K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4.0 điểm) Đọc văn bản sau:

Sè sè nấm đất bên đàng
Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: “Sao trong tiết Thanh minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
Vương Quan mới dẫn gần xa:
“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1).
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh.
Phận hồng nhan có mong manh(2),
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(3).
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thuyền tình(4) vừa ghé tới nơi,
Thì đà trâm gãy, bình rơi(5) bao giờ!
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy là mình với ta!
Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút đỉnh gọi là duyên sau.
Sắm sanh nếp tử(6) xe châu(7),
Bụi hồng một nấm(8), mặc dầu có hoa.
Trải bao thỏ lặn, ác tà(9),
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!”
Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã dầm dầm châu sa(10):
“Đau đớn thay, phận đàn bà!
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa:
“Đau đớn thay, phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”

(Nguyễn Du, Truyện Kiều, GS. Vũ Ngọc Khánh chú giải và khảo cứu, NXB Văn học, tr.16 – 17)

Chú thích: 

(1) Ca nhi: Gái hát, cũng như ta nói ả đào.

(2) Phận hồng nhan có mong manh: Ý nói số phận mong manh của người con gái đẹp.

(3) Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương: Ý nói đang giữa tuổi xuân thì người đẹp chết.

(4) Thuyền tình: Người khách viễn phương đến tìm Đạm Tiên.

(5) Trâm gãy, bình rơi: Ý nói người đã chết, lấy ý tứ từ câu thơ Đường: Nhất phiến tình chu phương đáo ngạn / Bình trâm hoa chiết dĩ đa thì (Một lá thuyền tình vừa tới bến / Bình rơi hoa gãy đã từ lâu).

(6) Nếp tử: Áo quan làm bằng gỗ tử.

(7) Xe châu: Linh xa có treo rèm châu, ý nói linh xa lịch sự sang trọng.

(8) Vùi nông một nấm: Ý chỉ một nấm mồ thấp, sát mặt đất.

(9) Thỏ lặn, ác tà: Thỏ đại diện cho Mặt Trăng, ác là con quạ, cùng nghĩa với chữ "ô", chỉ Mặt Trời. 

(10) Châu sa: Ý chỉ nước mắt rơi xuống. Sách xưa chép rằng: Xưa có giống người ở giữa biển gọi là Giao nhân – một thứ cá hình người. Giống người này khóc thì nước mắt đọng lại, kết thành hạt ngọc.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. Xác định kiểu lời thoại của nhân vật trong hai dòng thơ sau:

Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,

Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”

Câu 3. Nhận xét về hệ thống từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản.

Câu 4. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thuý Kiều đã có tâm trạng, cảm xúc gì? Điều này cho thấy Thuý Kiều là người con gái như thế nào?

Câu 5. Từ nội dung của văn bản ở phần Đọc hiểu, em rút ra được bài học gì cho bản thân? Vì sao?

76
14 tháng 12 2025

Thể thơ lục bát


18 tháng 12 2025

Câu 1 Văn Bản trên được viết theo thể thơ lục bát

Câu 2 hai Dòng thơ

"Rằng:'Sao trong tết Thanh Minh

Mà đây Hương khói vắng tanh thế mà?"'

Sử dụng lời thoại trực tiếp dc đặt trong dấu ngoặc kép có từ dẫn' rằng'

Câu 3

Tac gia su dung nhieu tu lay goi hinh,goi cam nhuw xo xac, raafu raafu



15 tháng 12 2025

Cau 1

Thể thơ của văn bản thể thơ lục bát

Câu2

Kiểu loại thải của nhân vật trong hai dòng thơ sau là lời thoại trực tiếp

Câu3

-Hệ thống tử này được tác giả sử dụng trong văn bản là sè sè, dàu dàu, xôn xao, mong manh,

-Việc sử dụng nhiều từ láy(cả từ tượng hình và từ tượng thanh) có tác dụng khắc họa chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc họa trong văn bản, đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản

Câu 4

-Trước hoàn cảnh của đạm Tiên, Thúy Kiều đã có tâm trạng, cảm xúc như: tâm trạng và sự đồng cảm.

- Nàng con gái nhân hậu. Trước hoàn cảnh của đạm tiên , Nang không chỉ đồng cảm với

Cảnh ảm đạm, lạnh lẽo nhang khói của nấm mồ đạm khi không nom, săn sóc; mà nàng còn khóc thương cho thân phận những người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong xã hội của nàng

Câu5

-Từ nội dung của văn bản ở phần đọc hiểu, em rút ra được bài học về lòng nhân ái và sự đồng cảm, sự sẻ chia. Vì, việc Thúy Kiều thương xót đạm tiên cho thấy giá trị của sự đồng cảm, nhân hậu trong cuộc sống.

-Sống có trách nhiệm và biết trân trọng cuộc sống, thời gian hiện tại. Vì, số phận đạm Tiên dù tài hoa nhưng lại quá ngắn ngủi và bi thương. Điều này nhắc nhở chúng ta về sự mong manh của cuộc đời, cần sống có ý nghĩa hơn.

15 tháng 12 2025

câu 1:bài thơ được viết theo thể thơ lục bát

câu2:

16 tháng 12 2025

Câu 1

Thể thơ lục bát

Câu 2

Lời thoại của nhân vật:"sao trong tiết Thanh Minh/mà đây Hương khói vắng tanh thế mà"

Câu 3

Các từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản là sử dụng trong văn bản: sè sè, dầu dầu,mong manh,đầm đầm.

Câu 4

Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên Thuý Kiều đã có tâm trạng cảm xúc đau lòng, xót thương cho số phận của Đạm Tiên

Câu 5

Từ nội dung của văn bản ở phần đọc hiểu, em rút ra được bài học cho bản thân là:

+Biết trân trọng những tài năng trong cuộc sống

+Biển đồng cảm với những con người có số phận đáng thương trong cuộc sống


16 tháng 12 2025

Câu 1.


Thể thơ: Lục bát.


Câu 2.


– Lời thoại của nhân vật: “Sao trong tiết thanh minh/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”.


– Kiểu lời thoại: Lời đối thoại.

c3: các từ láySè sè, dàu dàu, xôn xao, mong manh, đầm đầm.


– tác dụng của từ láy: Việc sử dụng nhiều từ láy (cả từ láy tượng hình và tượng thanh) có tác dụng khắc hoạ chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc hoạ trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản.


c4

nhận xét về nhân vật Thuý Kiều: Nàng là người con gái nhân hậu. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, nàng không chỉ đồng cảm với cảnh ảm đạm, lạnh lẽo nhang khói của nấm mồ Đạm Tiên khi không người thăm nom, săn sóc; mà nàng còn khóc thương cho thân phận những người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong xã hội của nàng.


Câu 5.

em rút ra được bài học sau


+ Biết trân trọng những người tài năng trong cuộc sống.


+ Biết đồng cảm với những con người có số phận đáng thương trong cuộc sống.



16 tháng 12 2025

Câu 1: thể thơ được sử dụng trong văn bản là : thơ lục bát

Câu 2:

-Lời thoại của nhân vật:" Sao trong tiết thanh minh/Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?"

-Kiểu lời thoại của nhân vật trong 2 dòng thơ là lời đối thoại

Câu 3:

-Từ láy được sử dụng trong văn bản là: sè sè,dàu dàu, xôn xao,mong manh, đầm đầm

-Tác dụng

+Việc sử dụng từ láy khiến cho câu văn trở nên có hồn, chân thực

+ Đồng thời,tù láy còn tạo âm hưởng nhịp nhàng, vui tươi

+ Qua đó, ta thấy tài năng quan sát của tác giả rất tinh tế và tỉ mỉ

Câu 4

- Trước hoàn cảnh của Đàm Tiên, Thuý Kiều đã bày tỏ lòng thương xót, đau lòng cho số phận của Đàm Tiên

-Điều này cho ta thấy , Thuý Kiều là người nhân hậu,đồng cảm với người có số phận bất hạnh,người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong xã hội

Câu 5

Qua văn bản trên , em rút ra rất nhiều bài học. Trước hết là chúng ta phải biết trân trọng những người có tài năng trong cuộc sống. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nên biết đồng cảm cho số phận đáng thương của con người trong cuộc sống.Và chúng ta phải biết quan tâm , chia sẻ đối với người khác


16 tháng 12 2025

Câu 1

Thể thơ lục bát

Câu 2

Kiểu lời đối thoại Câu 3 Các từ láy: sè sè, dầu dầu, xôn xao, mong manh, đầm đầm. Tác dụng: Giúp khắc họa lên câu văn , sinh động, nhịp nhàng, dễ nhớ cho câu Câu 4 Tâm trạng Thúy Kiều trước hoàn cảnh Đạm Tiên: đau lòng, xót thương.

Nhận xét Thúy Kiều: Kiều là người nhân hậu,thương xót cho số phận khổ cực của người phụ nữ trong xã hội. Câu 5 Bài học rút ra: Biết trân quý người tài giỏi Biết thương sót với những số phận bất hạnh trong cuộc sống.

16 tháng 12 2025

Em làm ra vở thầy nha

17 tháng 12 2025

Biết trân trọng những người có tài năng trong cuộc sống

Biết đồng cảm với những con người có số phận đáng thương trong cuộc sống

17 tháng 12 2025

câu 1:

- thể thơ của đoạn trích: lục bát

câu 2:

- kiểu lời thoại của hai câu thơ: lời đối thoại

câu 3:

- những từ láy được tác giả sử dụng: sè sè, dàu dàu , xôn xao, mong manh, dầm dầm

- nhận xét :

+ giúp khắc họa chân thực , sinh động cho đối tượng, sự việc được khắc họa trong đoạn trích

+ tăng cường sắc thái biểu cảm, nhấn mạnh sự nhỏ bé, mong manh và bi thương

+ tạo nhịp điệu trầm buồn phù hợp với chủ đề bi kịch của nhân vật Đạm Tiên

câu 4:

- tâm trạng , cảm xúc Thúy Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên: đau lòng , xót thương

- qua đó cho thấy Thúy Kiều là người con gái nhân hậu và có lòng đồng cảm sâu sắc trước số phận của Đạm Tiên

câu 5:

- từ nội dung của văn bản ở phần đọc hiểu, em rút ra được bài học cho bản thân :

+ phải biết trân trọng những người phụ nữ có tài năng trong cuộc sống

+ phải biết đồng cảm ,xót thương ,giúp đỡ người người có hoàn cảnh khó khăn

+ cần biết lên án, phê phán những lời nói, hành vi chà đạp phụ nữ

2.phần viết

câu 1:

Nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích " Truyện Kiều " hiện lên như một hình tượng mang đậm vẻ đẹp bi kịch của người con gái tài sắc nhưng bạc mệnh trong xã hội phong kiến. Nàng vốn là một ca nhi nổi danh " tài sắc một thì " được nhiều người ái mộ . Tuy nhiên, cuộc đời Đạm Tiên lại vô cùng ngắn ngủi . Giữa lúc tuổi xuân đang rực rỡ nhất , nàng " nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương " ra đi trong cô độc , để lại nấm mồ hoang lạnh không người hương khói . Nguyễn Du khắc họa nàng qua những hình ảnh đầy xót xa : " Buồng không lạnh ngắt như tờ " , " Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh " cho thấy sự lãng quên của đời người đối với một số phận tài hoa bạc mệnh . Cuộc đời Đạm Tiên tuy ngắn ngủi nhưng lại mang ý nghĩa dự báo cho số phận của Thúy Kiều - một người con gái tài sắc nhưng cũng chịu nhiều bất hạnh sau này. Hình tượng Đạm Tiên vì thế không chỉ gợi nỗi tiếc thương cho số phận người phụ nữ xưa mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo , nỗi đau lòng sâu sắc của Nguyễn Du dành cho những kiếp người bị chà đạp. Qua này, ta càng thấm thía giá trị của lòng trắc ẩn và khát vọng sống nhân ái .


17 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ lục bát. Câu 2. Hai dòng thơ: “Rằng: Sao trong tiết Thanh minh, Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?” sử dụng lời thoại trực tiếp của nhân vật (Vương Quan), được đặt trong dấu ngoặc kép. Câu 3. Hệ thống từ láy trong văn bản rất phong phú như: sè sè, dầu dầu, vắng tanh, lạnh ngắt, lờ mờ, dầm dầm, đầm đầm… → Các từ láy này có tác dụng: Gợi tả khung cảnh hoang vắng, lạnh lẽo, u buồn nơi mộ Đạm Tiên. Góp phần thể hiện tâm trạng xót xa, thương cảm của Thúy Kiều. Làm cho ngôn ngữ thơ trở nên giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, mang đậm màu sắc trữ tình. Câu 4. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều có tâm trạng xót thương, đau đớn, nghẹn ngào trước số phận bạc mệnh của người con gái tài sắc. Kiều khóc thương Đạm Tiên cũng chính là khóc cho thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. → Điều đó cho thấy Thúy Kiều là người: Giàu lòng nhân ái, biết cảm thông với nỗi đau của người khác Nhạy cảm, đa sầu đa cảm Có trái tim nhân hậu và tấm lòng vị tha sâu sắc Câu 5. Từ nội dung văn bản, em rút ra bài học: cần biết trân trọng giá trị con người, đặc biệt là người phụ nữ; đồng thời phải sống nhân ái, yêu thương và chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh. Bởi vì trong cuộc sống, ai cũng có thể gặp đau khổ, nếu con người biết cảm thông và giúp đỡ nhau thì xã hội sẽ trở nên tốt đẹp và nhân văn hơn. PHẦN II. LÀM VĂN Câu 1. (2,0 điểm) Đạm Tiên là một nhân vật tuy chỉ xuất hiện gián tiếp trong Truyện Kiều nhưng để lại nhiều ám ảnh sâu sắc. Qua lời kể của Vương Quan, Đạm Tiên hiện lên là một người con gái tài sắc vẹn toàn, từng nổi danh chốn yến anh, được nhiều người ngưỡng mộ. Thế nhưng, nàng lại có một số phận vô cùng bạc mệnh, chết khi tuổi xuân còn dang dở, mồ mả hoang lạnh, không người hương khói. Hình ảnh “bụi hồng một nấm” càng làm nổi bật sự cô đơn, tủi phận của nàng. Đạm Tiên là hình ảnh tiêu biểu cho bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, nơi tài sắc không đi liền với hạnh phúc. Thông qua nhân vật này, Nguyễn Du đã thể hiện niềm xót thương sâu sắc đối với những kiếp hồng nhan bạc phận, đồng thời dự báo số phận đầy sóng gió của Thúy Kiều sau này. Câu 2. Trong thời đại công nghệ số, mạng xã hội đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống của học sinh. Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều có thể gây ra nhiều hậu quả tiêu cực như sao nhãng học tập, lệ thuộc vào điện thoại và thiếu trách nhiệm với bản thân. Vì vậy, việc sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả là điều vô cùng cần thiết. Trước hết, mỗi học sinh cần biết kiểm soát thời gian sử dụng mạng xã hội. Không nên dành quá nhiều thời gian lướt mạng, đặc biệt là trong giờ học hoặc khi làm bài. Việc đặt ra giới hạn thời gian mỗi ngày sẽ giúp cân bằng giữa học tập và giải trí. Bên cạnh đó, học sinh cần lựa chọn nội dung tích cực, bổ ích như các trang học tập, khoa học, kỹ năng sống, thay vì xem những thông tin vô bổ hoặc độc hại. Ngoài ra, mỗi người cần có ý thức trách nhiệm khi sử dụng mạng xã hội, không chia sẻ thông tin sai sự thật, không bình luận tiêu cực hay gây tổn thương cho người khác. Mạng xã hội nên là nơi kết nối, chia sẻ yêu thương chứ không phải là công cụ gây áp lực hay bạo lực tinh thần. Cuối cùng, học sinh cần biết kết hợp hài hòa giữa thế giới ảo và đời sống thực. Thay vì chỉ giao tiếp qua màn hình, hãy dành thời gian cho gia đình, bạn bè, rèn luyện sức khỏe và phát triển bản thân. Tóm lại, mạng xã hội chỉ thực sự có ích khi con người biết sử dụng đúng cách. Sử dụng mạng xã hội lành mạnh và hiệu quả sẽ giúp học sinh học tập tốt hơn, sống tích cực hơn và trưởng thành hơn trong cuộc sống.

17 tháng 12 2025

Câu 1:

- thể thơ được viết trong bài thơ là: thể thơ lục bát

Câu 2:

- thuộc kiểu lời đối thoại

- lời thoại của nhân vật: Thúy Kiều

Câu 3:

- các từ láy có trong tác phẩm là:

Sè sè, dầu dầu, xôn xao, mong manh, đau đớn , đầm đầm.

- tác dụng:

+Của việc kết hợp các từ láy tượng thanh và tượng hình

+Để khắc họa chân thực , sinh động với sự đan xen này giúp khắc họa , chân thực , đồng thời tạo âm hưởng cho tác phẩm và nhịp nhàng hơn giúp bài thơ hay là hay cả hồn lẫn xác

Câu 4:

- Tâm trạng và cảm xúc của Thúy Kiều trước hoàn cảnh éo le của Đạm Tiên: đã cảm thấy đau xót , buồn bã cho số phận của Đạm Tiên

- Thúy Kiều nàng là một người có phẩm chất tốt đẹp , nhân hậu nàng đã rất thấu hiểu và đồng cảm vs Đạm Tiên vs sự đơn lẻ, đơn độc một mình

Câu 5:

- Qua đó, em thấy được Thúy Kiều luôn là một người có tấm lòng nhân hậu, san sẻ tình yêu thương và biết giúp đỡ người khác trong lúc khó khăn.

- Nội dung trên của tác phẩm em rút ra được bài học cho bản thân là:

+ Phải biết yêu thương và rộng lượng và người khác

+ Biết trân trọng những người giỏi rang

+ Thông cảm,hiểu và đồng cảm với những người có số phận éo le, không được may mắn trong cuộc sống.


18 tháng 12 2025

Câu 1 : Thể thơ của văn bản là : Lục bát

Câu 2 : Lời thoại của nhân vật Vương Quan ( lời kể ) và lời thoại nội tâm biểu cảm trực tiếp của Thúy Kiều ( lời thân )

Câu 3

Từ láy trong văn bản trên là : " sẽ sẽ " , " dàu dàu " , " xôn xao " , " mong manh " , "đầm đầm " . Được tác giả sử dụng tinh tế , giàu sức gợi , miêu tả sinh động cảnh vật . Đồng thời , biểu lộ tâm trạng buâng khuâng , xao xuyến , buồn rầu , tạo nên bức tranh cảnh ngộ , tâm trạng hòa quyện

Câu 4

- Đau xót , thương sâu sắc , đồng cảm với số phận bạch mệnh của Đạm Tiên

- Vẻ đẹp : Nhân hậu , giàu lòng trắc ẩm , tài hoa , đa sầu đa cảm , sâu sắc , tinh tế

Câu 5

Bài học :

- Thấy được sự mong manh , phù du của cuộc đời , nhất là phận Hồng nhan

- Học cách thấu hiểu , sẻ chia nỗi buồn , nỗi đau , sự bất hạnh với người khác

- Hiểu và cảm thông sâu sắc hơn về thân phận người phụ nữ thời xưa , từ đó biết trân trọng bản thân , trân trọng tình thương

Em rút ra đc bài học trên qua văn bản trên vì : đoạn trích cho thấy giá trị giàu nhân văn của Thuý Kiều , nhắc nhở về tình yêu thương , sự đồng cảm và nỗi xót xa cho những số phận bất hạnh , từ đó sống nhân ái , có ý nghĩa hơn .

18 tháng 12 2025

Câu 1 Thể thơ: Lục bát. Câu 2 – Lời thoại nhân vật: "Sao trong tiết thanh minh ... vắng tanh thế mà?". Kiểu lời thoại: Lời đối thoại. Câu 3 - Các từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản: Sè sè, dàu dàu, xôn xao, mong manh, đầm đầm - Tác dụng của hệ thống từ láy: Việc sử dụng nhiều từ láy có tác dụng: + Khắc hoạ chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc hoạ trong văn bản + Đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản. Câu 4 - Đau lòng, xót thương cho số phận của Đạm Tiên. - Thuý Kiều là người con gái nhân hậu. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, nàng không chỉ đồng cảm với cảnh ảm đạm, lạnh lẽo nhang khói của nấm mồ Đạm Tiên khi không người thăm nom, săn sóc; mà nàng còn khóc thương cho thân phận những người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong xã hội của nàng. Câu 5 Bài học: + Biết trân trọng những người tài năng trong cuộc sống. + Biết đồng cảm với những con người có số phận đáng thương trong cuộc sống.

19 tháng 12 2025

Câu 1 *Thể thơ:Lục bát. Câu 2 *Lời thoại của nhân vật: “Sao trong tiết thanh minh/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?” * Kiểu lời thoại: Lời đối thoại. Câu 3 * Các từ láy được sử dụng trong văn bản: -Sè sè, dầu dầu, xôn xao, mong manh, đầm đầm. *Tác dụng của việc sử dụng từ láy Việc sử dụng nhiều từ láy (cả từ láy tượng hình và tượng thanh) giúp khắc họa chân thực, sinh động cảnh vật và sự việc trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, giàu cảm xúc, giúp văn bản trở nên dễ nhớ và giàu giá trị biểu cảm. Câu 4 *Tâm trạng, cảm xúc của Thúy Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên: Thúy Kiều cảm thấy đau lòng, xót thương cho số phận bất hạnh của Đạm Tiên. * Nhận xét về nhân vật Thúy Kiều: Thúy Kiều là người con gái nhân hậu, giàu lòng cảm thông. Trước hoàn cảnh cô đơn, lạnh lẽo của nấm mồ Đạm Tiên, nàng không chỉ xót xa cho cảnh ngộ ấy mà còn khóc thương cho số phận những người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh trong xã hội

Câu 5

Dựa vào nội dung văn bản, em rút ra cho bản thân bài học sâu sắc về cách sống trong cuộc đời. Mỗi người cần biết trân trọng và yêu quý những con người có tài năng, bởi họ thường phải chịu nhiều thiệt thòi và bất hạnh. Đồng thời, ta cũng cần biết đồng cảm, sẻ chia với những số phận đáng thương, đặc biệt là những người kém may mắn trong xã hội. Sự cảm thông và lòng nhân ái không chỉ giúp cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn mà còn góp phần hoàn thiện nhân cách của mỗi con người.

19 tháng 12 2025

Câu 1 *Thể thơ:Lục bát. Câu 2 *Lời thoại của nhân vật: “Sao trong tiết thanh minh/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?” * Kiểu lời thoại: Lời đối thoại. Câu 3 * Các từ láy được sử dụng trong văn bản: -Sè sè, dầu dầu, xôn xao, mong manh, đầm đầm. *Tác dụng của việc sử dụng từ láy Việc sử dụng nhiều từ láy (cả từ láy tượng hình và tượng thanh) giúp khắc họa chân thực, sinh động cảnh vật và sự việc trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, giàu cảm xúc, giúp văn bản trở nên dễ nhớ và giàu giá trị biểu cảm. Câu 4 *Tâm trạng, cảm xúc của Thúy Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên: Thúy Kiều cảm thấy đau lòng, xót thương cho số phận bất hạnh của Đạm Tiên. * Nhận xét về nhân vật Thúy Kiều: Thúy Kiều là người con gái nhân hậu, giàu lòng cảm thông. Trước hoàn cảnh cô đơn, lạnh lẽo của nấm mồ Đạm Tiên, nàng không chỉ xót xa cho cảnh ngộ ấy mà còn khóc thương cho số phận những người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh trong xã hội

Câu 5

Dựa vào nội dung văn bản, em rút ra cho bản thân bài học sâu sắc về cách sống trong cuộc đời. Mỗi người cần biết trân trọng và yêu quý những con người có tài năng, bởi họ thường phải chịu nhiều thiệt thòi và bất hạnh. Đồng thời, ta cũng cần biết đồng cảm, sẻ chia với những số phận đáng thương, đặc biệt là những người kém may mắn trong xã hội. Sự cảm thông và lòng nhân ái không chỉ giúp cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn mà còn góp phần hoàn thiện nhân cách của mỗi con người.

20 tháng 12 2025

Câu 1: Thể thơ Lục Bát

Câu 2:Đây là kiểu lời đối thoại (cụ thể là lời của Thúy Kiều nói với Vương Quan). Tuy nhiên, trong ngữ cảnh này, nó còn mang sắc thái độc thoại nội tâm vì đó là sự băn khoăn, thắc mắc phát ra từ cảm xúc bên trong khi Kiều đứng trước ngôi mộ vô chủ.

Câu 3:• Các từ láy có trong bài: Sè sè, dầu dầu, xôn xao, nức tiếng, lạnh ngắt, dầm dầm, đau đớn...

• Nhận xét:

• Về số lượng: Tác giả sử dụng mật độ từ láy dày đặc.

• Về tác dụng: Các từ láy không chỉ có giá trị tạo hình (như sè sè, dầu dầu mô tả sự thấp bé, héo úa của nấm mồ) mà còn có giá trị biểu cảm sâu sắc (như dầm dầm, đau đớn). Chúng giúp khắc họa rõ nét khung cảnh đìu hiu, u buồn và tâm trạng xót thương, dự cảm về kiếp người nhỏ bé, bạc mệnh.

Câu 4: • Tâm trạng, cảm xúc của Thúy Kiều:

• Bàng hoàng, xót xa: Khi nghe về cuộc đời tài hoa nhưng bạc mệnh của Đạm Tiên.

• Thương cảm sâu sắc: Kiều đã khóc (dầm dầm châu sa), thốt lên lời than thở cho thân phận người phụ nữ (Đau đớn thay phận đàn bà).

• Sự đồng cảm (liên đới): Kiều nhìn người mà nghĩ đến mình, cảm nhận được sự kết nối giữa những tâm hồn "hồng nhan bạc mệnh".

• Con người Thúy Kiều: Điều này cho thấy Kiều là một người con gái có tâm hồn đa sầu, đa cảm, có trái tim nhân hậu, bao dung và một sự nhạy cảm mãnh liệt trước nỗi đau của đồng loại.

Câu 5:  Bài học về lòng trắc ẩn: Biết thấu hiểu và sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh xung quanh. Vì sự đồng cảm giúp con người xích lại gần nhau hơn và làm cho xã hội nhân văn hơn.

• Bài học về sự trân trọng giá trị con người: Đừng chỉ nhìn vẻ bề ngoài mà hãy trân trọng tài năng và phẩm giá của mỗi cá nhân, ngay cả khi họ đã khuất.

• Bài học về nhận thức số phận: Hiểu rằng cuộc đời có những rủi ro, từ đó sống trọn vẹn và ý nghĩa hơn trong hiện tại.

20 tháng 12 2025

Câu 1: bài thơ trên được viết theo thể thơ lục bát  

Câu 2: là kểu lời đối thoại

 

21 tháng 12 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. Trả lời: Thể thơ của văn bản là thơ lục bát (cặp câu 6 tiếng và 8 tiếng luân phiên). Câu 2. Xác định kiểu lời thoại của nhân vật trong hai dòng thơ sau: Rằng: "Sao trong tiết thanh minh, Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?" Trả lời: Đây là kiểu lời đối thoại (cụ thể là lời của Thúy Kiều hỏi Vương Quan và Thúy Vân khi nhìn thấy nấm mồ vô chủ). Câu 3. Nhận xét về hệ thống từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản. Trả lời: Các từ láy sử dụng: sè sè, dầu dầu, xôn xao, mong manh, nức tiếng, lạnh ngắt, dầm dầm... Nhận xét: Tác giả sử dụng hệ thống từ láy rất tinh tế và đắc địa. Các từ láy không chỉ giúp miêu tả hình ảnh (như nấm đất thấp bé "sè sè", cỏ héo úa "dầu dầu") mà còn gợi tâm trạng buồn thương, cô độc, lạnh lẽo. Nó tạo nên âm hưởng trầm buồn, xót xa cho số phận của người con gái tài hoa bạc mệnh. Câu 4. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều đã có tâm trạng, cảm xúc gì? Điều này cho thấy Thúy Kiều là người con gái như thế nào? Tâm trạng, cảm xúc: Thúy Kiều cảm thấy vô cùng đau xót, thương cảm và ngậm ngùi ("đầm dầm châu sa", "đau đớn thay phận đàn bà"). Nàng xót xa cho một kiếp hồng nhan tài sắc nhưng khi chết đi lại cô độc, không người thăm viếng. Con người Thúy Kiều: Qua đó, ta thấy Kiều là một cô gái có trái tim đa sầu đa cảm, giàu lòng trắc ẩn và sự thấu cảm sâu sắc giữa những người cùng cảnh ngộ.Nàng không chỉ sống cho mình mà còn biết đau với nỗi đau của người khác. Câu 5. Từ nội dung văn bản, em rút ra bài học: Trân trọng cuộc sống và biết yêu thương, sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh xung quanh.Vì trong cuộc sống, sự thấu hiểu và lòng nhân ái chính là sợi dây kết nối mọi người.

21 tháng 12 2025

1. Thể thơ Answer: Lục bát 2. Lời thoại và kiểu lời thoại Answer: Lời thoại của nhân vật là: “Sao trong tiết thanh minh/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”. Kiểu lời thoại là lời đối thoại. 3. Từ láy và tác dụng Answer: Các từ láy được sử dụng là: Sè sè, dầu dàu, xôn xao, mong manh, đầm đầm. Tác dụng của hệ thống từ láy là khắc hoạ chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc hoạ trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản.

Câu 5. Bài học cho bản thân Answer: Học sinh dựa vào nội dung văn bản để rút ra bài học cho bản thân, có thể là biết trân trọng những người tài năng trong cuộc sống hoặc biết đồng cảm với những con người có số phận đáng thương trong cuộc sống. Học sinh cần đưa ra lí giải phù hợp cho bài học mà bản thân đưa ra, ví dụ: Việc trân trọng người tài năng giúp xây dựng một xã hội văn minh, khuyến khích sự phát triển chung. Sự đồng cảm giúp con người sống nhân ái, biết yêu thương và chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh, giống như cách Thúy Kiều đã khóc thương cho Đạm Tiên. Qua đó, mỗi người có thể học cách sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng và biết bảo vệ những giá trị nhân văn.

21 tháng 12 2025

C1

Thể thơ lục bát

C2

Lời thoại của nv "sao trong tiết thanh minh/Mà đây hương khói vắng tanh thế mà=>đối thoại

C3

Sè sè,dàu dàu,xôn xao,mong manh,đầm đầm

C4

Tâm trạng cảm xúc Kiều trước hoàn cảnh Đạm Tiên:Đau lòng, xót thương cho số phận Đạm tiên



21 tháng 12 2025

Câu 1 : thơ lục bát

C2 lời dẫn t tiếp

C3 hệ thống dc sử dụng hieeuj quả góp phần tăng tính nhạc và gợi hình van bản

C4 tậm trạng thương cảm xót xa trc phận hẩm hiu của đạm êm

C5bài học về sự đồng cảm lời nhân ai và trân trọng bt ơn

21 tháng 12 2025

Câu 1

Thể thơ của văn bản trên là thể lục bát

Câu 2

Kiểu lời thoại của nhân vật là: độc thoại nội tâm

21 tháng 12 2025

Câu 1

Thể thơ: Lục bát.

Câu 2

– Lời thoại của nhân vật: “Sao trong tiết thanh minh/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”. – Kiểu lời thoại: Lời đối thoại.

Câu 3

các từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản: Sè sè, dầu dầu, xôn xao, mong manh, đầm đầm.

Việc sử dụng nhiều từ láy (cả từ láy tượng hình và tượng thanh) có tác dụng khắc họa chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc họa trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản.

Câu 4

tâm trạng, cảm xúc của nàng Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên: đau lòng, xót thương cho số phận của Đạm Tiên.

Nàng là người con gái nhân hậu. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, nàng không chỉ đồng cảm với cảnh âm u, lạnh lẽo nhang khói của nấm mồ Đạm Tiên khi không người thăm nom, săn sóc; mà nàng còn khóc thương cho thân phận những người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong xã hội của nàng.

Câu 5

Qua đoạn trích, em rút ra bài học cho bản thân là cần biết đồng cảm và yêu thương những con người có số phận bất hạnh trong cuộc sống. Trước hoàn cảnh đáng thương của Đạm Tiên, Thúy Kiều đã bày tỏ sự xót xa, đau lòng, qua đó thể hiện tấm lòng nhân hậu của mình. Điều này giúp em hiểu rằng mỗi người cần sống tình cảm hơn, biết quan tâm và chia sẻ với những người kém may mắn xung quanh.


21 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ lục bát. Câu 2. Đây là lời thoại trực tiếp, đồng thời là lời độc thoại của Thúy Kiều (nói với chính mình, bộc lộ tâm trạng xót xa, băn khoăn trước cảnh mộ Đạm Tiên). Câu 3. Nguyễn Du sử dụng nhiều từ láy giàu giá trị gợi hình, gợi cảm như: sè sè, dầu dầu, xôn xao, thăm thẳm, dầm dầm… Các từ láy: Gợi không gian u buồn, hiu quạnh Diễn tả tâm trạng xót thương, ngậm ngùi, đau đớn của Thúy Kiều → Hệ thống từ láy góp phần tăng tính biểu cảm, làm nổi bật màu sắc bi thương, dự cảm số phận. Câu 4. Tâm trạng, cảm xúc của Thúy Kiều: Xót thương sâu sắc cho số phận bạc mệnh của Đạm Tiên Ngậm ngùi, đau đớn, đồng cảm Lo âu, dự cảm bất hạnh cho chính số phận mình Điều này cho thấy: Thúy Kiều là người đa sầu đa cảm, giàu lòng nhân ái Có trái tim tinh tế, nhạy cảm Đồng thời thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du: xót thương cho người phụ nữ tài sắc nhưng bạc mệnh.

Câu 5. Từ nội dung đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du – miêu tả cảnh Thúy Kiều viếng mộ Đạm Tiên, bộc lộ niềm xót thương cho số phận người con gái tài sắc nhưng bạc mệnh – em rút ra bài học cho bản thân rằng cần biết trân trọng cuộc sống hiện tại và sống giàu lòng yêu thương, cảm thông với người khác. Bởi cuộc đời con người mong manh, hạnh phúc không bền lâu, nếu không biết sống nhân ái và trân quý những gì đang có thì con người rất dễ rơi vào hối tiếc. Đồng thời, bài học ấy nhắc nhở em phải sống tử tế, biết chia sẻ và giữ gìn những giá trị tốt đẹp của con người.

22 tháng 12 2025

Câu 1 thể thơ lục bát

Câu 2 lời thoại của nhân vật:"sao trong tiết thanh minh/Mà đây hương khói vắng tăng

Câu 3 các từ láy tác giả sử dụng là sè sè,dàu dàu,xôn xao,mong manh,đầm đầm

Tác dụng: giúp khắc hoạ chân thật sinh động,những đối tượng sự việc được khắc hoạ trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng dễ nhớ cho văn bản

Câu 4tâm trạng cảm xúc của nàng Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên:đau lòng xót thương cho số phận của Đạm Tiên

Nhận xét:Thúy Kiều là 1 cô gái nhân hậu đồng cảm với số phận của Đạm Tiên lạnh lẽo nhan khối của nấm mồ Đạm Tiên khi không có người thăm chăm sóc mà nàng còn khóc thương cho số phận của người phụ nữ tài hoa bạc mệnh của xã hội của nàng

Câu5:

Vì vậy mỗi chúng ta cần có rút ra bài học cho riêng mình là

+Biết trân trọng những người có tài năng

+Biết quý trọng mọi người

+Biết đồng cảm với mọi người

+Không nên cười nhạo chỉ trích khi thấy ai đó đau khổ

22 tháng 12 2025

C1:

Thế thơ: Lục bát.

C2:Lời thoại của nhân vật: "Sao trong tiết thanh minh/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà".

Kiểu lời : đối thoại.

C3:

Từ Láy :Sè sè, dàu dàu, xôn xao, mong manh, đầm đầm

Việc sử dụng nhiều từ láy (cả từ láy tượng hình và tượng thanh) có tác dụng khắc hoạ chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc hoạ trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản.

C4:

Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên: Đau lòng, xót thương cho số phận của Đạm Tiên.

nhận xét về nhân vật Thuý Kiều: Nàng là người con gái nhân hậu. Trước hoàn cảnh của

Đạm Tiên, nàng không chỉ đồng cảm với cảnh ảm đạm, lạnh lẽo nhang khói của nấm mồ

Đạm Tiên khi không người thăm nom, săn sóc;

mà nàng còn khóc thương cho thân phận những người phụ nữ tài

C5:

qua đó chúng ta cần trân trọng nhung người tài năng trong csong.biết yêu thương đồng cảm với nhungwx số phận éo le và đáng thương trong cuôcj sống.


22 tháng 12 2025

Câu 1 : Thể thơ lục bác

22 tháng 12 2025

C1

Thể loại:truyện thơ Nôm

C2

lời thoại của dòng thơ là: -Người nói: Nhân vật Thúy Kiều. -Người nghe: Vương Quan và Thúy Vân

C3

Hệ thống từ láy góp phần tạo nên tính nhạc điệu cho thể thơ lục bát, làm cho câu thơ trở nên uyển chuyển, mềm mại và giàu sức biểu cảm hơn.

C4

-Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều đã bộc lộ những tâm trạng và cảm xúc sâu sắc, qua đó làm nổi bật những phẩm chất cao đẹp của nàng.Khi thấy ngôi mộ "sè sè nắm đất" lạnh lẽo giữa tiết Thanh minh náo nhiệt, Kiều đã thốt lên sự ngạc nhiên về cảnh tượng "hương khói vắng tanh" đầy xót xa. -Điều này cho thấy Thúy Kiều là người con gái: Giàu lòng nhân hậu và trắc ẩn: Kiều có một trái tim nhạy cảm, biết rung động và đau xót trước nỗi đau của một người xa lạ (một người đã khuất từ lâu). Đây là biểu hiện của tấm lòng nhân đạo cao cả

C5

Nội dung của bài thơ là khuyên chúng ta hãy biết quan tâm, sẻ chia và thấu hiểu trước những hoàn cảnh bất hạnh, ngay cả với những người xa lạ. Vì lòng trắc ẩn là sợi dây kết nối con người với con người. Giống như Thúy Kiều, khi chúng ta biết đau xót trước nỗi đau của người khác, tâm hồn chúng ta sẽ trở nên bao dung và cao đẹp hơn.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: QUÊ HƯƠNG (Trích) Quê hương là một tiếng veLời ru của mẹ trưa hè à ơi Dòng sông con nước đầy vơiQuê hương là một góc trời tuổi thơ Quê hương ngày ấy như mơTôi là cậu bé dại khờ đáng yêu Quê hương là tiếng sáo diềuLà cánh cò trắng chiều chiều chân đê Quê hương là phiên chợ quêChợ trưa mong mẹ mang về...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

QUÊ HƯƠNG
(Trích)

Quê hương là một tiếng ve
Lời ru của mẹ trưa hè à ơi
Dòng sông con nước đầy vơi
Quê hương là một góc trời tuổi thơ

Quê hương ngày ấy như mơ
Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu
Quê hương là tiếng sáo diều
Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê

Quê hương là phiên chợ quê
Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa
Quê hương là một tiếng gà
Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng

Quê hương là cánh đồng vàng
Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều
Quê hương là dáng mẹ yêu
Áo nâu nón lá liêu siêu đi về

Quê hương nhắc tới nhớ ghê
Ai đi xa cũng mong về chốn xưa
Quê hương là những cơn mưa
Quê hương là những hàng dừa ven kinh

Quê hương mang nặng nghĩa tình
Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời
Quê hương ta đó là nơi
Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

(Nguyễn Đình Huân

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "".

Câu 3. Em có nhận xét gì về ước mơ của những người lính được thể hiện trong những dòng thơ dưới đây?

"chừng nào thật hoà bình
ra lộ bốn trải ni-lông nằm một đêm cho thoả thích"

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2
17 tháng 9 2025

Câu 1.
Văn bản “Quê hương” được viết theo thể thơ tự do. Đây là thể thơ không bị gò bó về số chữ, số câu hay vần điệu, nhịp điệu linh hoạt. Nhờ đó, tác giả có thể thoải mái bộc lộ cảm xúc về quê hương bằng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi.

Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết”tình cảm gia đình, tình bạn và những ước mơ hồn nhiên, giản dị của tuổi thơ trong ngày Tết. Tác giả đã khắc họa tình cảm ấm áp, sự quan tâm của các thành viên trong gia đình và bạn bè dành cho nhau, đồng thời gửi gắm những ước mơ nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa của trẻ thơ.

Câu 3.
Ước mơ của những người lính trong đoạn thơ được thể hiện rất mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng tha thiết. Họ không mong ước điều gì to tát mà chỉ ước một ngày thật hòa bình, có thể thoải mái nằm nghỉ trên con đường rộng mà không lo chiến tranh, bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hòa bình cháy bỏng của những người lính, đồng thời bộc lộ tình yêu tha thiết với cuộc sống bình yên, giản dị – điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại quý giá vô cùng trong chiến tranh.

Câu 4.
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang ý nghĩa quan trọng trong việc khắc họa nhân vật và chủ đề của văn bản. Chiếc áo không chỉ gợi lên ước mơ hồn nhiên, trong sáng của bé gái, mà còn phản ánh khát vọng được yêu thương, được sống trong niềm vui giản dị của trẻ em. Qua chi tiết này, ta thấy được sự ngây thơ, hồn nhiên nhưng cũng rất giàu tình cảm, biết quan tâm và chia sẻ của các nhân vật. Nó góp phần thể hiện tình bạn trong sáng, chân thành, giàu yêu thương – một tình cảm đẹp và đáng trân trọng.

Câu 5.
Qua câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học sâu sắc về tình bạn và sự sẻ chia. Trong cuộc sống, tình bạn thật sự quý giá khi mỗi người biết quan tâm, nhường nhịn và nghĩ cho nhau. Một món quà, một lời động viên hay một sự quan tâm nhỏ bé cũng đủ khiến tình bạn thêm gắn bó và ý nghĩa. Khi ta biết sống vì bạn bè, niềm vui của bạn cũng trở thành niềm vui của chính mình, nỗi buồn của bạn cũng khiến ta trăn trở, cảm thông. Tình bạn đẹp giúp con người sống nhân ái, vị tha hơn, đồng thời trở thành nguồn động lực để vượt qua khó khăn. Nhờ có sự sẻ chia, tình bạn càng trong sáng, bền chặt và trở thành hành trang tinh thần quý giá trong suốt cuộc đời mỗi người.

20 tháng 11 2025

Câu 1. Thể thơ của văn bản

Thể thơ lục bát.


Câu 2. Đề tài của văn bản

Đề tài: Quê hương và những kỉ niệm tuổi thơ gắn bó, thân thương của tác giả với quê nhà.


Câu 3. Nhận xét về ước mơ của những người lính

→ Ước mơ của người lính rất giản dị nhưng tha thiết. Họ không mơ điều lớn lao, chỉ ước “nằm một đêm cho thoả thích” trên con đường bình yên – một điều rất bình thường với người khác nhưng lại vô cùng quý giá đối với người lính đang sống trong bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hoà bình mạnh mẽtâm hồn mộc mạc, giàu tình yêu cuộc sống của họ.


Câu 4. Ý nghĩa chi tiết “chiếc áo đầm hồng”

→ Chiếc áo đầm hồng là chi tiết nổi bật giúp bộc lộ rõ tính cách hai nhân vật.

  • Với bé Bích, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, thích làm đẹp và mong muốn được như các bạn khác.
  • Với bé Em, việc nhường chiếc áo cho bạn cho thấy tấm lòng nhân hậu, biết sẻ chia, không ganh tị, sẵn sàng nghĩ cho người khác.
    Chi tiết này góp phần làm nổi bật tình bạn trong sáng, đồng thời tạo điểm nhấn cảm xúc cho câu chuyện.

Câu 5. Bài học rút ra từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích

→ Câu chuyện cho em hiểu rằng tình bạn đẹp được xây dựng từ sự chân thành và biết quan tâm nhau. Khi ta biết chia sẻ, nhường nhịn và nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt hơn. Mỗi người đều có những thiếu thốn riêng, và sự đồng cảm sẽ giúp chúng ta trở nên tốt hơn, biết trân trọng những điều giản dị trong cuộc sống.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Trải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không. Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng. Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2), Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa. Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài. Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở, Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.
Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2),
Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa.
Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.
Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
Trâm cài xiêm thắt(6) thẹn thùng,
Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác(7) đòi phen.
Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

(Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm, theo thivien.net)

* Chú thích:

(1) Thư phong: Lấy tích Tô Vũ xé áo lựa viết thư, cột vào chân chim nhạn thả bay về Hán.

(2) Hồng tiện: Nhờ nhạn đem thư buộc ở chân.

(3) Màn mưa trướng tuyết: Chỉ những nơi đóng quân ở cõi ngoài.

(4) Chữ gấm: Đời Tấn, Đậu Thao đi lính, vợ là Tô Huệ làm bài thi "hồi văn" dệt vào gấm dâng lên vua mà xin cho chồng về.

(5) Gieo bói tiền: Gieo ba đồng tiền bàng khi bói quẻ.

(6) Xiêm thắt: Áo quần thắt nhỏ, ở đây ý nói người vợ vì nhớ chồng mà thân thể dần gầy mòn đi.

(7) Rủ thác: Bỏ rèm xuống, cuốn lên.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ.

Câu 3. Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã làm gì? Em có nhận xét gì về những hành động ấy?

Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong văn bản.

Câu 5. Trong văn bản này, người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng gì? Qua tâm trạng đó, em có suy nghĩ gì về giá trị của cuộc sống hoà bình hiện nay?

5
16 tháng 9 2025

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ song thất lục bát.

16 tháng 9 2025

Câu 2. Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi tin chồng

“Trải mấy xuân tin đi tin lại, / Tới xuân này tin hãy vắng không.”

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Trải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không. Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng. Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2), Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa. Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài. Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở, Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.
Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2),
Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa.
Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.
Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
Trâm cài xiêm thắt(6) thẹn thùng,
Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác(7) đòi phen.
Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

(Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm, theo thivien.net)

* Chú thích:

(1) Thư phong: Lấy tích Tô Vũ xé áo lựa viết thư, cột vào chân chim nhạn thả bay về Hán.

(2) Hồng tiện: Nhờ nhạn đem thư buộc ở chân.

(3) Màn mưa trướng tuyết: Chỉ những nơi đóng quân ở cõi ngoài.

(4) Chữ gấm: Đời Tấn, Đậu Thao đi lính, vợ là Tô Huệ làm bài thi "hồi văn" dệt vào gấm dâng lên vua mà xin cho chồng về.

(5) Gieo bói tiền: Gieo ba đồng tiền bàng khi bói quẻ.

(6) Xiêm thắt: Áo quần thắt nhỏ, ở đây ý nói người vợ vì nhớ chồng mà thân thể dần gầy mòn đi.

(7) Rủ thác: Bỏ rèm xuống, cuốn lên.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ.

Câu 3. Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã làm gì? Em có nhận xét gì về những hành động ấy?

Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong văn bản.

Câu 5. Trong văn bản này, người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng gì? Qua tâm trạng đó, em có suy nghĩ gì về giá trị của cuộc sống hoà bình hiện nay?

1

Xhhxjhgdijd

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: (Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

(Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn giữ trọn đạo làm vợ và làm dâu, chăm lo cho chồng ăn học. Học được nửa năm, Tống Trân thi đậu Trạng nguyên, được vua ban áo mão và gả công chúa cho chàng. Tống Trân lấy cớ nhà nghèo mà từ chối. Tống Trân phải trải qua nhiều thử thách hiểm nguy trong thời gian đi sứ nước Tần. Ở quê nhà, Cúc Hoa rơi vào mưu kế của trưởng giả, gả nàng đi cho một người khác. Cùng lúc ấy, Tống Trân trên đường về, biết rõ nguồn cơn và xuất hiện trong ngày rước dâu. Chàng xét xử phân minh rồi đoàn tụ với mẹ và vợ.)

TỐNG TRÂN – CÚC HOA

Mẹ chồng thấy dâu thảo hiền

Đôi hàng nước mắt chảy liền như tuôn.

Khó nghèo có mẹ có con,

Ít nhiều gạn sẻ(1) vẹn tròn cho nhau

Lòng con nhường nhịn bấy lâu

Mẹ ăn cơm ấy ngon đâu hỡi nàng

Cúc Hoa nước mắt hai hàng:

"Lạy mẹ cùng chàng chớ quản(2) tôi

Gọi là cơm tấm canh lê(3)

Mẹ ăn đỡ dạ kẻo khi võ vàng(4)

Chàng ăn cho sống mình chàng,

Dốc lòng kinh sử văn chương đạo là.

Kể chi phận thiếp đàn bà,

Khó nghèo chớ quản nỗi nhà thảm thương".

Thương con mẹ giấu cho vàng,

Bảo rằng gìn giữ để nương tựa mình.

Cúc Hoa trong dạ đinh ninh:

"Lạy mẹ còn có chút tình thương con".

Tức thì trở lại phòng môn,

Cầm tay đánh thức nỉ non bảo chồng:

"Chàng ơi xin tỉnh giấc nồng,

Nay vàng mẹ thiếp cho dùng một chương".

Kể đoạn Cúc Hoa bán vàng,

Bán cho trưởng giả giàu sang hơn người.

Hai bên giá cả hẳn hoi,

Bắc cân định giá được ngoài tám mươi.

Cúc Hoa trở lại thư trai(5)

"Khuyên chàng kinh sử dùi mài cho hay.

Thiếp xin rước một ông thầy,

Để chàng học tập đêm ngày thiếp nuôi".

Một ngày ba bữa chẳng rời,

Nuôi thầy, nuôi mẹ lại nuôi cả chồng.

Nàng thời nhiều ít cũng xong

Đói no chẳng quản miễn chồng làm nên.

Khấn trời lạy Phật đòi phen:

"Chứng minh phù hộ ước nguyền chồng tôi.

Khuyên chàng khuya sớm hôm mai,

Cố chăm việc học đua tài cho hay.

Một mai, có gặp rồng mây(6)

Bảng vàng(7) may dược tỏ bày họ tên

Trước là sạch nợ bút nghiên

Sau là thiếp cũng được yên lòng này".

(Theo bản in của NXB Phổ thông Hà Nội năm 1961,
Bùi Thức Phước sưu tầm và biên soạn, NXB Hội nhà văn, 2012)

Chú thích:

(1) Gạn sẻ: Gạn – chắt lọc và sẻ – chia sớt, chia nhỏ.

(2) Quản: E ngại, ngần ngại. Chớ quản: Không cần ngần ngại, quan tâm.

(3) Canh lê: Canh nấu bằng rau lê, những gia đình nghèo khó thường ăn loại rau này.

(4) Võ vàng: Gầy gò, da dẻ xanh xao, không được hồng hào vì thiếu máu.

(5) Thư trai: Phòng đọc sách, phòng học.

(6) Rồng mây: Hội rồng mây, cơ hội để mọi người thi đậu làm nên danh phận cao sang như rồng gặp mây.

(7) Bảng vàng: Danh sách ghi tên những người thi đỗ.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Có những nhân vật nào xuất hiện trong văn bản?

Câu 3. Trong đoạn trích trên, hoàn cảnh sống của Tống Trân và Cúc Hoa hiện lên như thế nào? Hoàn cảnh sống ấy có vai trò gì trong việc thể hiện số phận nhân vật?

Câu 4. Thông qua mối quan hệ với mẹ chồng, Cúc Hoa có phẩm chất nào đáng quý? Những chi tiết nào giúp em nhận thấy điều đó?

Câu 5. Ước mơ "bảng vàng rồng mây" trong lời khấn nguyện của Cúc Hoa thể hiện mong muốn, khát vọng gì của nhân dân? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

5
16 tháng 9 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm.

16 tháng 9 2025

Câu 2. Nhân vật xuất hiện: Cúc Hoa, Tống Trân, mẹ chồng Cúc Hoa.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau. BẦM ƠI! Ai về thăm mẹ quê taChiều nay có đứa con xa nhớ thầm... Bầm ơi có rét không bầm?Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm runChân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Mạ non bầm cấy mấy đonRuột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thânMưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

BẦM ƠI!

Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm...

Bầm ơi có rét không bầm?
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều
Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!
Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

(Trích Bầm ơi – Tố Hữu, Việt Bắc, NXB Văn học, 1962)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. Văn bản trên viết về đề tài gì?

Câu 3. Hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào qua những dòng thơ: "Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non", "Mưa phùn ướt áo tứ thân"?

Câu 4. Qua hai dòng thơ cuối: "Con đi đánh giặc mười năm / Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi", em hiểu gì về tình cảm và sự thấu hiểu mà người con dành cho mẹ của mình?

Câu 5. Từ văn bản, em có suy nghĩ gì về vai trò của tình mẫu tử trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn 5 – 7 dòng)

2
18 tháng 9 2025

Câu 1.
Trả lời: Văn bản được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2
Trả lời: Văn bản viết về tình yêu thương và công lao vĩ đại của mẹ, thể hiện qua hình ảnh bàn tay mẹ chăm sóc, bảo vệ và ru con.

Câu 3 là gì b

29 tháng 4

chị viết chi tiết thêm tí nữa là em hiểu liền [ko có ý định gì đâu chỉ là chưa hiểu thôi ]

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: MẸCon bị thương, nằm lại một mùa mưaNhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽNhà yên ắng, tiếng chân đi rất nhẹ,Gió từng hồi trên mái lá ùa qua.Nhớ vườn cây che bóng kín sau nhàTrái chín rụng suốt mùa thu lộp độpNhững dãy bưởi sai, những hàng khế ngọt,Nhãn đầu mùa, chim đến bói lao xao...Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đàoCon nhạt miệng, có...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

MẸ

Con bị thương, nằm lại một mùa mưa
Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ
Nhà yên ắng, tiếng chân đi rất nhẹ,
Gió từng hồi trên mái lá ùa qua.

Nhớ vườn cây che bóng kín sau nhà
Trái chín rụng suốt mùa thu lộp độp
Những dãy bưởi sai, những hàng khế ngọt,
Nhãn đầu mùa, chim đến bói lao xao...

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

Ba con đầu đi chiến đấu nơi xa
Tình máu mủ mẹ dồn con hết cả,
Con nói mớ những núi rừng xa lạ
Tỉnh ra rồi, có mẹ, hoá thành quê!

“Ông mất lâu rồi...” – Mẹ kể con nghe
Những chuyện làm ăn, những phen luân lạc,
Mắt nhoà đục và mái đầu tóc bạc
Cả cuộc đời chèo chống bấy nhiêu năm...

Những lúc hiếm hoi, mưa tạnh, trời trăng,
Mẹ hể hả ngắm con hồng sắc mặt
Con ra ngõ, núi chập chùng xanh ngắt
Lại tần ngần nói với mẹ ngày đi.

Mẹ cười xoà, nước mắt ứa trên mi:
– “Đi đánh Mỹ, khi nào tau có giữ!
Súng đạn đó, ba lô còn treo đó,
Bộ mi chừ đeo đã vững hay chăng?”

... Ôi mẹ già trên bản vắng xa xăm
Con đã đi rồi, mấy khi trở lại?
Dằng dặc Trường Sơn những mùa gió trái
Những mùa mưa bạc trắng cả cây rừng!

Con qua đâu thấy mái lá, cây vườn,
Cũng đất nước, phơ phơ đầu tóc mẹ...
Từng giọt máu trong người con đập khẽ,
Máu bây giờ đâu có của riêng con?

                                      1972

     (Bằng Việt, in trong Tác phẩm chọn lọc, NXB Hội nhà văn, 2010)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ.

Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?

Câu 3. Người mẹ trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ dưới đây.

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

Câu 5. Qua bài thơ, nhân vật trữ tình đã thể hiện những tình cảm nào dành cho người mẹ?

4
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Không có niêm luật, vần rõ ràng cố định, độ dài các câu và khổ thơ linh hoạt, giúp tác giả tự do bộc lộ cảm xúc trữ tình.


Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?
Nhân vật trữ tình là người con đang trưởng thành, từng trải qua chiến tranh, nhớ về mẹ và gia đình ở quê hương.


Câu 3. Người mẹ trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất nào?
Người mẹ được khắc họa với những phẩm chất:

  • Hiền hậu, ân cần và lặng lẽ: luôn chăm sóc con một cách tận tụy nhưng âm thầm, không phô trương.
  • Hy sinh, tận tụy: dồn hết tình máu mủ cho con, chèo chống gia đình sau khi chồng mất.
  • Kiên cường, chịu đựng gian khó: chèo chống cuộc sống, chăm sóc con giữa chiến tranh và khó khăn.
  • Tình thương vô bờ bến: mẹ luôn lo lắng cho sức khỏe, sự an toàn và tương lai của con.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ:

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

  • Biện pháp tu từ: miêu tả giàu hình ảnh, đối lập và ẩn dụ.
    • Đối lập: “Con xót lòng – mẹ hái trái bưởi đào”, “con nhạt miệng – mẹ nấu canh” thể hiện sự quan tâm âm thầm nhưng sâu sắc của mẹ.
    • Miêu tả chi tiết sinh động: các món ăn, khói bếp gợi lên hình ảnh ấm áp, bình dị nhưng chan chứa tình mẹ.
  • Tác dụng: Khắc họa tình mẫu tử chân thực, gợi cảm giác ấm áp, thương yêu và ân cần mà mẹ dành cho con, làm nổi bật hình ảnh mẹ hiền hậu, yêu thương con vô bờ.

Câu 5. Qua bài thơ, nhân vật trữ tình đã thể hiện những tình cảm nào dành cho người mẹ?
Nhân vật trữ tình bộc lộ:

  • Nỗi nhớ da diết, xót xa khi nghĩ về mẹ và tuổi thơ bên gia đình.
  • Tình thương, sự biết ơn sâu sắc đối với công lao, hy sinh và tình yêu vô bờ của mẹ.
  • Nỗi lo lắng, ray rứt khi phải rời quê hương, đi chiến đấu xa nhà, sợ mẹ vất vả, tuổi già cô đơn.
  • Sự trân trọng và xúc động trước hình ảnh mẹ già, chịu đựng gian khổ nhưng vẫn quan tâm chăm sóc con.

Nếu bạn muốn, tôi có thể viết lại toàn bộ đáp án theo dạng gọn gàng, đầy đủ, trình bày sẵn sàng nộp bài thi cho lớp 9, giúp dễ học và ghi nhớ. Bạn có muốn tôi làm không?


29 tháng 4

em cũng ko biết vì tại sao bài lại dài thế

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: BÀ MÁ HẬU GIANG (Tố Hữu) Má già trong túp lều tranh Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô Một mình má, một nồi to Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười... Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt? Má già run, trán toát mồ hôi Chạy đâu? Thôi chết, chết rồi! Gót giày đâu đã đạp rơi liếp...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

BÀ MÁ HẬU GIANG
(Tố Hữu)

Má già trong túp lều tranh
Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô
Một mình má, một nồi to
Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười...
Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt?
Má già run, trán toát mồ hôi
Chạy đâu? Thôi chết, chết rồi!
Gót giày đâu đã đạp rơi liếp mành.
Một thằng cướp, mắt xanh mũi lõ
Đốc gươm dài tuốt vỏ cầm tay
Rung rinh bậc cửa tre gầy
Nghênh ngang một ống chân đầy lối đi!

Hắn rướn cổ, giương mi, trơn mắt
Như hổ mang chợt bắt được mồi
Trừng trừng trông ngược trông xuôi
Trông vào bếp lửa: Một nồi cơm to.
Hắn rống hét: "Con bò cái chết!
Một mình mày ăn hết này sao?
Đừng hòng che được mắt tao
Khai mau, du kích ra vào nơi đâu?
Khai mau, tao chém mất đầu!"
Má già lẩy bẩy như tàu chuối khô
Má ngã xuống bên lò bếp đỏ
Thằng giặc kia đứng ngõ trừng trừng
Má già nhắm mắt, rưng rưng
"Các con ơi, ở trong rừng U Minh
Má có chết, một mình má chết
Cho các con trừ hết quân Tây!"
Thằng kia bỗng giậm gót giày
Đạp lên đầu má: "Mẹ mày, nói không?"
Lưỡi gươm lạnh toát kề hông
"Các con ơi! Má quyết không khai nào!"
Sức đâu như ngọn sóng trào
Má già đứng dậy, ngó vào thằng Tây
Má hét lớn: "Tụi bay đồ chó!
Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!
Tao già không sức cầm dao
Giết bay, có các con tao trăm vùng!
Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!
Thân tao chết, dạ chẳng sờn!".

(Trích tập thơ Từ ấy, NXB Văn Học)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. Sự việc gì đã xảy ra trong văn bản "Bà má Hậu Giang"?

Câu 3. Chỉ ra những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc. Em có nhận xét gì về nhân vật này?

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ dưới đây.

Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!

Câu 5. Từ hình tượng bà má trong văn bản, em có suy ngẫm gì về tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2

Câu 1

Văn bản "Bà má hậu Giang" được viết theo thể thơ song thất lục bát

Câu 2

Sự việc xảy ra trong văn bản :một tên giặc xông vào túp lều, tra khảo và dùng bạo lực để bắt bà má khai chỗ ở của du kích

Câu 3

-Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc

+Đạp rơi liếp mành, xông vào nhà dân một cách thô bạ

+Tra khảo, rống hét, buộc bà má phải khai nơi ở của du kích

+Đe dọa chém đầu khi bà má không khai

+Đạp lên đầu bà má, dùng lưỡi gươm lạnh kề hông để uy hiếp

-Nhận xét về nhân vật tên giặc

+Tên giặc hiện lên với bản chất tàn bạo hung hãn mất nhân tính

+Hẳn là đại diện cho tội ác của kẻ thù xâm lược gieo rắc đau thương và mất mát cho nhân dân ta

Câu 4

-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là so sánh. Những người lính được so sánh với rừng đước và rừng chàm

-Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh

+Khẳng định sức mạnh chiến đấu bền bỉ, dẻo dai, bất khuất của những người lính trong kháng chiến

+Thể hiện niềm tin, sự tự hào lớn lao của ba má về những người lính ,người con của cách mạng

+Hình ảnh so sánh gần gũi ,bình dị, tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài thơ

Câu 5

Tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc

-Nhân dân dù gian khổ ,hiểm nguy với một lòng trung thành với cách mạng sẵn sàng hi sinh để bảo vệ tổ quốc

-Tinh thần kiên cường ,bất khuất được thể hiện ở chỗ không chùn bước trước mọi nguy hiểm ,áp bức sẵn sàng đối mặt với cái chết để bảo vệ Lý tưởng

-Lòng dũng cảm phi thường được thể hiện qua việc vượt lên nỗi sợ hãi Bản năng để đứng vững chống lại kẻ thù mạnh hơn nhiều lần

Câu 1. Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ song thất lục bát.

Câu 2. Trong văn bản đã xảy ra sự việc: bà má Hậu Giang bị tên giặc bắt, tra tấn dã man vì che giấu, nuôi cán bộ cách mạng, nhưng bà vẫn một lòng trung kiên, không khai báo.

Câu 3. Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc: Đánh đập, tra tấn bà má tàn nhẫn Đe dọa, ép bà khai ra cán bộ cách mạng → Nhận xét: Tên giặc là kẻ hung bạo, vô nhân tính, tàn ác, đại diện cho thế lực xâm lược tàn bạo.

Câu 4. Biện pháp tu từ: So sánh “Con tao, gan dạ anh hùng / Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm” → Tác dụng: Làm nổi bật lòng dũng cảm, khí phách anh hùng của con người miền Nam; đồng thời gợi vẻ đẹp mạnh mẽ, bền bỉ và cao quý của con người gắn với thiên nhiên quê hương.

Câu 5. (5–7 dòng) Qua hình tượng bà má Hậu Giang, em cảm nhận được tinh thần yêu nước sâu sắc của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến. Dù chỉ là người dân bình thường, bà vẫn sẵn sàng hi sinh bản thân để bảo vệ cách mạng. Bà đại diện cho những người mẹ Việt Nam anh hùng, giàu lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Chính tinh thần ấy đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn giúp dân tộc ta chiến thắng kẻ thù. Em cảm thấy rất xúc động và tự hào về truyền thống ấy.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: BÀ MÁ HẬU GIANG (Tố Hữu) Má già trong túp lều tranh Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô Một mình má, một nồi to Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười... Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt? Má già run, trán toát mồ hôi ...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

BÀ MÁ HẬU GIANG
(Tố Hữu)

Má già trong túp lều tranh
Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô
Một mình má, một nồi to
Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười...
Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt?
Má già run, trán toát mồ hôi
Chạy đâu? Thôi chết, chết rồi!
Gót giày đâu đã đạp rơi liếp mành.
Một thằng cướp, mắt xanh mũi lõ
Đốc gươm dài tuốt vỏ cầm tay
Rung rinh bậc cửa tre gầy
Nghênh ngang một ống chân đầy lối đi!

Hắn rướn cổ, giương mi, trơn mắt
Như hổ mang chợt bắt được mồi
Trừng trừng trông ngược trông xuôi
Trông vào bếp lửa: Một nồi cơm to.
Hắn rống hét: "Con bò cái chết!
Một mình mày ăn hết này sao?
Đừng hòng che được mắt tao
Khai mau, du kích ra vào nơi đâu?
Khai mau, tao chém mất đầu!"
Má già lẩy bẩy như tàu chuối khô
Má ngã xuống bên lò bếp đỏ
Thằng giặc kia đứng ngõ trừng trừng
Má già nhắm mắt, rưng rưng
"Các con ơi, ở trong rừng U Minh
Má có chết, một mình má chết
Cho các con trừ hết quân Tây!"
Thằng kia bỗng giậm gót giày
Đạp lên đầu má: "Mẹ mày, nói không?"
Lưỡi gươm lạnh toát kề hông
"Các con ơi! Má quyết không khai nào!"
Sức đâu như ngọn sóng trào
Má già đứng dậy, ngó vào thằng Tây
Má hét lớn: "Tụi bay đồ chó!
Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!
Tao già không sức cầm dao
Giết bay, có các con tao trăm vùng!
Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!
Thân tao chết, dạ chẳng sờn!".

(Trích tập thơ Từ ấy, NXB Văn Học)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. Sự việc gì đã xảy ra trong văn bản "Bà má Hậu Giang"?

Câu 3. Chỉ ra những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc. Em có nhận xét gì về nhân vật này?

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ dưới đây.

Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!

Câu 5. Từ hình tượng bà má trong văn bản, em có suy ngẫm gì về tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

3
17 tháng 9 2025

Câu 1.
Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Trong văn bản, sự việc xảy ra là: tên giặc xông vào túp lều, tra hỏi, đe dọa bà má Hậu Giang để dò la chỗ ở của du kích. Dù bị uy hiếp, bà má kiên quyết không khai báo, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ con em và nghĩa quân.

Câu 3.
Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc:

  • Đạp rơi liếp mành, nghênh ngang vào nhà.
  • Hét lớn, hăm dọa “khai mau, tao chém mất đầu”.
  • Đạp lên đầu bà má, kề gươm lạnh toát vào hông.
    → Những hành động đó cho thấy bản chất tàn bạo, dã man, vô nhân tính của kẻ thù xâm lược.

Câu 4.
Hai dòng thơ:
“Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!”

→ Biện pháp tu từ: so sánh (so sánh con của má với rừng đước, rừng chàm).
→ Tác dụng: Làm nổi bật sức mạnh, tinh thần gan dạ, anh hùng của những người con kháng chiến; đồng thời ca ngợi sức sống bền bỉ, kiên cường, giàu sức mạnh của nhân dân miền Nam.

Câu 5.
Hình tượng bà má Hậu Giang đã gợi cho em suy ngẫm sâu sắc về tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Dù là người mẹ già yếu đuối, bà má vẫn kiên cường, bất khuất trước quân thù, quyết không khai báo, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ con em và nghĩa quân. Qua đó, ta thấy được sức mạnh phi thường của những con người bình dị khi đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần yêu nước ấy chính là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt qua gian khổ, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

câu 1 văn bản trên được viết theo thể thơ tự do

câu 2 sự việc xảy ra trong văn bản lề 1 tên giặc tây xông vào túp lều của bé Hậu Giang xe hội mẹ về nơi ở của du kích và đe dọa hành hạ mà để buộc má phải khai bí mật

câu 3 những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc

+ cầm gươm xông vào nhà nghênh ngang ,hống hách

+ rộng hét, đe dọa chém đầu má già

+ đạp lên đầu má, dùng vũ lực tra khảo

câu 4 :biện pháp tu từ so sánh(" gan dạ anh hùng như rừng nước mặn như rừng tràm thơm")

- tác dụng: làm nổi bật tinh thần dũng cảm mạnh mẽ của các con và nhân dân vùng U Minh, thể hiện niềm tin ,niềm tự hào của má vào thế hệ kháng chiến ;đồng thời tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ

câu 5: hình tượng bà má Hậu Giang cho thấy tinh thần yêu nước vô cùng cao đẹp của nhân dân ta. Dù tuổi già, sức yếu, mẹ vẫn kiên cường phải không sợ hy sinh, quyết không khai bí mật cho giặc.Tình yêu nước ấy xuất phát từ lòng căm thù giặc sâu sắc về niềm tin vào thế hệ con cháu . Trong mọi hoàn cảnh , nhân dân ta luôn một lòng bảo vệ tổ quốc . Chính tinh thần bất khuất đó đã làm sức mạnh chiến thắng của dân tộc

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:Chuyện Lý tướng quân "Vua Giản Định nhà Hậu Trần lên ngôi ở Mô Độ(1), hào kiệt bốn phương, gần xa hưởng ứng, đều chiêu tập đồ đảng làm quân Cần Vương. Người huyện Đông Thành(2) là Lý Hữu Chi cũng do chân một người làm ruộng nổi lên, tính vốn dữ tợn nhưng có sức khỏe, giỏi đánh trận, Quốc công Đặng Tất(3) tiến cử cho Lý được làm...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

Chuyện Lý tướng quân

"Vua Giản Định nhà Hậu Trần lên ngôi ở Mô Độ(1), hào kiệt bốn phương, gần xa hưởng ứng, đều chiêu tập đồ đảng làm quân Cần Vương. Người huyện Đông Thành(2) là Lý Hữu Chi cũng do chân một người làm ruộng nổi lên, tính vốn dữ tợn nhưng có sức khỏe, giỏi đánh trận, Quốc công Đặng Tất(3) tiến cử cho Lý được làm chức tướng quân, sai cầm một cánh hương binh đi đánh giặc. Quyền vị đã cao, Lý bèn làm những việc trái phép, dựa lũ trộm cướp như lòng ruột, coi người nho sĩ như cừu thù, thích sắc đẹp, ham tiền tài, tham lam không chán, lại tậu ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn đuổi xóm giềng cho rộng đất, đi kiếm những hoa kỳ đá lạ từ bên huyện khác đem về. Người trong vùng phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ thì em đi, chồng về thì vợ đổi, ai nấy đều vai sưng tay rách, rất là khổ sở, nhưng hắn vẫn điềm nhiên không chút động tâm.

Bấy giờ có một ông thầy tướng số đến cửa xin ăn và có thể nói được những việc họa phúc. Lý bảo xem tướng mình, ông thầy nói:

– Lợi cho việc làm không gì bằng nói thẳng, khỏi được tật bệnh không gì bằng thuốc đắng. Nếu ngài dung nạp thì tôi sẽ nói hết lời. Đừng vì đắng miệng mà ghét quở khiến tôi phải e dè kiêng tránh mới được.

Lý nói:

– Được, không hề gì.

Ông thầy nói:

– Điều thiện ác tích lâu sẽ rõ, sự báo ứng không sai chút nào. Cho nên luận số trước phải luận lý, tướng diện không bằng tướng tâm. Nay Tướng quân có dữ mà không lành, khinh người mà trọng của, mượn oai quyền để làm bạo ngược, buông tham dục để thỏa ngông cuồng, đã trái lòng trời, tất bị trời phạt, còn cách nào mà trốn khỏi tai họa!

Lý cười:

– Ta đã có binh lính, có đồn lũy, tay không lúc nào rời qua mâu, sức có thể đuổi kịp gió chớp, trời dù có giỏi cũng sẽ phải tránh ta không kịp, còn giáng hoạ cho ta sao được.

Thầy tướng nói:

– Tướng quân cậy mình mạnh giỏi chưa thể lấy lời nói để cho hiểu được, vậy tôi có chùm hạt châu nhỏ, xin đưa tướng quân xem sẽ biết rõ dữ lành, tướng quân có bằng lòng xem không?

Nhân lấy chùm hạt châu ở trong tay áo ra. Lý trông xem, thấy trong đó có lò lửa, vạc sôi, bên cạnh có những người đầu quỷ ghê gớm, hoặc cầm thừng chão, hoặc cầm dao cưa, mình thì đương bị gông xiềng, bò khúm núm ở bên vạc dầu, lấm lét sợ toát mồ hôi. Hỏi có cách gì cứu gỡ không, thì thầy tướng nói:

– Gốc ác đã sâu, mầm vạ sắp nẩy. Cái kế cần kíp ngày nay chỉ còn có đuổi hết hầu thϊếp, phá hết vườn ao, trút bỏ binh quyền, quy đầu phúc địa, tuy tội chưa thể khỏi được, nhưng cũng còn có thể giảm trong muôn một.

Lý ngẫm nghĩ lúc lâu rồi nói:

– Thôi thầy ạ, tôi không thể làm thế được. Có ai lại vì lo cái vạ sau này chưa chắc đã có, mà vứt bỏ những cái công cuộc sắp thành làm hì hục trong mấy năm bao giờ.

Sau đó hắn càng làm những sự dâm cuồng, chém giết, không kiêng dè gì cả. Người mẹ tức giận nói:

– Ưa sống ghét chết, ai ai cũng lòng, đạo trời sáng tỏ, cớ sao mày hay làm những sự giết chóc như vậy. Không ngờ ta đến lúc tuổi già, lại phải trông thấy đứa con mắc hình lục có ngày. […] Năm 40 tuổi thì Lý chết ở nhà.

Trước đây có người bản châu là Nguyễn Quỳ, khảng khái chuộng điều khí tiết, vốn cùng chơi thân với Thúc Khoản(4), nhưng chết đã ba năm nay rồi. Một hôm Thúc Khoản đi chơi sớm, chợt gặp ở đường; Nguyễn Quỳ bảo Thúc Khoản rằng:

– Phụ thân sắp bị đem ra tra hỏi. Tôi vì quen thân với anh, nên đến bảo cho anh biết trước. Anh có muốn xem, tối mai tôi cho người đến đón, anh sẽ được xem. Nhưng xem rồi cần phải giữ kín. Nếu nói hở ra một lời thì tai vạ sẽ lây sang đến tôi ngay.

[Lược một đoạn: Nửa đêm hôm đó, Thúc Khoản được đón xuống dưới Minh Ti, chứng kiến cảnh xét tội của các linh hồn. Thúc Khoản được tận mắt chứng kiến các phán quan tâu bày tội trạng, công lao của những người ấy. Người làm việc ác bị định tội, người hành thiện tích đức thì được làm tiên hoặc được cho chuyển kiếp vào nhà có phúc, hưởng lộc ba đời,… Đến lượt Hữu Chi, vì những tội ác chồng chất mà hắn đã từng gây ra, hắn đã bị trừng trị bằng những hình phạt vô cùng đau khổ: Lấy nước sôi rửa ruột để trị cái tội ghẹo vợ người, lấy truỳ thủ moi ruột để lòng tham không nổi lên nữa, bị đày vào ngục Cửu U lấy dây da chét lấy đầu, lấy dùi lửa đóng vào chân, bị chim cắt mổ vào ngực, bị rắn độc cắn vào bụng, trầm luân kiếp kiếp. Thúc Khoản chứng kiến hết thảy, giật mình tỉnh dậy ở cõi thực. Chàng quyết định đem tán cấp của cải cho mọi người và đốt hết văn tự nợ, vào rừng hái thuốc để tu luyện.]

Lời bình:

Than ôi! Đạo trời chí công mà vô tư, lưới trời tuy thưa mà chẳng lọt, cho nên hoặc có người lúc sống khỏi vạ mà lúc chết bị hình. Song, chịu hoạ ở lúc sống, người đã không hiểu, phải tội ở lúc chết, người lại không hay; vì thế mà đời thường có lắm loạn thần tặc tử. Ví thử họ hiểu, họ hay thì dù bảo làm ác cũng không dám làm. Song Lý Mỗ đã trông thấy và biết rõ rồi lại còn làm tệ hơn. Đó là người hư tồi bậc nhất không chuyển đổi được, không còn thể nói bàn gì nữa."

(Nguyễn Dữ, Truyền kì mạn lục, theo truyenhdt.com)

Chú thích:

(1) Mộ Đô: Yên Mô, nay thuộc tỉnh Ninh Bình.

(2) Đông Thành: Huyện Đông Thành, nay thuộc Nghệ An.

(3) Đặng Tất: (Không rõ năm sinh, mất năm 1409) Một võ tướng giỏi và chủ chốt trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Trần Giản Định khởi xướng. Năm 1408, Đặng Tất chỉ huy đánh trận Bô Cô, giết được hai tướng Minh; Mộc Thạnh cũng suýt bị nguy, may chạy thoát. Cũng vì chiến công đó, Giản Định nghe lời gièm pha, không theo kế hoạch của Đặng Tất lại giết oan ông. Con trai Đặng Tất là Đặng Dung đã tức giận bỏ về Nghệ An đi theo Trần Quý Khoáng.

(4) Thúc Khoản: Con trai của Lý Hữu Chi.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?

Câu 2. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.   

Câu 3. Theo em, nhân vật chính trong văn bản trên là ai? Nhân vật ấy được mô tả với những nét tính cách nào?  

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết hoang đường, kì ảo trong truyện và nêu tác dụng của chi tiết ấy.

Câu 5. Phát biểu ý nghĩa của văn bản trên và rút ra bài học cho bản thân. (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2
18 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì (truyện tự sự trung đại), trích Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

Câu 2.

Ngôi kể thứ ba.

Câu 3.

Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.

Tính cách: tàn ác, dâm cuồng, tham lam, coi thường đạo lí và lời khuyên, biết luật nhân quả nhưng vẫn cố tình làm ác.

Câu 4.

Chi tiết hoang đường, kì ảo: Thúc Khoản được xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xét tội các linh hồn và hình phạt ở cõi âm.

Tác dụng: tăng sức hấp dẫn cho truyện, khắc sâu tư tưởng nhân quả – thiện ác báo ứng, răn đe con người.

Câu 5.

Văn bản khẳng định đạo trời công bằng, gieo nhân nào gặt quả nấy; kẻ làm ác dù thoát tội lúc sống cũng không tránh khỏi trừng phạt. Truyện phê phán những kẻ cố chấp, bất nhân và đề cao lối sống hướng thiện. Bài học rút ra: mỗi người cần sống có đạo đức, biết kiềm chế dục vọng, làm việc thiện, tránh làm điều ác để không tự chuốc lấy hậu quả đau khổ cho bản thân và người khác.

18 tháng 12 2025

1.văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì

2. Ngôi thứ ba

3. NV chính : lý hữu chí

+ Đặc điểm: dữ tợn ,tham lam,độc ác, ích kỉ,bạo ngược, coi thường đạo lý

4.chi tiết : thúc khoán xuống minh ti chứng kiến cảnh xử tội các linh hồn

Tác dụng: tăng tính hấp dẫn

5 truyện phê phán về cách sống độc ác ích kỉ gieo nhân nào gặp quả đấy, là lời răn dậy về việc sống lương thiện, sẻ chia và vì cộng đồng

Câu 1.a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong...
Đọc tiếp

Câu 1.

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản "Bếp lửa" Vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:

– Xác định được các ‎ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ‎ý‎:

c1. Chỉ ra các yếu tố luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong bài viết:

– Luận đề: Vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt Nam qua hình ảnh người bà và bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt.

– Các luận điểm:

+ Luận điểm 1: Sự sóng đôi của hình tượng bếp lửa và bà.

++ Lí lẽ 1: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn kí ức của cháu về bà.

++ Lí lẽ 2: Mùi khói gắn liền với sự hi sinh, vất vả của bà trong những năm tháng đói nghèo. (Bằng chứng: Câu văn trong tác phẩm Vợ nhặt)

++ Lí lẽ 3: Hình ảnh bếp lửa và bà gắn với tiếng chim tu hú khắc khoải. (Bằng chứng: Tu hú kêu trên những cánh đồng xa, Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế, Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?)

++ Lí lẽ 4: Hình ảnh bếp lửa và bà trong những năm giặc giã. (Bằng chứng: Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,/ Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ".)

+ Luận điểm 2: Ngọn lửa tượng trưng cho vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt.

++ Lí lẽ 1: Hình ảnh bếp lửa trong sự tả thực đã chuyển hoá thành ngọn lửa của trái tim, của niềm tin và của sức sống con người. (Bằng chứng: kì lạ và thiêng liêng, Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

++ Lí lẽ 2: Người đàn bà dưới mái ấm gia đình trong mọi trường hợp thường gắn liền với những gì thường nhật, thân thiết nhất. (Bằng chứng: Người mẹ dân tộc A-va trong Cha và mẹ, lửa và nước)

c2. Nhận xét về mối quan hệ giữa các yếu tố kể trên: Các yếu tố kể trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hướng đến việc làm rõ cho luận điểm và tập trung làm sáng tỏ cho luận đề của bài viết. Sự kết hợp giữa các yếu tố kể trên góp phần làm tăng sức thuyết phục cho văn bản.

Câu 2.

a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:

Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 400 ± 100 chữ).

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Ý nghĩa của tình cảm gia đình đối với việc hình thành nhân cách con người.

c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:

HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:

c1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

c2. Thân bài:

* Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:

– Giải thích các khái niệm:

+ Tình cảm gia đình: Là tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, trách nhiệm, sẻ chia giữa các thành viên trong gia đình với nhau.

+ Nhân cách: Là những phẩm chất, đặc điểm tâm lí, tính cách, đạo đức của một con người, được hình thành và thể hiện qua thái độ, hành vi trong cuộc sống.

– Ý nghĩa của tình cảm gia đình đối với việc hình thành nhân cách:

+ Là cái nôi nuôi dưỡng phẩm chất con người: Gia đình là trường học đầu tiên, nơi con người học được những bài học đạo đức cơ bản nhất (lòng yêu thương, sự sẻ chia, lòng biết ơn, sự bao dung, trách nhiệm,...). Tình cảm gia đình sẽ nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người có một trái tim nhân ái.

+ Là điểm tựa vững chắc cho mỗi con người trên đường đời: Tình cảm gia đình mang đến sự an toàn, che chở, giúp con người có đủ nghị lực để đối mặt và vượt qua khó khăn, thất bại trong cuộc sống.

+ Là kim chỉ nam có tác dụng định hướng cho con người: Gia đình truyền tải những giá trị văn hoá, truyền thống, giúp con người định hình lẽ sống, mục tiêu, lý tưởng, từ đó có định hướng rõ ràng trong cuộc đời. 

– Thực trạng về tình cảm gia đình hiện nay:

+ Mặt tích cực: Nhiều gia đình vẫn giữ gìn được sự ấm áp, truyền thống tốt đẹp, là điểm tựa cho các thành viên.

+ Mặt tiêu cực: Trong xã hội hiện đại, nhịp sống hối hả, áp lực công việc, sự phát triển của công nghệ và lối sống cá nhân hoá đang khiến khoảng cách giữa các thế hệ gia tăng, tình cảm gia đình đôi khi bị xao nhãng (ví dụ: thiếu giao tiếp, ít thời gian bên nhau).

– Hậu quả khi thiếu vắng tình cảm gia đình: Khi thiếu vắng tình yêu thương, sự quan tâm từ gia đình, con người dễ trở nên ích kỉ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, hoặc sa ngã vào những tệ nạn xã hội,...

– Giải pháp để vun đắp tình cảm gia đình trong bối cảnh hiện nay:

+ Mỗi thành viên cần chủ động dành thời gian chất lượng cho nhau (cùng ăn cơm, trò chuyện, tham gia các hoạt động chung).

+ Thế hệ trẻ cần học cách lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ với ông bà, cha mẹ; đồng thời, người lớn cũng cần cởi mở, tôn trọng sự khác biệt của giới trẻ.

+ ...

c3. Kết bài: Khái quát lại vấn đề được nghị luận.

0