đã góp phần quan trọng làm nên sức sống lâu bền cho "Cải ơi!", biến một câu chuyện tìm con bình dị thành một bài ca bất hủ về tình phụ tử và lòng nhân ái.
Bạn tham khảo nhé ạ
Trong cuộc sống, tình yêu thương giữa con người với con người là một điều vô cùng quý giá. Qua truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài, em càng hiểu hơn về ý nghĩa của tình yêu thương, đặc biệt là tình cảm gia đình.
Trong câu chuyện, Thành và Thủy là hai anh em rất yêu thương nhau. Dù bố mẹ chia tay, hai anh em vẫn luôn quan tâm và muốn bảo vệ nhau. Khi phải xa nhau, cả hai đều rất đau khổ. Những tình cảm chân thành ấy khiến em cảm nhận được rằng gia đình luôn là nơi quan trọng đối với mỗi người.
Trong cuộc sống, chúng ta cần biết yêu thương, quan tâm và chia sẻ với những người xung quanh. Đôi khi chỉ một lời hỏi thăm, một hành động giúp đỡ nhỏ cũng có thể khiến người khác cảm thấy ấm áp. Đặc biệt, mỗi người cần biết trân trọng tình cảm gia đình và những người luôn yêu thương mình.
Qua tác phẩm, em hiểu rằng tình yêu thương có thể giúp con người vượt qua khó khăn và làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Vì vậy, chúng ta hãy biết yêu thương và trân trọng những người bên cạnh mình.
Để có bài nói trình bày suy nghĩ về một vấn đề đời sống, bạn cần thực hiện các bước sau:
- Chuẩn bị bài nói:
- Xác định mục đích nói và người nghe.
- Lựa chọn đề tài phù hợp dựa trên tác phẩm văn học đã đọc và trải nghiệm cá nhân.
- Lập dàn ý cho bài nói.
- Trình bày bài nói:
- Mở đầu ấn tượng để thu hút sự chú ý của người nghe.
- Trình bày nội dung chính một cách rõ ràng, mạch lạc.
- Kết thúc bài nói bằng cách khẳng định lại vấn đề và liên hệ với cuộc sống hiện tại.
- Trao đổi sau khi nói:
- Khuyến khích người nghe đặt câu hỏi và thảo luận.
- Lắng nghe ý kiến phản hồi từ người nghe để cải thiện kỹ năng trình bày trong tương lai
Dựa vào chương trình Ngữ văn, người kể chuyện được chia thành 2 loại:
+>Người kể chuyện ngôi thứ nhất: Là người trực tiếp tham gia vào câu chuyện, xưng tôi, mình, kể lại những gì mình chứng kiến hoặc trải qua.
+>Người kể chuyện ngôi thứ ba: Là người giấu mặt, không trực tiếp tham gia câu chuyện nhưng biết hết mọi việc để kể lại một cách khách quan.
Đáp án đúng cho câu hỏi là 2.
*Tham khảo:
Đền Hùng biểu tượng lịch sử của dân tộc Việt Nam, khu di tích lịch sử Đền Hùng là nơi thờ phụng các Vua Hùng những người có công dựng nước từ xa xưa. Giỗ Tổ mồng 10 tháng 3 trở thành ngày lễ trọng đại của dân tộc. Đền Hùng xây dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, hiện nay thuộc Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ. Nơi đây là tập hợp lăng tẩm, miếu, thờ các vua Hùng. Nếu du khách đi từ chân núi sẽ bắt đầu khám phá nơi thấp nhất đó là đền Hạ – nơi đây theo dân gian tương truyền mẹ Âu Cơ đẻ ra bọc trứng, nửa còn lại theo cha số còn lại theo mẹ. Tiếp đến du khách sẽ được khám phá đền Trung địa điểm thường tổ chức các cuộc hội họp bàn các vấn đề quốc gia của vua Hùng thử xưa, qua đền Trung sẽ đến đền Thượng nơi thờ vua Hùng thứ 6 đây chính là vị trí cao nhất. Mỗi năm ngày giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức rất linh đình theo nghi thức quốc gia, Giỗ Tổ bao gồm có 2 phần riêng biệt đó là phần lễ và phần hội. Lễ Rước Kiệu với các đền, chùa trên núi, các vị lãnh đạo của đất nước dâng hương lên vua Hùng tổ chức tại đền Thượng. Các nghi thức tổ chức, dâng hương sẽ được tổ chức long trọng, thành kính và sẽ được báo chí, phát thanh truyền hình đưa tin. Đồng bào trong cả nước được dâng lễ trong các đền, chùa, với sự thành kính và cầu mong yên bình, làm ăn thành công. Bên cạnh đó phải nhắc đến lễ Dâng Hương các đền, chùa trên núi. Lễ hội còn giúp người dân tham gia sinh hoạt văn hoá cổ xưa. Người dân sẽ được xem các trò chơi như đấu vật, chọi gà, rước kiệu, đánh cờ người…. Còn có sân khấu riêng của các đoàn nghệ thuật: chèo, kịch nói, hát quan họ,… Các nghệ sĩ, nghệ nhân từ nhiều nơi về đây để trình diễn những làn điệu hát xoan mượt mà, đặc sắc mang đến cho cho lễ hội đền Hùng đặc trưng riêng của Đất Tổ. Những người đến đây không chỉ là xem lễ hội mà còn thể hiện sự tâm linh, thành kính với quê hương đất Tổ, ai cũng biết đây là nơi gốc gác linh thiêng,cội nguồn của dân tộc. Hàng năm, cứ đến mùng 10 tháng 3, người dân và du khách tham gia trẩy hội đền Hùng, đây là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Lễ hội rất linh thiêng và thể hiện sự biết ơn công lao dựng nước và giữ nước của các vua Hùng.
Việt Nam là một đất nước có bề dày lịch sử hàng nghìn năm văn hiến. Trên khắp dải đất hình chữ S, có biết bao danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng. Một trong những địa danh mang giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc của dân tộc chính là Khu di tích Cố đô Hoa Lư, tọa lạc tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Đây là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam, gắn liền với ba triều đại: Đinh, Tiền Lê và thời kỳ đầu của nhà Lý.
Năm 968, sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt và chọn Hoa Lư làm kinh đô. Nơi đây sở hữu địa hình hiểm trở với hệ thống núi đá vôi trùng điệp như những bức tường thành tự nhiên kiên cố, kết hợp với sông ngòi bao quanh, rất thuận lợi cho việc phòng thủ quân sự. Suốt 42 năm (968 - 1010), Hoa Lư đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình trước khi Vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (Hà Nội ngày nay).Trải qua thăng trầm của thời gian, kinh thành xưa không còn nguyên vẹn, nhưng Cố đô Hoa Lư vẫn lưu giữ được nhiều công trình kiến trúc cổ kính, có giá trị nghệ thuật cao:
Cố đô Hoa Lư không chỉ là một danh thắng, mà còn là chứng tích lịch sử thiêng liêng. Nơi đây khẳng định tinh thần tự chủ, ý chí độc lập độc cường của dân tộc sau hơn một thiên niên kỷ Bắc thuộc. Hằng năm, từ ngày 8 đến ngày 10 tháng Ba âm lịch, Lễ hội Hoa Lư lại được tổ chức trang trọng để tưởng nhớ các vị vua có công với nước, thu hút đông đảo du khách thập phương về dự.
Cố đô Hoa Lư đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt quan trọng và là một phần của Quần thể di sản thế giới Tràng An. Đối với thế hệ học sinh, việc tìm hiểu và ghé thăm Hoa Lư là cơ hội quý báu để bồi đắp lòng tự hào dân tộc và tình yêu quê hương đất nước. Chúng ta cần có ý thức bảo vệ, giữ gìn để di tích lịch sử vô giá này mãi trường tồn với thời gian.