K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

PHỞ

− Phở ăn bất cứ vào giờ nào cũng đều thấy trôi cả. Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được. Trong một ngày ăn thêm một bát phở, cũng như lúc trò chuyện ăn giọng nhau mà pha thêm một ấm trà, cùng thưởng thức với bạn bè. Hình như không ai nỡ từ chối một người quen rủ đi ăn phở. Phở giúp cho người thanh bạch đủ điều kiện biểu hiện lòng thành theo với bầu bạn nó hợp với cái túi nhỏ của mình. Phở còn tài tình ở cái chỗ là mùa nào ăn cũng thấy có nghĩa thâm thuý. Mùa nắng, ăn một bát, ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt qua lưng, thấy như giời quạt cho mình. Mùa đông lạnh, ăn bát phở nóng, đôi môi tái nhợt chợt thắm tươi lại. Trong một ngày mùa đông của người nghèo, bát phở có giá trị như một tấm áo kép mặc thêm lên người. Đêm đông, có người ăn phở xong, tự coi như vừa nuốt được cả một cái chăn bông và tin rằng có thể ngủ yên đến sáng, để mai đi làm khoẻ. […]        

− Phở cũng có những quy luật của nó. Như tên các hàng phở, hiệu phở. Tên người bán phở thường chỉ dùng một tiếng, lấy ngay cái tên cúng cơm người chủ hoặc tên con mà đặt làm tên gánh, tên hiệu, ví dụ phở Phúc, phở Lộc, phở Thọ, phở Trưởng ca, phở Tư,… Có khi một cái tên tật nguyền trên thân thể người bán phở được cảm tình quần chúng thân mật nhắc lại thành một cái tên hiệu: phở Gù, phở Lắp, phở Sứt,… cái khuyết điểm trên hình thù ấy đã chuyển thành một cái uy tín trong nghề bán miếng chín mà lưu danh một thời trên cửa miệng những người sành. Quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân Hà Nội có nhiều sáng kiến để đặt tên cho những người họ yêu tin. […]

[…] Hương vị phở vẫn như xa xưa, nhưng cái tâm hồn người ăn phở ngày nay, đã sáng sủa và lành mạnh hơn nhiều … Ngày trước, anh hàng phở có tiếng rao, có người rao nghe quạnh hiu như tiếng bánh dày giò đêm đông tội lỗi trong ngõ khuất; có người rao lên nghe vui rền. Tại sao, bây giờ Hà Nội vẫn có phở, mà tiếng rao lại vắng hẳn đi? Có những lúc, tôi muốn thu thanh vào đĩa, tất cả những cái tiếng rao hàng quà rong của tất cả những thứ quà rong, của tất cả những thư quà miếng chín trên toàn cõi quê hương chúng ta. Những tiếng rao ấy, một phần nào vang hưởng lên cái nhạc điệu sinh hoạt chung của chúng ta đấy.

[…]  Đêm Hà Nội, nay thức khuya nhất vẫn là những hiệu phở […] Và cái món ăn Hà Nội đầu tiên … vẫn là cái món phở ngày xưa chúng ta vẫn ăn đủ cả rau mùi hành hoa đủ chua cay và sôi sùng sục. Tôi biết ở Nam Bộ vẫn có phở, phở hủ tíu, nhưng bát phở Bắc ăn ở đầu hè di cư không bao giờ có thể ngon được bằng bát phở cổ truyền Hà Nội ăn ngay bên lò than quả bàng đỏ lửa giữa ngàn năm văn vật này.

(Trích tùy bút Phở − Nguyễn Tuân, Báo Văn số 1, 10-5-1957, và số 2, 17-5-1957. In lại trong Cảnh sắc và hương vị đất nước, NXB Tác Phẩm Mới, 1988)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên là gì?

Câu 2. Theo tác giả, việc đặt tên của các quán phở bao gồm những quy luật nào?

Câu 3. Tác giả đã nói về phở trên những phương diện nào? Qua những phương diện đó, hãy nêu nhận xét của em về cái nhìn của tác giả đối với món ăn này.

Câu 4. Phát biểu đề tài, chủ đề của văn bản.

Câu 5. Qua văn bản, tác giả thể hiện tình cảm gì đối với món ăn thấm đượm tinh thần dân tộc này?

12
11 tháng 11 2025

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính:

  • Miêu tả kết hợp với tự sự và biểu cảm.
    Văn bản miêu tả hương vị, giá trị, không gian của phở, kể những câu chuyện liên quan và thể hiện cảm xúc, tình cảm của tác giả đối với món ăn.

Câu 2. Quy luật đặt tên các quán phở:

  • Tên quán thường dựa vào tên cúng cơm của chủ hoặc tên con (ví dụ: phở Phúc, phở Lộc, phở Thọ…).
  • Có khi lấy đặc điểm thân thể hoặc khuyết điểm của người bán làm tên hiệu (ví dụ: phở Gù, phở Lắp, phở Sứt).
  • Cái tên vừa gợi cảm tình vừa tạo uy tín trong nghề.

Câu 3. Phở được nói đến trên các phương diện:

  • Thời gian, hoàn cảnh ăn phở: sáng, trưa, chiều, tối, mùa nắng, mùa đông.
  • Giá trị sử dụng: no bụng, ấm áp, giải tỏa mệt nhọc, tinh thần.
  • Văn hóa và xã hội: tên quán, tiếng rao, truyền thống, sự gắn bó với Hà Nội.
  • Nhận xét về cái nhìn của tác giả: tác giả yêu quý, trân trọng, coi phở là món ăn gắn bó với đời sống, văn hóa và tâm hồn người Hà Nội.

Câu 4. Đề tài, chủ đề của văn bản:

  • Đề tài: Món phở – món ăn đặc trưng của Hà Nội và Việt Nam.
  • Chủ đề: Tôn vinh phở như một nét đẹp văn hóa, tinh thần dân tộc, gắn bó với đời sống con người.

Câu 5. Tình cảm của tác giả:

  • Yêu mến, trân trọng, gắn bó và tự hào với phở – món ăn dân tộc đậm đà hương vị, văn hóa, và tinh thần của người Hà Nội, Việt Nam.
15 tháng 12 2025

Kg

18 tháng 12 2025

Câu 1:

PTBĐ chính là thuyết minh

Câu 2:

-Theo phong cách của Nguyễn Tuân, việc đặt tên quá phở thường theo quy luật:

+Thường chỉ dùng một chữ

+ Tên gọi giản dị, dân dã , dễ nhớ nhưng tạo thành hương liệu riêng gắn liền với hương vị của từng món

Câu 3

- Các phương tiện: Tác giả nhìn nhận phở quá hương vị ( khứu giác,vị giác),màu sắc ( thị giác), cách chế biến, cách đặt tên quán và đặc biệt là giá trị văn hoá, tinh thần của nó đối với người Việt

- Nhận xét: Cái nhìn của tác giả vô cùng tinh tế, tài hoa và nguyên tắc. Ông không chỉ coi phở là 1 món ăn mà coi đó là 1 " tác phẩm nghệ thuật", một nét đi sản văn hóa quý báu của dân tộc.

Câu 4:

-Đề tài: Ẩm thực Hà Nội

- Chủ đề : Ca ngợi vẻ đẹp, hương vị đặc trưng của giá trị văn hóa truyền thống của món phở , quá đó thể hiện tình yêu quê hương đất nước qua những điều bình dị nhất

Câu 5:

-Tác giả thể hiện sự trân trọng, tự hào và tình yêu tha thiết đối với món phở. Qua đó, ông bộc lộ tâm hồn nhạy cảm, sự gắn bó sâu nặng với những giá trị văn hóa cổ truyền và lòng tự tôn của dân tộc thông qua tinh hoa ẩm thực

20 tháng 12 2025

Câu 1 phương thức biểu đạt là miêu tả


23 tháng 12 2025

Câu 1 : Phương thức biểu đạt chính trong bài là thuyết minh

Câu 2 :

23 tháng 12 2025

Câu 1 : Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là biểu cảm kết hợp với miêu tả.

Câu 2: Theo văn phong và tư duy của Nguyễn Tuân, việc đặt tên quán phở thường phản ánh những đặc điểm độc đáo, mang dấu ấn riêng của quán hoặc của con người tạo nên nó.

Câu 3: Tác giả nói về phở trên nhiều phương diện: cách chế biến, hương vị, cách thưởng thức, không gian ăn phở, và cả những giá trị văn hóa, tinh thần mà món ăn này mang lại. Qua đó, có thể thấy Nguyễn Tuân có cái nhìn rất tinh tế, yêu mến và tự hào về món phở, coi nó không chỉ là một món ăn mà còn là một nét đẹp văn hóa đặc sắc của dân tộc.

Câu 4:Đề tài: Món phở Hà Nội.Chủ đề: Ca ngợi vẻ đẹp tinh tế, giá trị văn hóa và sự gắn bó của món phở với đời sống người Việt.

Câu 5:Qua văn bản, tác giả thể hiện tình cảm yêu mến, tự hào, và trân trọng sâu sắc đối với món phở, coi đó là một nét đẹp văn hóa độc đáo, thấm đượm tinh thần dân tộc Việt Nam


24 tháng 12 2025

Câu 1 phương thức biểu đạt chính là thuyết minh

Câu 2 việc đặt tên quán phở bao gồm gồm những quy luật

dùng tên cúng cơm của người chủ hoặc tên con để đặt cho tên gánh tên hiệu

Lấy 1 đặc điểm tật nguyền trên cơ thể người bán phở để đặt cho tên gánh tên hiệu

Câu 3 tác giả đã nói về phở trên những phương diện nào

Thời điểm thích hợp để ăn phở

Những quy luật trong việc đặt tên cho quán phở

Câu 4

Đề tài phở

Chủ đề ca ngợi món phở 1 món ăn truyền thống đặc sắc tinh tế và gắn bó sâu sắc với đời sống của người Việt đặc biệt là người Hà Nội


Câu 5 tình cảm của tác giả đối với


28 tháng 12 2025

Hdugwbsbfhmazvnd

GdhhdhdnKdmhahxb

BbxjzbbdhjBsushhfigg

Hehhehduur


29 tháng 12 2025

Câu 1:Phương thức biểu đạt chính là tự sự

2 tháng 1

Câu 1 thuyết minh

31 tháng 3

Câu 1:

phường thức biểu đạt chính: thuyết minh.

Câu 2:

Đặt tên cho quán phở cần:

- Đặt tên theo người bán, người chủ, tên con.

- Lấy một đặc điểm tật nguyền của người ấy,...

Câu 3:

Câu 4:

- Đề tài: phở.

- Chủ đề : ca ngợi món ăn. Một phần đặc sắc của một món ăn nổi tiếng tại Việt Nam,cũng là một phần truyền thống.

Câu 5:

- Tình yêu của tác giả với món phở:

+Ông thể hiện sự quan tâm,sự trìu mến với món phở,...

+ Ông cũng tự hào, sự hoài niệm về món ăn truyền thống của dân tộc.

(5,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: Người đã cho cậu bé miền Nam cái tem thư hôm trước là người bạn mà tôi thích hơn hết. Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng, năm nay gần 14 tuổi, tên gọi Ga-ro-nê. Cậu rất tử tế, coi miệng cười thì biết. Ngoài Ga-ro-nê tôi còn quen nhiều bạn nữa. Người tử tế hơn hết, thông minh hơn hết, người chắc chắn sẽ được phần thưởng thứ nhất, ai cũng...
Đọc tiếp

(5,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

Người đã cho cậu bé miền Nam cái tem thư hôm trước là người bạn mà tôi thích hơn hết. Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng, năm nay gần 14 tuổi, tên gọi Ga-ro-nê. Cậu rất tử tế, coi miệng cười thì biết. Ngoài Ga-ro-nê tôi còn quen nhiều bạn nữa. Người tử tế hơn hết, thông minh hơn hết, người chắc chắn sẽ được phần thưởng thứ nhất, ai cũng biết được là Đe-ro-xi. Còn Pe-co-xi – con người thợ khoá, thực là một người học trò đáng thương. Theo lời người ta nói thì cậu thường bị cha đánh đập, đến nỗi cậu ấy thành ra người nhút nhát, mỗi khi hỏi ai hay lỡ chạm phải ai là cậu "xin lỗi" luôn miệng và nhìn người ta bằng đôi mắt hiền lành, buồn bã. Trong ngần ấy người bạn, theo ý tôi, thì Ga-ro-nê là người tốt hơn cả.

Chúng tôi chỉ được nghỉ có hai ngày. Ấy thế mà tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận không được gặp Ga-ro-nê. Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu. Cả lớp tôi đều có thiện cảm với cậu, trừ những đứa độc ác vì Ga-ro-nê chống lại những hành động độc ác của chúng: mỗi khi có một đứa lớn định trêu ghẹo hay hà hiếp một đứa bé, mà đứa bé gọi Ga-ro-nê đến thì đứa lớn kia buộc phải đứng yên ngay.

Bố Ga-ro-nê là thợ máy xe lửa. Vì bị ốm liền hai năm nên Ga-ro-nê đi học hơi chậm. Nhưng nay cậu là người lớn và khoẻ nhất lớp; cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi... Khoẻ vậy, mà lại tốt nữa... Ai hỏi bất cứ cái gì: cây bút, cái tẩy, tờ giấy, cậu vui vẻ cho mượn hoặc cho hẳn ngay. Thứ Bảy, cậu đã cho một học sinh lớp Một hai xu. Bởi vì cậu này để ai lấy mất tiền, không có gì để mua cuốn vở. Giờ Ga-ro-nê đang bận viết một bức thư dài tám trang trên một loại giấy có nền hoa to màu rực rỡ, để mừng sinh nhật của mẹ. Bà mẹ của Ga-ro-nê, một người cao, béo, rất dễ mến, thường hay đến trường đón con.

Trong giờ học, cậu không bao giờ nói chuyện, cũng không bao giờ gây ra một tiếng ồn. Luôn luôn ngồi im trên ghế, chiếc ghế quá hẹp đối với cậu, cậu phải cúi xuống, lưng khom khom và đầu rụt ngang vai. Mỗi khi tôi nhìn cậu thì cậu cũng nhìn tôi với đôi mắt tươi cười như muốn nói: “Chúng mình là bạn thân, phải không En-ri-cô à!”.

Tất nhiên, tôi yêu bạn Ga-ro-nê lắm! Tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình. Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không ngại liều mình để cứu một người, cậu sẽ đem hết sức mình để che chở cho bạn: cứ nhìn vào đôi mắt của Ga-ro-nê thì thấy rõ điều đó! Giọng nói của cậu tuy hơi cộc, nhưng người ta cảm thấy rằng đó là tiếng vọng của một tấm lòng cao thượng và hào hiệp.

(Trích Những lấm lòng cao cả, Edmondo De Amicis, NXB Văn học, Hà Nội, 2016)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.   

Câu 2. (0,5 điểm) Ghi lại 2 chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật Ga-ro-nê trong văn bản.

Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra 3 chi tiết thể hiện tình cảm của nhân vật “tôi” đối với Ga-ro-nê. Từ đó, em hãy rút ra nhận xét về tình cảm của “tôi” với nhân vật.  

Câu 4. (1,5 điểm) Vì sao mặc dù cả lớp đều yêu quý Ga-ro-nê nhưng vẫn có một số người không có thiện cảm với cậu? Qua đó, em có cảm nhận gì về nhân vật này?

Câu 5. (1,5 điểm) Qua văn bản, em rút ra được bài học gì cho bản thân về cách ứng xử với bạn bè? (Trình bày khoảng 5 – 7 dòng)

10
3 tháng 11 2025

Câu 1 (0,5 điểm):

Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.

👉 Tác dụng: giúp câu chuyện trở nên chân thật, gần gũi và thể hiện trực tiếp tình cảm, cảm xúc của người kể với nhân vật Ga-ro-nê.


Câu 2 (0,5 điểm):

Hai chi tiết miêu tả ngoại hình của Ga-ro-nê:

  • “Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng.”
  • “Cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi.”
    (hoặc: “Lưng khom khom và đầu rụt ngang vai.” – cũng được chấp nhận)

Câu 3 (1,0 điểm):

Ba chi tiết thể hiện tình cảm của “tôi” đối với Ga-ro-nê:

  • “Tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận không được gặp Ga-ro-nê.”
  • “Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu.”
  • “Tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình.”

Nhận xét:
→ “Tôi” có tình cảm yêu mến, kính phục và trân trọng đối với Ga-ro-nê – một người bạn tốt bụng, mạnh mẽ và cao thượng.


Câu 4 (1,5 điểm):

Vì sao có một số người không có thiện cảm với Ga-ro-nê:
→ Bởi vì Ga-ro-nê luôn chống lại những hành động độc ác của họ, bảo vệ những bạn nhỏ yếu hơn, nên những kẻ xấu trong lớp ghét và ganh tị với cậu.

Cảm nhận về nhân vật:
→ Ga-ro-nê là người dũng cảm, chính trực, nhân hậu và sẵn sàng bảo vệ lẽ phải. Cậu xứng đáng là tấm gương sáng về lòng tốt và tinh thần nghĩa hiệp.


Câu 5 (1,5 điểm):

Bài học rút ra (5–7 dòng):

Qua văn bản, em học được rằng trong tình bạn, chúng ta cần biết yêu thương, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau. Cần cư xử chân thành, dũng cảm đứng về phía điều đúng, không thờ ơ hay đồng lõa với cái xấu. Hãy giống như Ga-ro-nê – luôn sống nhân hậu, sẵn sàng chia sẻ và quan tâm đến người khác. Khi biết nghĩ cho bạn bè, ta không chỉ làm người khác vui mà còn khiến bản thân trở nên tốt đẹp hơn.

19 tháng 12 2025

Câu1:ngôi kể thứ nhất

Câu2 hai chi tiết miêu tả ngoại hình của Nhân ga _ro_nê là

_cậu ấy lớn nhất lớp đầu to vai rộng

_lưng khom khom và đầu rụt ngang vai

câu3 Hà nêu được 3 trong sồ các chi tiết thể hiện tình cảm của nhân vật tôi với ga _ro_nê sau+người đã cho cậu bé miền Nam cả tem

I. ĐỌC – HIỂU      Tôi muốn kể với các em về thầy giáo dạy vẽ của tôi. Thầy dạy chúng tôi cách đây mười bảy năm, khi đó chúng tôi mới học lớp Năm mà thầy thì mái tóc đã bạc phơ…        […] Chẳng hiểu vì thầy không có tài hay không gặp may, tuy thầy rất yêu hội hoạ, dành hết sức lực và tiền bạc cho nó. Vợ con thầy đều đã mất từ lâu, thầy bảo: “Giờ đây, nguồn...
Đọc tiếp

I. ĐỌC – HIỂU

     Tôi muốn kể với các em về thầy giáo dạy vẽ của tôi. Thầy dạy chúng tôi cách đây mười bảy năm, khi đó chúng tôi mới học lớp Năm mà thầy thì mái tóc đã bạc phơ… 

      […] Chẳng hiểu vì thầy không có tài hay không gặp may, tuy thầy rất yêu hội hoạ, dành hết sức lực và tiền bạc cho nó. Vợ con thầy đều đã mất từ lâu, thầy bảo: “Giờ đây, nguồn vui của thầy chỉ là công việc và các em học sinh.”. Chúng tôi đều rất quý và thương thầy. Có lần, thầy đến lớp, vẻ nghiêm trang, xúc động, thầy nói với chúng tôi: 

     – Ở triển lãm mĩ thuật thành phố người ta có bày một cái tranh của tôi... 

     Thầy mỉm cười rụt rè, khẽ nói thêm: “Các em đến xem thử…”. 

     Chiều hôm ấy, mấy đứa chúng tôi trong đó có Châu và Hiển – rủ nhau đến phòng triển lãm. Trong gian phòng chan hoà ánh sáng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc. So với những bức tranh to lớn trang trọng khác, bức tranh của thầy thật bé nhỏ, trong một chiếc khung cũ. Bởi tranh vẽ rất cẩn thận một lọ hoa cúc, mấy quả cam, những cánh hoa vàng rơi trên mặt bàn… Mọi người đi lướt qua, chẳng ai để ý tới bức tranh của thầy. Chúng tôi ngồi xuống cạnh bàn ghi cảm tưởng của người xem: chẳng thấy ý kiến nào khen ngợi hoặc nhắc đến bức tĩnh vật của thầy giáo chúng tôi. Lúc ấy, chúng tôi thấy thầy Bản cũng đến, thầy đi lại trong phòng triển lãm, nhìn người xem rồi lại nhìn về cái tranh của mình, bồn chồn, hồi hộp. Rồi sau cảm thấy đứng mãi ở đấy không tiện, thầy lại lóc cóc ra lấy xe đạp, đạp đi. 

     Càng thương thầy, chúng tôi càng giận những người xem vô cùng. Nảy ra một ý, chúng tôi bàn khẽ với nhau, rồi mở quyển sổ ghi cảm tưởng, chúng tôi thay nhau viết:

      “Trong phòng triển lãm này, chúng tôi rất thích bức tranh của hoạ sĩ Nguyễn Thừa Bản!”. “Bức tranh tĩnh vật của hoạ sĩ Nguyễn Thừa Bản rất đẹp. Hoạ sĩ là một người có tài năng và cần cù lao động. Kính chúc hoạ sĩ mạnh khoẻ…” 

      Rồi chúng tôi kí những cái tên giả dưới các ý kiến đó. Ngoài mấy đứa chúng tôi, không ai biết việc này. 

      Vài hôm sau, thầy Bản đến lớp. Bối rối vì cảm động, thầy báo tin: 

     – Các em ạ… bức tranh ở triển lãm của tôi... cũng được một số người thích... họ có ghi cảm tưởng... Ban tổ chức có đưa cho tôi đọc… tôi có ghi lại…

      Thầy húng hắng ho rồi nói thêm vẻ ân hận: 

      – Bức tranh ấy tôi vẽ chưa được vừa ý… Nếu vẽ lại, tôi sẽ sửa chữa nhiều... 

      Thương thầy quá, chúng tôi suýt oà lên khóc. […] 

     Có lẽ đến phút cuối cuộc đời, thầy cũng không biết rằng: chính chúng tôi – những học trò nhỏ của thầy – đã viết vào quyển sổ cảm tưởng trong kì triển lãm ấy. Bây giờ thầy Bản không còn nữa! 

     Tối ấy, ngồi với nhau, chúng tôi nhắc nhiều và nhớ nhiều đến thầy... 

     “Thưa thầy giáo dạy vẽ kính yêu! 

     Viết những dòng này, chúng em muốn xin thầy tha lỗi cho chúng em, và muốn một lần nữa được thưa với thầy rằng: chúng em biết ơn thầy, mãi mãi biết ơn thầy...”. 

(Xuân Quỳnh, Thầy giáo dạy vẽ của tôi)

Câu 9: So sánh cặp câu dưới đây và nêu tác dụng của việc mở rộng thành phần trạng ngữ, vị ngữ trong câu.

a.

(1)  Trong gian phòng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.

(2)  Trong gian phòng chan hoà ánh sáng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.

b.

(1) Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản đẹp.

(2) Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản rất đẹp. 

Câu 10: Nêu một bài học, thông điệp mà em rút ra sau khi đọc câu chuyện trên.

3
3 tháng 11 2025

Câu 9: So sánh và nêu tác dụng

a.

  • Câu (1): “Trong gian phòng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”
  • Câu (2): “Trong gian phòng chan hoà ánh sáng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”

👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần trạng ngữ được mở rộng bằng cụm từ “chan hoà ánh sáng”, giúp miêu tả rõ hơn không gian của gian phòng triển lãm.

👉 Tác dụng:
Việc mở rộng thành phần trạng ngữ làm cho không gian bức tranh trở nên sinh động, có sức gợi hình, gợi cảm hơn, đồng thời giúp người đọc cảm nhận được vẻ trang trọng, sáng sủa của phòng triển lãm – nơi bức tranh của thầy được trưng bày.


b.

  • Câu (1): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản đẹp.”
  • Câu (2): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản rất đẹp.”

👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần vị ngữ được mở rộng nhờ thêm từ “rất”, làm tăng mức độ biểu cảm cho tính từ “đẹp”.

👉 Tác dụng:
Việc mở rộng vị ngữ giúp nhấn mạnh cảm xúc ngưỡng mộ, yêu thích của người viết đối với bức tranh, đồng thời thể hiện rõ hơn tình cảm trân trọng và tự hào dành cho người thầy họa sĩ.


Câu 10: Bài học hoặc thông điệp rút ra

Câu chuyện gửi gắm một bài học sâu sắc về lòng biết ơn và tình yêu thương giữa thầy và trò.
Ta hiểu rằng: đôi khi sự quan tâm, động viên chân thành dù nhỏ bé cũng có thể trở thành niềm an ủi lớn lao cho người khác. Câu chuyện cũng nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng, ghi nhớ công lao của thầy cô, bởi chính họ là những người âm thầm gieo hạt, nuôi dưỡng ước mơ và tâm hồn của học trò.

22 tháng 12 2025

Câu 9

A,

(1) trạng ngữ"trong gian phòng" đơn thuần nêu không gian

(2) trạng ngữ mở rộng thành "trong gian phòng chan hoà ánh sáng" bổ sung thêm chi tiết ánh sáng

Tác dụng:cụ thể ,sing động hơn

B,

(1) vị ngữ đẹp chỉ mức độ bình thường

(2)vị ngữ được mở rộng bằng từ "rất"-> rất đẹp

Tác dụng:trân trọng, ngưỡng mộ

Câu 10

Em rút ra bài học sâu sắc về lòng biết ơn và lòng trân trọng với thầy cô giáo



(6.0 ĐIỂM) Đọc văn bản sau:    CHIỀU ĐỒNG NỘI Những giọt thu trong veo Rắc ngang qua đồng nội Cánh chim bay xuống chiều Nâng nắng lên kẻo mỏi Buổi chiều thu mướt xanh Cỏ thơm cùng hoa dại Cánh cò trôi nhanh nhanh Đàn trâu về chậm rãi Cánh đồng chiều thật êm Nhấp nhô đều sóng lúa Mùa thu như tay mềm Chạm lên từng thảm lụa Buổi chiều thu đồng nội Hương thơm từng dấu...
Đọc tiếp

(6.0 ĐIỂM) Đọc văn bản sau:

    CHIỀU ĐỒNG NỘI

Những giọt thu trong veo
Rắc ngang qua đồng nội
Cánh chim bay xuống chiều
Nâng nắng lên kẻo mỏi

Buổi chiều thu mướt xanh
Cỏ thơm cùng hoa dại
Cánh cò trôi nhanh nhanh
Đàn trâu về chậm rãi

Cánh đồng chiều thật êm
Nhấp nhô đều sóng lúa
Mùa thu như tay mềm
Chạm lên từng thảm lụa

Buổi chiều thu đồng nội
Hương thơm từng dấu chân
Bếp nhà ai toả khói
Gọi trăng thu xuống gần.

(Nguyễn Lãm Thắng, in trong tập Giấc mơ buổi sáng, 2017)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0,5 điểm) Ghi lại ít nhất 03 chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên xuất hiện trong bài thơ.

Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra 01 từ láy trong hai khổ thơ cuối. Nêu tác dụng của từ láy đó trong việc thể hiện nội dung.

Câu 4 (1,0 điểm) Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa nào? Nhận xét về bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong bài thơ.   

Câu 5. (1,5 điểm) Chỉ ra và phân tích tác dụng của 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ sau:

Bếp nhà ai toả khói

Gọi trăng thu xuống gần.

Câu 6. (1,5 điểm) Khi đọc bài thơ, em nhớ về kỉ niệm nào với quê hương. Kỉ niệm đó đã giúp em hiểu thêm điều gì về thông điệp tác giả muốn truyền tải? (Trình bày khoảng 05 – 07 dòng)

6
30 tháng 9 2025

Câu 1.

Văn bản trên được viết theo thể thơ 4 chữ.


Câu 2.

Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:


“Cánh chim bay xuống chiều”


“Buổi chiều thu mướt xanh”


“Nhấp nhô đều sóng lúa”


Câu 3.


Từ láy: chậm rãi


Tác dụng: Gợi tả sự thong thả, yên bình của cảnh vật và nhịp sống ở đồng quê, góp phần tạo nên không khí êm đềm, nhẹ nhàng cho bức tranh chiều thu nơi đồng nội.


Câu 4.


Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.


Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả rất trong trẻo, dịu dàng và nên thơ với màu sắc nhẹ nhàng, hương thơm của cỏ hoa, hình ảnh sống động của chim, cò, trâu và làn khói bếp – tất cả gợi nên vẻ đẹp thanh bình, gần gũi của làng quê Việt Nam.


Câu 5.


Biện pháp tu từ: Nhân hóa (“Gọi trăng thu xuống gần”)


Tác dụng: Làm cho hình ảnh làn khói bếp trở nên có hồn, như có thể trò chuyện với thiên nhiên. Qua đó thể hiện sự giao hòa giữa con người và vạn vật, tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và nên thơ của làng quê lúc chiều thu.


Câu 6.

Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều cùng bà đi chăn trâu trên cánh đồng quê, ngắm hoàng hôn buông xuống và hít hà mùi thơm của rơm rạ. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng: tác giả muốn truyền tải vẻ đẹp bình dị, thanh bình và đầy yêu thương của quê hương, nơi luôn lưu giữ những ký ức trong trẻo và gắn bó với tuổi thơ mỗi người.

24 tháng 12 2025

Caau1

Văn bản được viết theo thể thơ 5 chứ

30 tháng 12 2017

c1: vì họ đang chơi cờ

câu hai: cai luoi 

c3: kem 

c4:cho con bu

30 tháng 12 2017

c1 vì họ ở trên bàn cờ

“Con người của Bác, đời sống của Bác giản dị như thế nào, mọi người chúng ta đều biết: bữa cơm, đồ dùng, cái nhà, lối sống. Bữa cơm chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để rơi vãi một hột cơm, ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại thì được sắp xếp tươm tất. Ở việc làm nhỏ đó, chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất...
Đọc tiếp

“Con người của Bác, đời sống của Bác giản dị như thế nào, mọi người chúng ta đều biết: bữa cơm, đồ dùng, cái nhà, lối sống. Bữa cơm chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để rơi vãi một hột cơm, ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại thì được sắp xếp tươm tất. Ở việc làm nhỏ đó, chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người và kính trọng như thế nào người phục vụ. Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, thì cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao!”

   Qua đoạn văn trên , em sẽ làm j để học tập làm theo tấm gương đạo đức của Bác?

các bạn giúp mk với mk cần gấp ạ !!

1
30 tháng 6 2020

Bạn tham khảo link sau :

https://olm.vn/hoi-dap/detail/257517361398.html

Hoặc vào thống  kê hỏi  đáp của mình bấm vào Câu hỏi của Nguyễn Quý Huy 

8 tháng 12 2023

Tham khảo

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện cổ tích hay, để lại nhiều bài học sâu sắc và ý nghĩa. Truyện Tấm Cám là một trong số những tác phẩm như thế, nhân vật cô Tấm là điển hình cho vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam, vừa đẹp người lại đẹp nết, dù sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn giữ được tính cách nhân hậu, đảm đang, chính vì thế nàng đã có được hạnh phúc sau cùng.

Xây dựng lên Tấm là một cô gái mồ côi cha mẹ, phải sống với mẹ con dì ghẻ. Tấm bị bắt làm việc vất vả, nặng nhọc và bị đối xử bất công. Có thể nhận thấy được chính với hoàn cảnh Tấm tiêu biểu cho hoàn cảnh của người con riêng trong chuyện cổ tích. Thế nhưng Tấm lại có phẩm chất hiền lành, chăm chỉ chịu thương chịu khó. Tấm chính là hiện thân cho cái thiện, cái đẹp ở người lao động. Hình ảnh cô Tấm hiền lành chăm chỉ là thế nhưng phải chịu đựng, cam chịu sự đày đọa bất công của mẹ con Cám. Tấm đã phải làm việc vất vả còn Cám thì được nuông chiều. Giỏ tép do chính Tấm bắt cực nhọc lại bị Cám cướp mất, chính Cám đã cướp đi thành quả lao động của Tấm. Cho đến khi cả khi làng mở hội thì Tấm cũng ngoan ngoãn làm theo lời dì dặn mà không cãi lại cũng không dám chốn đi. Lúc này đây thì Tấm lại khóc và con người hiền lành ấy cũng được bụt giúp đỡ, khi Tấm đã trở thành hoàng hậu thì Tấm vẫn bị mẹ con Cám hãm hại hết lần này đến lần khác. Với ngôi vị hoàng hậu và cuộc sống giàu sang cũng chưa đủ để cứu Tấm khỏi âm mưu hãm hại của dì ghẻ. Thế rồi không chỉ thế Tấm đã rất nhiều lần chết đi sống lại và hóa thân vào nhiều thứ từ hóa thân thành chim vàng anh, rồi thành cây xoan đào, hay cũng là hiện hình vào khung cửi rồi vào quả thị và trở thành người. Cô Tấm luôn luôn phản kháng quyết liệt hóa thân và hồi sinh để đấu tranh giành sự sống và hạnh phúc.

Hình ảnh đẹp của Tấm mà giúp chúng ta hiểu hơn phần nào cuộc sống của người lao động trong xã hội cũ. Những con người này thấp cổ bé họng và bỗng nhiên bị trà đạp bất công và không có quyền nói lên tiếng nói của mình. Chính vì thế mà họ gửi những ước mơ của mình, niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn vào trong cổ tích bình chứa ước mơ của dân gian xưa.

15 tháng 1 2024

loading... loading... loading... 

Tìm từ ghép và từ láy trong đoạn văn sau :Mùa thu – hai từ đem đến cho tôi cảm giác thoải mái, dễ chịu. Bầu trời trong vắt, không một mảnh mây vắt ngang. Nó trong đến nỗi tưởng chừng mỗi khi tôi nhìn lên là thấy cả bên kia trái đất. Ôi sao tôi yêu bầu trời mùa thu đến thế! Và tôi yêu cả vạn vật mùa thu nữa! Tiếng chim thánh thót vút cao, ngân dài, ngân mãi kéo tôi đi tận nơi xa mơ...
Đọc tiếp

Tìm từ ghép và từ láy trong đoạn văn sau :

Mùa thu – hai từ đem đến cho tôi cảm giác thoải mái, dễ chịu. Bầu trời trong vắt, không một mảnh mây vắt ngang. Nó trong đến nỗi tưởng chừng mỗi khi tôi nhìn lên là thấy cả bên kia trái đất. Ôi sao tôi yêu bầu trời mùa thu đến thế! Và tôi yêu cả vạn vật mùa thu nữa! Tiếng chim thánh thót vút cao, ngân dài, ngân mãi kéo tôi đi tận nơi xa mơ hồ… đến khi thVà hoa cải mới e lệ diện bộ váy vàng tươi sáng. Còn nữa, mùi hoa quế thơm thơm mới đậu trên tà áo dài con gái đi khắp phố phường để hòa mình vào gió… Một thứ đặc trưng không lẫn vào đâu của mùa thu – gió heo may. Từng cơn gió không rít, không thét gào như gió mùa đông bắc, không ẩm ướt như gió mùa xuân, không nóng như gió mùa hạ, mà man mác, nhè nhẹ riêng biệt. 
Cơn gió ấy, nó thích chơi đùa cùng cành phượng tàn hoa đang ra quả. Nó thích lùa vào tóc người thiếu nữ thanh thanh, mang hương tóc ngọc lan vào lòng tôi. Nhưng nó thích nhất là uốn mình qua gánh hàng hoa của các chị mỗi buổi sáng tinh mơ nhịp bước chân vào phố. 
Nhắc đến mùa thu là không ai quên được ngày tựu trường – cái ngày mà tuổi học trò luôn mong ước. Ấy là lúc nắng dịu dàng không đâu cho đủ. Tiếng chim hót báo hiệu đã hết mùa vui chơi, quay trở về với vòng tay bạn bè và thầy cô. Ra trường, đứa nào cũng tíu tít kể về mùa hè bất tận của mình.
Và ở một góc nào đó, trái hẳn với sự ồn ã kia, các em lớp Một đang ngỡ ngàng, lo sợ. Đó là sự khởi đầu cho một nụ cười mới tại một ngôi trường mới. Nụ cười ấy mới dễ thương làm sao! Đối với người Hà Nội, thì thứ tượng trưng cho mùa thu của họ là cốm làng Vòng. Từng hạt cốm dẻo, xanh mướt như sự thanh khiết của lá sen và sữa thơm bầu trời thu. Hạnh phúc biết bao khi cái thức quà thần tiên ấy thuộc về mùa thu của tôi! ôi cất tiếng mới giật mình quay lại hiện tại. Lá cây cũng sang màu. Cái thứ màu đỏ đồng của lá bàng, màu vàng vàng của bằng lăng, màu nâu nâu héo lụi của cây cau… sao mà đẹp đến vậy! Nhưng bạn chớ có nghĩ mọi vật đang tàn lụi.  Lúc bấy giờ, hoa hồng mới vươn mình kiêu hãnh khoe lớp áo khoác mịn màng với nắng. Hoa sữa mới trổ bông, xòe ra những quả cầu hoa trắng xanh, thơm nồng nàn. 

0
19 tháng 5 2021

Tham khảo nha em:

Văn bản "Đức tính giản dị của Bác Hồ" đã giúp em nhận ra nhiều bài học sâu sắc về về lối sống ,tác phong sinh hoạt ,nói và viết của bản thân. Trong cuộc sống, bản thân mỗi người cần nên rèn luyện cho mình đức tính giản dị trong những lĩnh vực cần thiết. Về lối sống, hãy đơn giản để cho cuộc sống được an nhàn. Những việc mình tự có thể làm được thì không nên làm phiền đến sự giúp đỡ của người khác. Như thế không những con người rèn luyệnđược sự giản dị mà còn cả sự tự lập, tự giác. Đồng thời, tác phong sinh họt cũng cần phải có sự giản dị. Gianr dị từ những bữa cơm tỏng gia đình, từ ăn uống nhỏ nhặt cho đến những việc lớn lao khác. Có thế con người mới có thể dễ dnagf hòa nhpj với những người khác. Trong nói và viết cũng cần cả sự giản dị. Lời nói khôgn nên quá cầu kì, hoa mĩ, sẽ khiến lời nói trở nên rối rắm, người nghe khó hiểu. Trong cách viết cũng vậy, hãy viết 1 cách đơn giản nhất để có thể truyền đạt đúng những gì mình muốn nói. Tuy nhiên, giản dị cũng không hẳn là ki bo, là keo kiệt mà là giản dị ở một mức vừa đủ thì mới khiến cuộc sôgs con người trở nên đơn giản nhưng lại có ý nghĩa.