Câu 9. 

Bằng một chuỗi khoảng 5 câu...">

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 9. 

Bằng một chuỗi khoảng 5 câu văn, em hãy trình bày tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong câu văn: “Bọ Ngựa đứng ngẩn mặt. Rồi hai hàng nước mắt rưng rưng. Chú Bọ Ngựa bé con mà hợm mình đã biết hối lỗi.”

Câu 10.

Từ câu chuyện “Võ sĩ Bọ Ngựa” của nhà văn Tô Hoài và những hiểu biết của mình, em hãy nêu một số việc làm của bản thân để rèn luyện đức tính khiêm tốn. (1 điểm)

Bài đọc:

VÕ SĨ BỌ NGỰA

        Bọ Ngựa leo xuống gốc cây, rún cẳng nhảy một bước nhảy ra khỏi bụi hồng, đi từng bước chững chạc trên bãi cỏ. Mỗi khi nhấc chân lên, nó lại giơ hai càng ra đằng trước. Làm điệu múa mênh, gạt đỡ, ra lối ta đây con nhà võ nghệ. Cái mặt thì vênh vác, đưa sang bên nọ, bên kia, để xem có ai nhìn thấy mình đương đi bằng một dáng oai hùng nhất thiên hạ không.

        Đang trịnh trọng đi, bỗng Bọ Ngựa sững lại. Có cái gì đang động đậy trong bụi cỏ trước mặt. Hai cái râu đen thò ra. Thì ra là một chú Châu Chấu Ma đương lừ lừ gặm cỏ. Sau vài câu thăm dò, Bọ Ngựa bổ cho Châu Chấu Ma mấy gươm. Châu Chấu Ma kêu làng nước rầm rĩ. Bọ Ngựa buông Châu Chấu Ma ra, rồi hống hách bảo:

        - Từ hôm nay, ngươi là đồ đệ của ta. Gọi ta là võ sĩ Đại Mã! Rõ chưa?

        Một ngày kia, Bọ Ngựa nghe tiếng đồn Dế Mèn vừa đi du lịch tứ xứ trở về. Danh tiếng nổi như cồn của Dế Mèn khiến cu cậu sốt cả ruột. Cu cậu bèn rủ Châu Chấu Ma và Gián Ông đi du lịch nhưng cả hai đều từ chối, viện cớ không đủ sức theo hầu. Thế là Bọ Ngựa lên đường một mình.

        Đương đi bỗng nghe một tiếng động mạnh trước mặt, cu cậu ngẩng lên, thấy một con quái vật trông gồ gồ như một viên đá, sắc mình đen sì và bóng loáng, chỉ trừ hai cái vạch trắng ở hai bên mắt. Đó là bác Cồ Cộ hay đậu trên những thân cây dừa, cây cau và kêu cồ cộ. Cồ Cộ hỏi:

        - Bọ Ngựa kia, đến đây làm chi?

        Thấy Cồ Cộ căn vặn như thế, Bọ Ngựa liền thách thức:

        - Định đấu gươm với ta chăng?

        Cồ Cộ cười ha hả:

        - Ta không nỡ đánh mi nhưng sẽ làm cho mi mở mắt ra.

        Nói rồi, Cồ Cộ quắp ngang lưng Bọ Ngựa, giương cánh, bay tít lên ngọn dừa gần đó. Bọ Ngựa hoảng hồn, rúm cả hai chân, rúm cả càng, nhắm tít mắt lại. Bốn xung quanh gió thổi vo vo. Cồ Cộ đã ở trên ngọn cây dừa. Nó bảo Bọ Ngựa:

        - Muốn sống, muốn tốt, phải quay về ngay với mẹ.

        Bọ Ngựa được buông xuống đất, chạy biến ngay về cành hồng cũ. 

        Mươi hôm sau, mẹ nó về. Nghe kể chuyện, mẹ nó bảo:

        - Bác Cồ Cộ nể mẹ, thương con nên chỉ dạy dỗ để con mở mắt ra thôi. Ngày mai, mẹ sẽ dẫn con đến nhà bác để xin lỗi.

        Nghe mẹ nói, Bọ Ngựa đứng ngẩn mặt. Rồi hai hàng nước mắt rưng rưng. Chú Bọ Ngựa bé con mà hợm mình đã biết hối lỗi.

(Trích “Võ sĩ Bọ Ngựa”, Tô Hoài)

12

Liên hệ trợ giúp


Tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong đoạn trên có tác dụng:

Làm cho hình ảnh chú bọ ngựa sinh động,gần gũi như một đứa trẻ.

Nhấn mạnh sự thay đổi của bọ ngựa từ một kẻ kiêu ngạo ,chú đã biết hối lỗi về lỗi lầm của mình.

Ngoài ra còn thể hiện sự giáo dục giúp câu chuyện sinh động gợi cảm .

Gửi gắm bài học phải biết khiêm tốn,thật thà và dũng cảm       

Bài 10:  những việc làm của em về lòng khiêm tốn :không khoe khoang về thành tích học tập của mình.

Biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến,thừa nhận sai sót,luôn biết học hỏi.

Và đặc biệt phải biết cư xử hòa nhã ,tôn trọng người khác 

Bài 9:

- Biện pháp nhân hóa khiến cho câu văn trở nên sống động và gần gũi

Bài 10:

Để rèn luyện đức tính khiêm tốn, thì em sẽ lắng nghe và không khoe khoang tự nhận lỗi sai của mình


9 tháng 3

Câu 9.

Biện pháp nhân hóa qua các chi tiết “ngẩn mặt”, “nước mắt rưng rưng” và “hối lỗi” đã biến chú bọ ngựa thành một nhân vật có đời sống nội tâm phong phú như con người. Việc gán cho loài vật những cảm xúc phức tạp giúp hình ảnh bọ ngựa trở nên gần gũi, sinh động và dễ dàng khơi gợi sự đồng cảm nơi người đọc. Qua đó, tác giả không chỉ miêu tả một hành động mà còn khắc họa rõ nét sự thức tỉnh và lòng ăn năn hối cải chân thành của nhân vật. Biện pháp này giúp câu văn tăng sức biểu cảm, làm cho bài học về sự hướng thiện trở nên nhẹ nhàng nhưng đầy sức thuyết phục. Nhờ nhân hóa, thế giới loài vật hiện lên như một tấm gương phản chiếu đạo đức và tình cảm của con người, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.

Câu 10

Từ câu chuyện về bài học đích đáng của "võ sĩ" Bọ Ngựa trong tác phẩm của nhà văn Tô Hoài, em rút ra được rằng sự kiêu ngạo chỉ dẫn đến sai lầm và hối tiếc. Để rèn luyện đức tính khiêm tốn cho bản thân, em sẽ thực hiện các việc làm sau:

●Luôn lắng nghe và học hỏi: Thay vì tự mãn với những gì mình biết, em sẽ chủ động lắng nghe ý kiến đóng góp từ thầy cô, bạn bè để hoàn thiện những thiếu sót của bản thân. ●Không khoe khoang thành tích: Em sẽ giữ thái độ bình tĩnh trước những thành công, xem đó là động lực để cố gắng hơn nữa thay vì coi thường hay hạ thấp người khác. ●Biết nhận lỗi và sửa lỗi: Khi mắc sai lầm, em sẽ dũng cảm đối diện và nhận trách nhiệm giống như chú bọ ngựa đã biết "hối lỗi", từ đó rút ra bài học để không lặp lại. ●Tôn trọng sự khác biệt: Em sẽ nhìn nhận và trân trọng điểm mạnh của mọi người xung quanh, hiểu rằng mỗi cá nhân đều có những giá trị riêng đáng để mình nể phục. ●Sống giản dị và hòa đồng: Luôn giữ thái độ lễ phép, chân thành trong giao tiếp, không tự cao tự đại để xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp và bền vững.

Câu 10: đừng kiêu ngạo

a la cha ca la ba củ cải lang thang

14 tháng 3

Câu 9:

Trong câu văn: "Bọ Ngựa đứng ngần mặt. Rồi hai hàng nước mắt rưng rưng. Chú Bọ Ngựa bé con mà hợm mình đã biết hối lỗi.", biện pháp nhân hóa được sử dụng qua các từ ngữ chỉ hành động, tâm trạng của con người như: đứng ngần mặt, nước mắt rưng rưng, hối lỗi.

Câu10:

Từ câu chuyện về sự hợm hĩnh ban đầu và sự hối lỗi sau này của "Võ sĩ Bọ Ngựa", em có thể rút ra một số việc làm cụ thể để rèn luyện đức tính khiêm tốn cho bản thân như sau: Luôn lắng nghe và học hỏi: Biết lắng nghe ý kiến góp ý của thầy cô, cha mẹ và bạn bè thay vì luôn cho rằng mình đúng.Không khoe khoang thành tích: Khi đạt được kết quả cao trong học tập hay cuộc sống, không nên tự mãn hay xem thường người khác mà cần tiếp tục cố gắng.Thừa nhận khuyết điểm: Dũng cảm nhận lỗi khi làm sai và quyết tâm sửa đổi, giống như cách Bọ Ngựa đã biết hối lỗi khi được mẹ chỉ dạy.Tôn trọng mọi người xung quanh: Nhận ra rằng mỗi người đều có thế mạnh riêng để tôn trọng và học tập, không "vênh vác" hay coi thường những người có vẻ ngoài yếu thế hơn mình.Sống chan hòa, giản dị: Xây dựng mối quan hệ thân thiện với bạn bè, sẵn sàng giúp đỡ mọi người mà không cần phô trương.

bài 9:

Tác dụng:Làm cho thế giới loài vật trở nên sinh động, gần gũi: Những hành động và cảm xúc vốn chỉ có ở con người như "ngẩn mặt", "nước mắt rưng rưng", "biết hối lỗi" khiến hình ảnh chú Bọ Ngựa hiện lên sống động, có tâm hồn và chiều sâu cảm xúc.

Nhấn mạnh sự thay đổi nội tâm: Biện pháp này giúp người đọc hình dung rõ nét sự chuyển biến từ một kẻ kiêu ngạo, hợm mình sang trạng thái thức tỉnh, nhận ra lỗi lầm và biết ăn năn.

Gửi gắm bài học nhân sinh: Qua hình ảnh nhân hóa, tác giả khéo léo giáo dục bài học về sự khiêm tốn và lòng dũng cảm khi đối diện với sai lầm của chính mình, giúp câu văn giàu sức biểu cảm và có sức thuyết phục hơn đối với bạn đọc nhỏ tuổi.

Bài 10 :Biết lắng nghe và học hỏi: Luôn giữ thái độ cầu thị, sẵn sàng lắng nghe ý kiến đóng góp từ thầy cô, bạn bè và mọi người xung quanh để hoàn thiện bản thân, không cho rằng mình là nhất.

Không khoe khoang thành tích: Khi đạt được kết quả tốt trong học tập hay cuộc sống, cần giữ thái độ đúng mực, coi đó là động lực để cố gắng hơn thay vì kiêu ngạo hay xem thường những người chưa may mắn bằng mình.

Thừa nhận khuyết điểm: Dũng cảm nhìn nhận những thiếu sót của bản thân và sửa đổi, giống như chú Bọ Ngựa đã biết hối lỗi ở cuối truyện

Tôn trọng mọi người: Luôn đối xử tử tế, lễ phép và trân trọng khả năng riêng biệt của mỗi cá nhân, không bao giờ có thái độ hống hách hay "vênh vác" trước người khác.

19 tháng 3

Câu 9: Phép nhân hóa qua các từ ngữ chỉ hành động, tâm trạng của con người như “ngẩn mặt”, “nước mắt rưng rưng”, “hối lỗi” đã khiến hình ảnh chú Bọ Ngựa trở nên vô cùng sống động và gần gũi. Nhờ biện pháp này, Bọ Ngựa không còn là một loài côn trùng vô tri mà hiện lên như một đứa trẻ có thế giới nội tâm phong phú, biết nhận ra sai lầm của bản thân.

Cách viết này giúp người đọc dễ dàng đồng cảm với sự chuyển biến tâm lý từ kiêu ngạo sang biết ăn năn của nhân vật. Đồng thời, nó làm cho lời văn thêm sinh động, hấp dẫn và tăng sức biểu cảm cho câu chuyện. Qua đó, tác giả cũng khéo léo gửi gắm bài học về sự thức tỉnh và lòng tự trọng một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc.

Câu 10:Luôn lắng nghe và học hỏi: Biết lắng nghe ý kiến góp ý của người khác với thái độ cầu thị, không tự mãn cho rằng mình luôn đúng hoặc giỏi nhất.

30 tháng 3

EM không biết làm

22 tháng 5

Câu 9

Trong đoạn văn trên, biện pháp tu từ nhân hóa đã biến chú Bọ Ngựa trở nên vô cùng sinh động và có tâm hồn giống như một con người. Qua các hành động, cảm xúc như "ngẩn mặt", "nước mắt rưng rưng" và "biết hối lỗi", người đọc dễ dàng cảm nhận được sự thay đổi tâm lý sâu sắc của nhân vật. Cách viết này không chỉ làm cho lời văn thêm phần gợi hình, gợi cảm mà còn khắc họa rõ nét sự ăn hận, thức tỉnh sau những chuỗi hành vi kiêu ngạo trước đó. Từ một kẻ hợm hĩnh, Bọ Ngựa giờ đây đã biết xúc động, nhìn nhận lại sai lầm và dũng cảm đối diện với chính mình. Qua đó, tác giả đã khéo léo gửi gắm bài học giáo dục sâu sắc về lòng trắc ẩn và giá trị của việc biết nhận sai để sửa đổi.

Câu 10

Để rèn luyện đức tính khiêm tốn, bản thân em cần thực hiện những việc làm cụ thể sau:
  • Lắng nghe: Tích cực tiếp thu ý kiến góp ý từ thầy cô, cha mẹ và bạn bè.
  • Không kiêu ngạo: Tuyệt đối không khoe khoang hay tự cao về thành tích của mình.
  • Học hỏi: Luôn công nhận và tìm kiếm những điểm tốt của người khác để noi theo.
  • Tôn trọng: Cư xử hòa nhã, lễ phép với mọi người xung quanh trong mọi tình huống.
  • Tự nhận thức: Thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm cá nhân để không ngừng sửa đổi, tiến bộ.


19 tháng 2 2023

Mẫu cho bạn:

- Giới thiệu tác phẩm và dẫn vào câu văn.

- Giá trị BPTT nhân hóa: "bé con mà hợm mình đã biết hối lỗi".

+ Tác dụng:

-> Miêu tả con vật nói đến "bọ ngựa" sinh động và gần gũi, có cảm xúc hơn với người đọc.

-> làm cho câu văn trở nên hay hơn về nội dung lẫn hình thức.

- Đánh giá:

+ Nhà văn Tô Hoài đã đưa bptt nhân hóa vào văn của mình một cách tự nhiên làm cho độc giả đọc văn thấy thích thú và hấp dẫn hơn.

+ Chú bọ ngựa sau khi được nhân hóa liền trở nên giống với một cậu bé hợm mình nhưng đã biết ăn năn hối lỗi.

- Kết luận lại: BPTT nhân hóa là điểm ấn nổi bật nhất trong tác phẩm, làm cho từng câu chữ có hồn và có cảm xúc hơn.

Võ sĩ Bọ Ngựa (Trích- Tô Hoài)Hôm sau Bọ Ngựa đương lủi thủi, khật khưỡng – không vui vẻ như bữa đầu nữa –thì bỗng nghe một tiếng động trước mặt. Gã đứng lại, ngẩng đầu lên, nom thấy mộtcon vật lạ chưa trông thấy bao giờ.Quái vật to gồ gồ như một viên đá. Sắc mình đen sì và bóng loáng. Cả đôi râu cũngđen. Chỉ trừ hai cái vạch trắng hai bên mắt. Mới thoạt trông không...
Đọc tiếp

Võ sĩ Bọ Ngựa (Trích- Tô Hoài)

Hôm sau Bọ Ngựa đương lủi thủi, khật khưỡng – không vui vẻ như bữa đầu nữa –
thì bỗng nghe một tiếng động trước mặt. Gã đứng lại, ngẩng đầu lên, nom thấy một
con vật lạ chưa trông thấy bao giờ.
Quái vật to gồ gồ như một viên đá. Sắc mình đen sì và bóng loáng. Cả đôi râu cũng
đen. Chỉ trừ hai cái vạch trắng hai bên mắt. Mới thoạt trông không có thể đoán biết
được đầu đuôi nó đằng nào. Bởi chỗ nào cũng tròn múp míp, chỗ nào cũng nhẵn thín.
Nhất là dưới mắt Bọ Ngựa ta, thì càng lạ lùng hơn nữa. Từ thuở bé, Bọ Ngựa chưa
được trông thấy một con vật kì quái đến nhường ấy. Song thực đó chỉ là một cu cậu
thường hay đậu trên thân những cây dừa, cây cau và có tiếng kêu cồ cộ… cồ cộ. Tiếng
kêu ấy thành tên là Cồ Cộ. Hai mắt đen nhánh lẫn vào trong làn vỏ đen thẫm, nhưng
đôi mắt thực tinh. Bọ Ngựa mới sột soạt đi đến, mà Cồ Cộ đã trông thấy ngay. Cồ Cộ
hỏi:
- Tên kia, đến đây làm chi?
Bọ Ngựa cố gắng cứng cỏi:
- Ta là Đại Mã! Võ sĩ Đại Mã. Ta đi…
Cồ Cộ ngạc nhiên:
- Tên mi là Đại Mã? Lại là võ sĩ nữa?
Bọ Ngựa vênh mặt:
- Phải đó, ngươi đã nghe đại danh ta rồi ư?
Cồ Cộ cười:
- Thằng oắt tì! Tên mi là Bọ Ngựa chứ? Mà mi sao dám đặt hai chữ võ sĩ lên trước tên?
Không sợ bị đánh cho gãy cổ hả?
- Mỗi chốc, ai đánh nổi ta, ta là võ…
Cồ Cộ cả cười:
- Ta sẽ vặn gãy cổ mi. Nhưng này, võ sĩ Đại Mã oắt con ơi! Trước khi đánh nhau với
võ sĩ, ta hỏi võ sĩ một điều: Võ sĩ định đi đâu đó?
- Ta đi du lịch phiêu lưu, con đường của Dế Mèn.
- Ái chà! Hăng nhỉ. Bắt chước ông Dế Mèn! Đi được bao nhiêu lâu rồi?
- Đã qua biết bao nhiêu rừng núi, không thể nhớ xiết được.
Thấy Cồ Cộ cứ hỏi căn hỏi vặn, Bọ Ngựa đồ ngay Cồ Cộ cũng hạng xoàng, liền nổi
máu hăng, thách:
- Làm sao ngươi lại được hỏi căn vặn ta? Định đấu gươm với ta chăng?
Cồ Cộ cười ha hả:

- Ta đã bảo rồi ta sẽ đánh mi mà, đừng vội. Nhưng bây giờ thì ta lại thương mi mà
không muốn đánh mi nữa.
- Nếu thế, đồ hèn!
- … Nhưng ta sẽ làm cho mi mở mắt ra, rồi muốn sống, muốn tốt thì quay ngay về với
mẹ.
Nói rồi Cồ Cộ quắp lấy lưng Bọ Ngựa, giương cánh ra, bay tít lên ngọn cây dừa gần
đó. Bọ Ngựa hoảng hốt quá, rúm cả chân, rúm cả càng và nhắm tịt mắt lại. Bốn bên
xung quanh gió thổi vo vo. Cồ Cộ đỗ trên ngọn cây dừa và bảo Bọ Ngựa rằng:
- Mi đã mở mắt ra chưa? Nếu mở mắt rồi, hãy cùng ta nhìn xuống dưới kia. Mi đi bấy
nhiêu ngày đường, lặn lội qua bao nhiêu đèo, bao nhiêu suối, vậy mà không bằng ta
chỉ vỗ cánh mấy cái, bay lên cao, đã có thể trông thấy quê hương của mi. Cái sự khó
nhọc của mi đối với ta, chỉ là hạt bụi, hạt tấm. Đã hiểu như thế chưa? Và mi lại nên
biết thêm rằng ở trên đời này, không thiếu gì kẻ còn giỏi hơn ta bao nhiêu lần nữa.
Sau đó, chú Bọ Ngựa được Cồ Cộ đưa trả xuống đất. Bọ Ngựa chạy biến ngay về,
không dám ngoảnh cổ lại nữa.
Bọ Ngựa về đến cành hồng, mẹ vẫn chưa về. Nó nằm bẹp trên cây, không dám lởn vởn
đi đâu nữa. Bởi vẫn chưa tan cơn sợ.
Được mươi hôm thì mẹ trở về. Nó mừng rỡ nhãy cỡn lên ôm lấy mẹ. Từ đấy, hai mẹ
con lại sống với nhau đề huề. Mẹ nó đưa nó đi đến một chỗ ở mới kín đáo, ấm áp hơn.
Những lương thực mà bà lão đêm bên kia sông về cũng thừa đủ cho hai mẹ con ăn hết
một mùa đông giá rét.
Một hôm, trời có nắng. Nắng mùa đông ấm áp, dịu dàng làm sao. Hai mẹ con ra hong
cánh dưới ánh mặt trời. Trong lúc vui chuyện Bọ Ngựa con kể với mẹ:
- Mẹ ơi! Độ nọ mẹ sang bên kia sông rồi, ở nhà con đã làm được nhiều điều ghê lắm.
- Con thử kể cho mẹ nghe những ghê gớm ấy đến thế nào?
- Con đánh thằng Châu Chấu Ma ở đằng kia. Nó phải nhận con là thầy nó.
Bà Bọ Ngựa mỉm cười:
- Tưởng là con đánh ai. Châu Chấu Ma con chẳng phải đánh, nó vẫn sợ như thường.
Con đã làm một việc thừa, mà lại ác nữa.
Chú Bọ Ngựa tiu nghỉu. Rồi chú tiếp:
- Con lại cho cả Gián Ống một trận.
Bà Bọ Ngựa cười to:
- Tưởng ai, cái thằng Gián Ống lúc nào cũng sợ, ai cũng sợ. Con lại làm một việc thừa,
mà lại độc ác nữa.
Chú Bọ Ngựa tiu nghỉu hơn, và chú không khoe thêm gì nữa. Chú im lặng, nhìn ánh
nắng rung rinh trong lá cây.
Nhưng bà lão Bọ Ngựa đã nói tiếp:
- Và con sang đánh nhau cả với Bọ Muỗm, con bắt mụ ấy gọi con là võ sĩ Đại Mã. Mụ
ấy nện cho con một trận mê tơi. Con phải bỏ chạy về. Nhưng con cũng không chừa
được cái thói khoác lác. Cho nên, khi con nghe tiếng đồn có ông Dế Mèn đi phiêu lưu

thì con cũng tập tọng đi. Con đã quên cả lời mẹ dặn. Con đi, con gặp bác Cồ Cộ, con
dọa dẫm cả bác ta. Bác ta liền túm cổ con, bay lên ngọn cây dừa. Đến đây con mới thực
là sợ, biết chừa thói ngông cuồng và con mới thực hiểu rằng đường đời mỗi bước một
khó. Con chạy trở về. Phải kể đến đây mới là hết những chuyện mà con đã làm trong
khi vắng mẹ. Có phải thế chăng? Con ơi! Bác Bọ Muỗm chỉ cho con một cái đá hậu,
là con thủng bụng. Bác Cồ Cộ chỉ buông con từ ngọn cây cho rơi xuống, là con đủ tan
xương. Các bác ấy đã thương con đấy.
Trong khi bà lão Bọ Ngựa nói, chú Bọ Ngựa cứ ngẩn mặt. Rồi hai hàng nước mắt rung
rung. À, chú Bọ Ngựa hợm mình đã biết hối rồi./
* Câu hỏi
1. Truyện kể theo ngôi thứ mấy? Ai là nhân vật chính?
2. Chỉ ra đoạn văn có yếu tố miêu tả? Yếu tố miêu tả ấy có tác dụng gì trong khi kể
chuyện?
3. Thái độ của Bọ Ngựa khi lần đầu gặp bác Cồ Cộ như thế nào? Vì sao Bọ Ngựa
phải “cố gắng cứng cỏi”?
4. Bọ Ngựa có nét tính cách đẹp nào ? Còn có những biểu hiện và suy nghĩ nào cần
điều chỉnh để không gây rắc rối, để an toàn cho bản thân ?
5. Bọ Ngựa đã nhận ra những bài học nào từ Cồ Cộ, từ lời của mẹ ? Và em rút ra bài
học gì cho chính mình khi đọc xong truyện này?
Giups mình nha!!!

 

0
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:HƯƠNG HOA HOÀNG LAN Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

HƯƠNG HOA HOÀNG LAN

Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn cây hoàng lan, nó như một cậu anh cả trong vườn, to lớn, vững chắc…

– Bà ơi, cây hoàng lan này có lâu chưa bà?

Bà cười, tay bà vẫn cẩn thận gài những nhành cây nhót phủ đầy hoa trắng ngà vào hàng rào:

– Nó có từ lâu lắm, hồi bằng các cháu, bà đã thấy nó to và cao như thế này rồi. Bao năm trôi qua, cứ tưởng nó sẽ già đi, nhưng không, mỗi mùa xuân tới nó lại trẻ trung như hồi nào.

– Bà ơi, thế bà có biết ai trồng nó không hả bà? Bà lắc đầu:

– Hồi trước, bà cũng hỏi như cháu ấy, nhưng chẳng ai biết.

Hà đến bên cây hoàng lan, thân nó mốc thếch và nứt nẻ. Những chú kiến đen hối hả leo cây. Từ trên cành cây cao, đôi chim sâu chuyền cành tíu tít.

– Cháu biết không, cứ mỗi dịp cây hoàng lan ra hoa thì cả vùng này thơm nức…

– Bà ơi, bên kia sông có ngửi thấy hương của cây hoàng lan này không? – Hà tò mò hỏi.

– Có chứ! Hương hoa lan còn bay xa hơn nữa cháu ạ.

– Xa nữa cơ ạ? Con sông rộng thế mà gió cũng đưa nó qua sông được bà nhỉ…

Bà dừng tay, đôi mắt nhìn xa xôi:

– Hồi ông đi bộ đội, thư nào về ông cũng hỏi cây hoàng lan. Ông nhớ nó lắm. Rồi ông bảo bà gửi cho ông mấy cánh hoa vàng của cây hoàng lan này.

– Bà có gửi cho ông không? – Hà chăm chú. Bà gật đầu rồi dắt Hà vào nhà. Bà lần mở cái rương mây nhỏ trên đầu giường và lấy ra mấy cánh hoa đã héo quắt queo và đen sẫm lại.

– Những cánh hoa này đấy cháu ạ. Các chiến sĩ trong đơn vị đã tìm thấy nó ở dưới đáy ba lô của ông… Hà run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà. Cô bé ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ. Hà thấy bà cũng nhìn theo… Bây giờ thì cô bé đã hiểu vì sao bà yêu quý cây hoàng lan và mảnh vườn này đến thế. Những cánh hoa hoàng lan đã đen sậm trên tay Hà như vẫn còn phảng phất hương thơm.

(Hương hoa hoàng lan, Nguyễn Phan Khuê, NXB Kim Đồng)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. (0.5 điểm) Theo câu chuyện trên, ai là người trồng cây hoàng lan?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nhân hoá được sử dụng trong câu sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó:

     Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà.

Câu 4. (1.0 điểm) Theo em, vì sao Hà “run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà” và “ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ”?

Câu 5. (1.0 điểm) Từ câu chuyện về cây hoàng lan, em hãy viết một đoạn văn khoảng 3 –5 câu trình bày suy nghĩ của em về vai trò của gia đình đối với cuộc sống của mỗi người.

69
27 tháng 10 2025

gia đình là chụ cột tinh thần của chúng ta và cũng là nơi sưởi ấm trái tim ta

5 tháng 11 2025

manager là gì


VÕ SĨ BỌ NGỰA“Hôm sau, Bọ Ngựa đương lủi thủi, khật khưỡng – không vui vẻ như bữa đầu nữa – thì bỗng nghe một tiếng động trước mặt. Gã đứng lại, ngẩng đầu lên, nom thấy một con vật lạ chưa trông thấy bao giờ.Quái vật to gồ gồ như một viên đá. Sắc mình đen sì và bóng loáng. Cả đôi râu cũng đen. Chỉ trừ hai cái vạch trắng hai bên mắt. Mới thoạt trông không có thể...
Đọc tiếp

VÕ SĨ BỌ NGỰA

“Hôm sau, Bọ Ngựa đương lủi thủi, khật khưỡng – không vui vẻ như bữa đầu nữa – thì bỗng nghe một tiếng động trước mặt. Gã đứng lại, ngẩng đầu lên, nom thấy một con vật lạ chưa trông thấy bao giờ.

Quái vật to gồ gồ như một viên đá. Sắc mình đen sì và bóng loáng. Cả đôi râu cũng đen. Chỉ trừ hai cái vạch trắng hai bên mắt. Mới thoạt trông không có thể đoán biết được đầu đuôi nó đằng nào. Bởi chỗ nào cũng tròn múp míp, chỗ nào cũng nhẵn thín. Nhất là dưới mắt Bọ Ngựa ta, thì càng lạ lùng hơn nữa. Từ thuở bé, Bọ Ngựa chưa được trông thấy một con vật kì quái đến nhường ấy. Song thực đó chỉ là một cu cậu thường hay đậu trên thân những cây dừa, cây cau và có tiếng kêu cồ cộ… cồ cộ. Tiếng kêu ấy thành tên là Cồ Cộ. Hai mắt đen nhánh lẫn vào trong làn vỏ đen thẫm, nhưng đôi mắt thực tinh. Bọ Ngựa mới sột soạt đi đến, mà Cồ Cộ đã trông thấy ngay. Cồ Cộ hỏi:

- Tên kia, đến đây làm chi?

Bọ Ngựa cố gắng cứng cỏi:

- Ta là Đại Mã! Võ sĩ Đại Mã. Ta đi…

Cồ Cộ ngạc nhiên:

- Tên mi là Đại Mã? Lại là võ sĩ nữa?

Bọ Ngựa vênh mặt:

- Phải đó, ngươi đã nghe đại danh ta rồi ư?

Cồ Cộ cười:

- Thằng oắt tì! Tên mi là Bọ Ngựa chứ? Mà mi sao dám đặt hai chữ võ sĩ lên trước tên? Không sợ bị đánh cho gãy cổ hả?

- Mỗi chốc, ai đánh nổi ta, ta là võ…

Cồ Cộ cả cười:

- Ta sẽ vặn gãy cổ mi. Nhưng này, võ sĩ Đại Mã oắt con ơi! Trước khi đánh nhau với võ sĩ, ta hỏi võ sĩ một điều: Võ sĩ định đi đâu đó?

- Ta đi du lịch phiêu lưu, con đường của Dế Mèn.

- Ái chà! Hăng nhỉ. Bắt chước ông Dế Mèn! Đi được bao nhiêu lâu rồi?

- Đã qua biết bao nhiêu rừng núi, không thể nhớ xiết được.

Thấy Cồ Cộ cứ hỏi căn hỏi vặn, Bọ Ngựa đồ ngay Cồ Cộ cũng hạng xoàng, liền nổi máu hăng, thách:

- Làm sao ngươi lại được hỏi căn vặn ta? Định đấu gươm với ta chăng?

Cồ Cộ cười ha hả:

- Ta đã bảo rồi ta sẽ đánh mi mà, đừng vội. Nhưng bây giờ thì ta lại thương mi mà không muốn đánh mi nữa.

- Nếu thế, đồ hèn!

- … Nhưng ta sẽ làm cho mi mở mắt ra, rồi muốn sống, muốn tốt thì quay ngay về với mẹ.

Nói rồi Cồ Cộ quắp lấy lưng Bọ Ngựa, giương cánh ra, bay tít lên ngọn cây dừa gần đó. Bọ Ngựa hoảng hốt quá, rúm cả chân, rúm cả càng và nhắm tịt mắt lại. Bốn bên xung quanh gió thổi vo vo. Cồ Cộ đỗ trên ngọn cây dừa và bảo Bọ Ngựa rằng:

- Mi đã mở mắt ra chưa? Nếu mở mắt rồi, hãy cùng ta nhìn xuống dưới kia. Mi đi bấy nhiêu ngày đường, lặn lội qua bao nhiêu đèo, bao nhiêu suối, vậy mà không bằng ta chỉ vỗ cánh mấy cái, bay lên cao, đã có thể trông thấy quê hương của mi. Cái sự khó nhọc của mi đối với ta, chỉ là hạt bụi, hạt tấm. Đã hiểu như thế chưa? Và mi lại nên biết thêm rằng ở trên đời này, không thiếu gì kẻ còn giỏi hơn ta bao nhiêu lần nữa.

Sau đó, chú Bọ Ngựa được Cồ Cộ đưa trả xuống đất. Bọ Ngựa chạy biến ngay về, không dám ngoảnh cổ lại nữa.

Bọ Ngựa về đến cành hồng, mẹ vẫn chưa về. Nó nằm bẹp trên cây, không dám lởn vởn đi đâu nữa. Bởi vẫn chưa tan cơn sợ.

Được mươi hôm thì mẹ trở về. Nó mừng rỡ nhãy cỡn lên ôm lấy mẹ. Từ đấy, hai mẹ con lại sống với nhau đề huề. Mẹ nó đưa nó đi đến một chỗ ở mới kín đáo, ấm áp hơn. Những lương thực mà bà lão đêm bên kia sông về cũng thừa đủ cho hai mẹ con ăn hết một mùa đông giá rét.

Một hôm, trời có nắng. Nắng mùa đông ấm áp, dịu dàng làm sao. Hai mẹ con ra hong cánh dưới ánh mặt trời. Trong lúc vui chuyện Bọ Ngựa con kể với mẹ:

- Mẹ ơi! Độ nọ mẹ sang bên kia sông rồi, ở nhà con đã làm được nhiều điều ghê lắm.

- Con thử kể cho mẹ nghe những ghê gớm ấy đến thế nào?

- Con đánh thằng Châu Chấu Ma ở đằng kia. Nó phải nhận con là thầy nó.

Bà Bọ Ngựa mỉm cười:

- Tưởng là con đánh ai. Châu Chấu Ma con chẳng phải đánh, nó vẫn sợ như thường. Con đã làm một việc thừa, mà lại ác nữa.

Chú Bọ Ngựa tiu nghỉu. Rồi chú tiếp:

- Con lại cho cả Gián Ống một trận.

Bà Bọ Ngựa cười to:

- Tưởng ai, cái thằng Gián Ống lúc nào cũng sợ, ai cũng sợ. Con lại làm một việc thừa, mà lại độc ác nữa.

Chú Bọ Ngựa tiu nghỉu hơn, và chú không khoe thêm gì nữa. Chú im lặng, nhìn ánh nắng rung rinh trong lá cây.

Nhưng bà lão Bọ Ngựa đã nói tiếp:

- Và con sang đánh nhau cả với Bọ Muỗm, con bắt mụ ấy gọi con là võ sĩ Đại Mã. Mụ ấy nện cho con một trận mê tơi. Con phải bỏ chạy về. Nhưng con cũng không chừa được cái thói khoác lác. Cho nên, khi con nghe tiếng đồn có ông Dế Mèn đi phiêu lưu thì con cũng tập tọng đi. Con đã quên cả lời mẹ dặn. Con đi, con gặp bác Cồ Cộ, con dọa dẫm cả bác ta. Bác ta liền túm cổ con, bay lên ngọn cây dừa. Đến đây con mới thực là sợ, biết chừa thói ngông cuồng và con mới thực hiểu rằng đường đời mỗi bước một khó. Con chạy trở về. Phải kể đến đây mới là hết những chuyện mà con đã làm trong khi vắng mẹ. Có phải thế chăng? Con ơi! Bác Bọ Muỗm chỉ cho con một cái đá hậu, là con thủng bụng. Bác Cồ Cộ chỉ buông con từ ngọn cây cho rơi xuống, là con đủ tan xương. Các bác ấy đã thương con đấy.

Trong khi bà lão Bọ Ngựa nói, chú Bọ Ngựa cứ ngẩn mặt. Rồi hai hàng nước mắt rung rung. À, chú Bọ Ngựa hợm mình đã biết hối rồi.”

(Trích Võ sĩ Bọ Ngựa - Tô Hoài)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. Nêu những nét chính về thể loại đó.

Câu 2. Theo em, người kể chuyện trong văn bản trên là ai? Từ đó, cho biết truyện được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 3. Xác định nhân vật chính trong truyện?

Câu 4. Thái độ của Bọ Ngựa khi lần đầu gặp bác Cồ Cộ như thế nào? Vì sao Bọ Ngựa phải“cố gắng cứng cỏi”?

Câu 5. Bọ Ngựa có nét tính cách đẹp nào? Còn có những biểu hiện và suy nghĩ nào cần điều chỉnh để không gây rắc rối, để an toàn cho bản thân?

1
25 tháng 11 2021

2. Người kể chuyện không được nhắc đến. Chuyện được kể theo ngôi thứ ba.

3. Nhân vật chính là Bọ Ngựa.

4. Khi gặp bác Cồ Cộ, Bọ Ngựa cảm thấy lạ lùng.

5. Bọ Ngựa biết hối hận với lỗi lầm của bản thân, còn phải sửa thói khoác lác, ngông cuồng.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:CON VẸT NGHÈO Hằng năm, mỗi khi mùa xuân về, các giống chim và thú vật lại rủ nhau tới rừng mở hội. Nào Voi, Gấu, Hổ, Lợn Lòi… trổ tài thi khoẻ. Nào Khỉ, Vượn, Sóc… đua nhau leo trèo. Còn các giống chim khác thì thi giọng hát. Trong bầy chim muôn hình ngàn vẻ kia, có chú Vẹt áo đen. Chú ta cũng khấp khởi đi thi. Gặp ai, nó cũng khoe mình có...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

CON VẸT NGHÈO

Hằng năm, mỗi khi mùa xuân về, các giống chim và thú vật lại rủ nhau tới rừng mở hội. Nào Voi, Gấu, Hổ, Lợn Lòi… trổ tài thi khoẻ. Nào Khỉ, Vượn, Sóc… đua nhau leo trèo. Còn các giống chim khác thì thi giọng hát.

Trong bầy chim muôn hình ngàn vẻ kia, có chú Vẹt áo đen. Chú ta cũng khấp khởi đi thi. Gặp ai, nó cũng khoe mình có rất nhiều giọng hót. Nhìn thấy Vượn, nó hú tiếng Vượn. Nhác thấy Ếch bì bộp nhảy ra, nó cũng hé mỏ “ộp ộp” luôn. Trên đường đi, gặp Hoạ Mi đang cố luyện giọng, Vẹt tỏ vẻ thương hại. Nó nghĩ: “Việc gì mà phải hót lên hót xuống mãi thế?”. Gặp Sáo líu lo khúc hát đồng quê, Vẹt không thèm lắng nghe. Cậy mình biết hót nhiều giọng còn tuyệt vời hơn thế, nên nó huênh hoang lắm. Gặp ai, nó cũng khoe trước:

– Kì thi này, tôi chiếm giải nhất cho mà xem!

Vào cuộc thi, tất cả đều rất vui và cũng rất lo. Sẽ có và đang có ở đây biết bao nhiêu tài năng, chưa thể rõ ai xuất sắc nhất. Bởi thế, loài chim nào cũng yên lặng đợi chờ. Chỉ có Vẹt là cứ lăng xăng, chạy chỗ nọ chỗ kia, làm như mình sắp đoạt giải đến nơi.

Đã tới giờ thi tài. Giám khảo Chim Khuyên và Ếch mời các bạn trong rừng hãy hăng hái ghi tên biểu diễn. Trong lúc chờ đợi xem ai ra trước, Vẹt nhấp nhổm nhưng chưa dám xung phong. Bỗng nghe “quạc quạc”, Vẹt quay lại. A, Vịt à? Vịt ra trước à? Thấy vậy, Vẹt ta liền nhảy vào hót lên một chuỗi âm thanh líu ríu. Chim Khuyên nhấc bút định chấm cho Vẹt tám điểm, thì Liếu Điếu kêu:

– Đấy là tiếng hót của tôi!

Ban giám khảo bảo Vẹt hót lại. Vẹt liền đập cánh, vươn cổ gáy một hơi dài. Gà Trống lên tiếng:

– Đấy là tiếng hót của tôi!

Vẹt tức mình, huýt một hồi lanh lảnh. Chích Choè đứng bên cạnh nhận ngay đấy là giọng hót của Chích Choè.

Giám khảo Ếch liền bảo Vẹt hãy hót lên tiếng hót của chính mình. Vẹt nhướn cổ, hú rõ to. Ngay lúc đó, Vượn nhào tới túm lấy Vẹt:

– Sao lại hú tiếng của tớ?

Vẹt hoảng hốt bay lên. Nó không làm sao nghĩ ra cho được tiếng hót của mình nữa. Nó ngượng nghịu nhìn các bạn. Từ xưa đến nay, Vẹt chỉ biết bắt chước, hót theo tiếng hót của người khác mà thôi. Nó hót đấy mà nó không hiểu gì cả. Tới lúc này, nó mới biết là nó rất nghèo. Nó không có tiếng hót riêng…

(Theo Phong Thu, NXB Kim Đồng, 2018, tr.149 – 151)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5.

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi kể nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Chỉ ra 02 từ láy trong câu chuyện trên.

Câu 3. (1.0 điểm) Giải thích vì sao câu chuyện trên thuộc thể loại truyện đồng thoại.

Câu 4. (1.0 điểm) Em có đồng tình với hành động bắt chước của Vẹt không? Vì sao?

Câu 5. (1.0 điểm) Từ câu chuyện trên, em rút ra bài học gì cho bản thân?

23
14 tháng 12 2025
Câu 1. Ngôi kể Ngôi thứ ba. Câu 2. Hai từ láy: bắt chướclăng xăng. Câu 3. Đây là truyện đồng thoại vì nhân vật là loài vật (Vẹt) được nhân cách hóa và truyện mang ý nghĩa giáo dục. Câu 4. Em không đồng tình. Vẹt bắt chước mù quáng mà không hiểu gì, thiếu bản sắc riêng. Câu 5. Bài học rút ra: Cần sống độc lậptự tin và phát huy năng khiếu riêng của bản thân.


17 tháng 12 2025

1,kể theo ngôi thứ ba


C1:văn bản bài học đường đời đầu tiên.Của Tô Hoài

C2:Tả dế mèn

30 tháng 5

Câu 1.

  • Văn bản: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu.
  • Tác giả: Tô Hoài.

Câu 2.

  • Đoạn văn tả Dế Mèn.

Câu 3.

So sánh:

  • "Đôi càng tôi mẫm bóng như những chiếc vuốt."
  • "Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy."

Nhân hóa:

  • Dế Mèn được miêu tả với các hoạt động, dáng vẻ như con người: "đi đứng oai vệ", "đưa hai chân lên vuốt râu"...

Ẩn dụ:

  • "Hai lưỡi liềm máy" dùng để gợi hình ảnh hàm răng khỏe, sắc bén của Dế Mèn.

Hoán dụ:

  • Các bộ phận như "đôi càng", "đôi cánh", "râu" được dùng để làm nổi bật vẻ đẹp, sức mạnh của Dế Mèn.

Câu 4.

Qua đoạn văn, em rất yêu thích nhân vật Dế Mèn. Dế Mèn hiện lên với vẻ ngoài khỏe khoắn, cường tráng và đầy sức sống. Đôi càng mẫm bóng, đôi cánh dài cùng dáng đi oai vệ khiến Dế Mèn giống như một chàng hiệp sĩ của đồng cỏ. Những chi tiết miêu tả sinh động của nhà văn Tô Hoài giúp em hình dung rõ nét hình ảnh một chú dế trẻ trung, mạnh mẽ và tự tin.

Tuy nhiên, em cũng nhận ra rằng Dế Mèn đôi lúc còn kiêu căng vì quá tự hào về sức mạnh của mình. Qua nhân vật này, em hiểu rằng mỗi người cần biết rèn luyện bản thân để trở nên khỏe mạnh, giỏi giang nhưng luôn phải khiêm tốn, biết yêu thương và giúp đỡ mọi người. Dế Mèn là một nhân vật rất gần gũi, đáng nhớ và để lại cho em nhiều bài học ý nghĩa.

Đề 1: Tả con đường đi học

Mỗi ngày đến trường, em đều đi trên con đường quen thuộc đã gắn bó với em từ những năm đầu tiểu học. Con đường ấy không chỉ đưa em đến lớp mà còn lưu giữ biết bao kỉ niệm đẹp của tuổi thơ.

Buổi sáng, khi ông mặt trời vừa hé những tia nắng đầu tiên, con đường như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài. Những giọt sương còn đọng trên lá cỏ lấp lánh như những hạt ngọc nhỏ. Hai bên đường là những hàng cây xanh mát dang rộng cánh tay đón gió. Tiếng chim hót líu lo hòa cùng tiếng cười nói của các bạn học sinh làm cho con đường trở nên nhộn nhịp hơn.

Đi dọc theo con đường, em bắt gặp những cánh đồng lúa xanh rì đang đung đưa trong gió. Xa xa là những mái nhà thấp thoáng sau hàng cau thẳng tắp. Những bác nông dân đã ra đồng từ sớm, tiếng máy cày, tiếng gọi nhau í ới tạo nên bức tranh làng quê thanh bình và tràn đầy sức sống.

Chiều tan học, con đường lại khoác lên mình chiếc áo vàng óng của nắng hoàng hôn. Ánh nắng cuối ngày trải dài trên mặt đường như dát một lớp mật ngọt. Em thong thả bước đi, ngắm nhìn cảnh vật thân quen và cảm thấy lòng mình thật vui vẻ.

Con đường đi học đã trở thành người bạn thân thiết của em. Dù mai này có đi xa, em vẫn luôn nhớ về con đường nhỏ thân thương ấy với tất cả tình yêu và niềm tự hào.


Đề 2: Tả con sông quê hương

Quê hương em có một dòng sông hiền hòa chảy quanh làng như dải lụa mềm ôm ấp những cánh đồng xanh mướt. Con sông ấy đã gắn bó với tuổi thơ em và trở thành hình ảnh đẹp nhất trong tâm trí mỗi khi nhớ về quê hương.

Buổi sáng, mặt sông phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ phản chiếu bầu trời trong xanh. Những làn sương mỏng nhẹ nhàng bay là là trên mặt nước tạo nên khung cảnh mờ ảo như trong tranh. Từng đàn cá nhỏ tung tăng bơi lội dưới làn nước trong veo. Hai bên bờ, hàng tre xanh rì rào trong gió như đang kể chuyện về làng quê yên bình.

Khi mặt trời lên cao, dòng sông trở nên lung linh hơn. Những tia nắng vàng nhảy nhót trên mặt nước, tạo thành vô vàn đốm sáng lấp lánh. Các bác ngư dân chèo thuyền thả lưới, tiếng mái chèo khua nước vang lên nhịp nhàng. Dòng sông không chỉ mang phù sa bồi đắp cho ruộng đồng mà còn đem lại nguồn sống cho bao người dân quê em.

Đẹp nhất là lúc hoàng hôn buông xuống. Mặt trời đỏ rực như quả cầu lửa từ từ lặn sau lũy tre làng. Cả dòng sông được nhuộm một màu vàng cam rực rỡ. Những cánh cò trắng chao liệng trên bầu trời rồi khuất dần trong ánh chiều tà. Cảnh vật lúc ấy đẹp đến nao lòng.

Em yêu biết bao dòng sông quê hương. Dòng sông không chỉ là món quà thiên nhiên ban tặng mà còn là nơi lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ trong sáng của em. Dù đi đâu xa, hình ảnh con sông hiền hòa ấy sẽ mãi mãi ở trong trái tim em.


Cho ai cần nhé! Mỏi tay quá....

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM) Tôi là đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo. Mùa xuân đến, từ trên cánh tay và mái tóc của mẹ, từng nụ hoa dẻ nhú ra như quả cầu xanh có tua gai nhỏ. Rồi hoa lớn dần thành những trái dẻ xù xì gai góc. Anh chị em chúng tôi ra đời như thế đó. Chúng tôi lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông. Những cơn mưa ào đến...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Tôi là đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo.

Mùa xuân đến, từ trên cánh tay và mái tóc của mẹ, từng nụ hoa dẻ nhú ra như quả cầu xanh có tua gai nhỏ. Rồi hoa lớn dần thành những trái dẻ xù xì gai góc. Anh chị em chúng tôi ra đời như thế đó.

Chúng tôi lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông. Những cơn mưa ào đến gội ướt đẫm tóc mẹ và tắm mát cho chúng tôi. Nắng làm bỏng rát cả làn da và mái tóc của mẹ.

Khi thu về, trái dẻ khô đi, lớp áo gai đã chuyển sang màu vàng cháy. Hạt dẻ căng tròn làm nứt bung cả tấm áo gai xù đã quá chật chội. Tôi vẫn nằm im trong lớp áo gai xù, nép vào một cánh tay của mẹ. Tôi chẳng muốn chui khỏi tấm áo ấm áp, an toàn đó chút nào.

Nhưng rồi những ngày thu êm ả cũng trôi qua. Gió lạnh buốt bắt đầu thổi ù ù qua khu rừng. Gió vặn vẹo những cánh tay dẻo dai của mẹ. Gió lay giật tấm thân vững chãi của mẹ. Nhưng mẹ vẫn bền gan đứng trên sườn núi cheo leo.

Khi mùa đông đến, tôi cứ thu mình mãi trong tấm áo gai xù ấm áp của họ nhà dẻ gai và nép mãi vào tay mẹ, tóc mẹ. Tôi sợ phải xa mẹ, sợ phải tự sống một mình. Tôi sợ những gì lạ lẫm trong rừng già. Nhưng tôi nghe tiếng mẹ thì thầm:

– Bé Út của mẹ, con nhỏ nhất nhà so với các anh chị nhưng con cũng đã lớn rồi đấy. Con là một bé dẻ gai rất khoẻ mạnh. Hãy dũng cảm lên nào, con sẽ bay theo gió và sẽ trở thành một cây dẻ cường tráng trong cánh rừng này nhé!

Tôi cố quẫy mình… Tấm áo gai dày và ấm bất chợt bung ra. Và tôi nhìn rõ cả cánh rừng già, cả sườn núi cao, cả bầu trời mây gió lồng lộng ào ạt trôi trên đầu mẹ. Hoá ra tôi là trái dẻ cuối cùng đang nép trên cánh tay vươn cao nhất của mẹ. Mẹ đưa tay theo chiều gió và thì thầm với riêng tôi: “Tạm biệt con yêu quý, hạt dẻ bé bỏng nhất của mẹ. Dù thế nào con cũng sẽ lớn lên, hãy dũng cảm và đón nhận cuộc sống mới nhé!”.

Tôi bỗng thấy mình bay nhẹ theo làn gió, tung mình vào khoảng không bao la rồi rơi êm xuống thảm lá ấm sực của rừng già… “Tạm biệt mẹ! Con yêu mẹ!” – tôi gọi với theo gió trước khi chìm vào giấc ngủ đông ấm áp. Và tôi mơ…

(Theo Phương Thanh Trang, trích Câu chuyện của hạt dẻ gai, tạp chí Văn học và tuổi trẻ, số 12 (465), 2020)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. (0.5 điểm) Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong hoàn cảnh như thế nào?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra 02 từ láy có trong văn bản trên và giải thích nghĩa của các từ vừa tìm được.

Câu 4. (1.0 điểm) Nhân vật “tôi” thể hiện những đặc điểm gì của nhân vật trong truyện đồng thoại?

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ văn bản trên?

15
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.

Câu 2.

Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông (điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt).

Câu 3.

Hai từ láy trong văn bản:

  • xù xì: chỉ bề mặt thô ráp, không nhẵn.
  • chật chội: chật, gây cảm giác bức bối, khó chịu.

Câu 4.

Nhân vật “tôi” (hạt dẻ gai) mang đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại:

  • Vừa mang đặc điểm của loài vật/thực vật (có vỏ xù xì, gai góc).
  • Vừa mang đặc điểm của con người: biết suy nghĩ, cảm xúc, lo sợ, được mẹ an ủi (nhân hoá).

Câu 5.

Bài học rút ra:

Muốn trưởng thành, mỗi người cần dũng cảm rời vòng tay che chở, tin vào bản thân và sẵn sàng đối diện với thử thách trong cuộc sống.


18 tháng 12 2025

Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại

Câu 2: Theo văn bản ,những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa ,mưa dông

Câu 3: Hai từ láy là :"xù xì", "chật chội"

-Nghĩa của từ "chật chội": chật, gây nên cảm giác bức bối khó chịu

- Nghĩa của từ "xù xì": bù xù, gây nên cảm giác khó chịu

Câu 4: Nhân vật tôi ( dẻ gai) là mội loài thực vật , vừa mang đặc điểm của lòa vật vừa mang đặc điểm của con người  (được nhân các hóa)

Câu 5: Qua bài đọc em rút ra được bài học là : Muốn trưởng thành, ta phải dũng cảm bước ra khỏi vòng tay che  chở, tin vào bản thân, sẵn sàng đối diện với thử thách

Cô fake rồi má ưi

27 tháng 9 2025

cẩn thận thật thì sao

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau: NGHE THẦY ĐỌC THƠ     Em nghe thầy đọc bao ngàyTiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà      Mái chèo nghiêng mặt sông xaBâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa      Nghe trăng thở động tàu dừaRào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời     Đêm nay thầy ở đâu rồiNhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe… (Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

NGHE THẦY ĐỌC THƠ

     Em nghe thầy đọc bao ngày

Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà

      Mái chèo nghiêng mặt sông xa

Bâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa

      Nghe trăng thở động tàu dừa

Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời

     Đêm nay thầy ở đâu rồi

Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe…

(Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hoá dân tộc, 1999)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Chỉ ra các tiếng hiệp vần với nhau trong hai dòng thơ sau:

     Đêm nay thầy ở đâu rồi

Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe…

Câu 3. (1.0 điểm) Biện pháp tu từ nhân hoá trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" đem lại tác dụng gì?

Câu 4. (1.0 điểm) Hình ảnh quê hương hiện lên như thế nào khi thầy đọc thơ?

Câu 5. (1.0 điểm) Em thích hình ảnh nào nhất trong bài thơ? Vì sao?

13
24 tháng 12 2025

Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"

Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:

- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.

- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.

- Gợi lên tình cảm thầy trò.

Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.

Câu 1: Thể thơ Lục Bát