Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Trả lời các yêu cầu Đọc hiểu Câu 1. Thể thơ Bài thơ “Nhớ Huế quê tôi” được viết theo thể thơ thất ngôn (bảy chữ) với các khổ thơ bốn câu, có cách gieo vần chủ yếu là vần chân. Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương trong khổ thơ thứ nhất Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất là: +Sông núi vươn dài +Núi sông +Cò bay thẳng cánh +Đồng không +Huế +Huế quê tôi ở giữa lòng Câu 3. Phân tích sắc thái nghĩa của từ “nhuộm” Trong dòng thơ “Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh”: -Nghĩa đen: "Nhuộm" là làm cho vật khác thấm màu, đổi màu. -Sắc thái nghĩa trong câu thơ: Từ "nhuộm" được dùng với nghĩa chuyển, gợi lên sự mất mát, đau thương, sự đổ máu, hy sinh to lớn và dữ dội. Màu "máu đỏ" không chỉ đơn thuần là màu sắc mà còn là sự sống, là sinh mệnh đã ngã xuống, hòa quyện, thấm đẫm vào màu "đồng xanh" (màu của quê hương, của sự sống, của hòa bình). Từ đó, nó khắc họa sâu sắc cái giá phải trả bằng máu xương của bao thế hệ người dân Huế, những người đã chiến đấu vì độc lập, tự do của quê hương. Câu 4. Cảm hứng chủ đạo và căn cứ xác định -Cảm hứng chủ đạo: Tình yêu quê hương tha thiết và niềm tự hào sâu sắc về truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường của con người và mảnh đất Huế. -Căn cứ xác định: +Tình cảm cá nhân: Nhan đề "Nhớ Huế quê tôi" và hình ảnh "Huế quê tôi ở giữa lòng" (khổ 1), "mang Huế theo" (khổ 2) thể hiện sự gắn bó, khắc khoải. Niềm tự hào về truyền thống cách mạng: Bài thơ ngợi ca những người con Huế "thức mãi chí xông pha", "Mở đường giải phóng về quê mẹ", sự hy sinh cao cả ("máu đỏ nhuộm đồng xanh", "Gửi đá ven rừng chép chiến công"). Câu 5. Phân tích mạch cảm xúc Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo một trình tự hồi tưởng và tự hào về quê hương Huế, gắn liền với những kỉ niệm và truyền thống cách mạng: -Khổ 1 (Khẳng định tình cảm): Mở đầu bằng lời khẳng định tình cảm mãnh liệt, sâu đậm: Huế không xa xôi mà nằm "ở giữa lòng" tác giả, là sự hòa quyện của sông núi và đồng không. -Khổ 2 (Hồi tưởng): Cảm xúc chuyển sang hồi tưởng những kỉ niệm gắn bó, gần gũi như sông Hương, giọng hò mái đẩy, mang theo Huế vượt qua mọi không gian cách trở (Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo). -Khổ 3 & 4 (Tự hào về người Huế và sự hy sinh): Mạch cảm xúc vỡ òa thành niềm tự hào khi nghĩ về những người con xứ Huế kiên cường, bất khuất, có "chí xông pha", dấn thân "Mở đường giải phóng". Đặc biệt, xúc động và trân trọng những hy sinh cao cả ("Có bao người Huế không về nữa", "máu đỏ nhuộm đồng xanh") cho độc lập, tự do. -Khổ 5 (Nhắc lại lịch sử đau thương): Cảm xúc lắng đọng, trầm buồn khi nhắc đến những năm tháng đau thương, máu lửa của lịch sử Huế ("bóng cổ thành", "máu đỏ nhuộm đồng xanh"), nhưng vẫn ánh lên niềm hy vọng, khí thế chuyển mình của đất nước (Sông nước xôn xao núi chuyển mình). -Khổ 6 (Khắc khoải và chờ mong): Kết thúc bằng cảm xúc khắc khoải, nhớ thương quê mẹ ("Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa") xen lẫn sự chờ mong, thôi thúc về một ngày trở về, hoàn thành sứ mệnh (hình ảnh phượng nở và tiếng gà giục giã). Mạch cảm xúc hồi tưởng - tự hào - trầm hùng - khắc khoải tạo nên bức chân dung thơ mộng nhưng cũng đầy bi tráng về mảnh đất và con người Huế. Câu 6. Đoạn văn suy nghĩ về sự hy sinh và trách nhiệm của thế hệ trẻ Câu thơ “Có bao người Huế không về nữa/ Gửi đá ven rừng chép chiến công” gợi lên trong tôi sự xúc động và lòng biết ơn vô hạn đối với những thế hệ đã hy sinh vì Tổ quốc. Hình ảnh "Gửi đá ven rừng chép chiến công" là một biểu tượng bi tráng về sự hóa thân bất tử: các anh hùng đã ngã xuống, biến mình thành một phần của đất nước, dùng sự hy sinh của mình như những dòng chữ khắc vào lịch sử, lưu giữ mãi chiến công vĩ đại. Sự hy sinh ấy là cao cả vì nó đánh đổi cả tuổi xuân, sinh mạng để đổi lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Thế hệ trẻ hôm nay, khi được sống trong hòa bình, càng nhận rõ trách nhiệm của mình. Đó là ghi nhớ công ơn, trân trọng giá trị của tự do và phát huy truyền thống kiên cường. Chúng ta phải nỗ lực học tập, lao động, giữ gìn đạo đức, và xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Đó chính là cách tốt nhất để tiếp nối, chép tiếp những trang sử vàng mà cha ông đã đổ máu xương để viết nên. Deep Research
Tâm trạng của tác giả trong bài thơ vừa có nét trầm tư, vừa pha chút lo toan và hồi hộp đón chờ mùa xuân. Qua cảnh chợ Đồng cuối năm với mưa bụi, cái rét còn se lạnh, tác giả cảm nhận được không khí tất bật, ồn ào của người dân chuẩn bị Tết, nhưng đồng thời cũng lo lắng cho những nợ nần, khó khăn của cuộc sống. Tuy vậy, trong lòng vẫn ẩn chứa niềm hy vọng và mong đợi khi nghe tiếng pháo báo hiệu mùa xuân sắp đến. Tâm trạng ấy thể hiện sự hòa quyện giữa thực tại khó khăn và khát khao đổi mới, ấm no trong năm mới.
Tâm trạng của tác giả trong bài thơ
- Nỗi buồn bơ vơ cô đơn của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc, chỉ có thể đứng nhìn người người đói khổ
- Nhà thơ cũng khao khát cuộc sống có thể tốt đẹp hơn để nhân dân thoát khỏi cảnh nghèo đói hiện tại
Lũ lụt là một thiên tai rất đáng gờm nó có thể làm nhà cửa ngập nước, có thể đe dọa tính mạng con người
Ngôn ngữ chính xác, khoa học: Văn bản sử dụng các thuật ngữ chuyên môn về địa lý và môi trường một cách chuẩn xác để định nghĩa các khái niệm như "lũ", "lụt", "bão", "triều cường".
Diễn đạt rõ ràng, mạch lạc: Các thông tin được trình bày theo cấu trúc phân loại (định nghĩa, nguyên nhân, tác hại), giúp người đọc dễ dàng theo dõi và nắm bắt nội dung.
Giọng văn khách quan, giàu tính thuyết phục: Tác giả sử dụng các số liệu thực tế (ví dụ: số liệu về lũ lụt sông Dương Tử năm 1911 và đồng bằng sông Hồng năm 1971) để minh chứng cho các lập luận về tác hại của thiên tai.
Gần gũi và có tính giáo dục: Bên cạnh việc cung cấp thông tin, ngôn ngữ văn bản còn mang tính hướng dẫn, khuyên nhủ người đọc về trách nhiệm bảo vệ sức khỏe và môi trường.
Câu 9:
Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản mang ý nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho tình mẫu tử thiêng liêng, ấm áp và chan chứa yêu thương. Khói bếp không chỉ là khói từ bếp lửa quê hương, mà còn là hình ảnh gợi nhớ về mẹ, về những bữa cơm bình dị, chân thành mà đầy ắp tình thương. Đó là biểu tượng của những ký ức tuổi thơ không thể nào quên, là nơi khởi đầu của yêu thương, chăm sóc và hy sinh lặng thầm. Hình ảnh khói bếp đã đánh thức nỗi ân hận, tiếc nuối của người con, đồng thời cũng nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng những yêu thương giản dị khi còn có thể.
-gợi nhớ những kỷ niệm tuổi thơ: khỏi bếp gắn với buổi sáng quây quần bên mẹ với mùi cơm rơm cơm cháy thơm giòn
-biểu tượng của tình mẹ : khỏi bếp là hình ảnh ẩn dụ cho tình thương ấm áp bền bỉ lặng lẽ mà mẹ dành cho con
-biểu hiện day dứt và tình cảm sâu nặng: khói bếp như còn vương mãi trong ký ức gọi sự tri ân và nỗi nhớ khôn nguôi về mẹ
Vào dịp nghỉ hè năm ngoái, em đã có một chuyến đi tham quan di tích lịch sử rất đáng nhớ cùng gia đình. Điểm đến của chúng em là Khu di tích lịch sử Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội, nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa và truyền thống hiếu học của dân tộc.
Khi đến Văn Miếu, em cảm nhận được không khí trang nghiêm và cổ kính qua những cổng tam quan, các mái đình cong vút và những bức bia đá khắc tên các trạng nguyên nổi tiếng. Em được bố mẹ giới thiệu về lịch sử của Văn Miếu – Quốc Tử Giám, nơi từng là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, cũng là nơi ghi dấu sự phát triển của giáo dục nước nhà qua nhiều thế kỷ.
Điều làm em ấn tượng nhất là khu vực bia tiến sĩ với hàng trăm tấm bia được đặt trang trọng trên những con rùa đá, tượng trưng cho trí tuệ và sự bền bỉ. Em còn được tham gia viết thư pháp và nghe hướng dẫn viên kể nhiều câu chuyện thú vị về các danh nhân, những nhà khoa học tài giỏi của nước ta.
Chuyến đi đã giúp em hiểu thêm về truyền thống hiếu học, lòng tự hào dân tộc và ý nghĩa của việc giữ gìn các giá trị văn hóa. Em mong rằng mình sẽ học tập chăm chỉ để không phụ lòng các bậc tiền nhân và góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.
Trong chuyến thực tế vừa qua, em đã có cơ hội đến tham quan Văn Miếu-Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của nước ta. chuyến đi này không chỉ mở mang tầm mắt mà còn để lại trong em những ấn tượng vô cùng sâu sắc.
Ngay từ khi bước qua cổng chính, em đã bị ấn tượng bởi không gian cổ kính, tôn nghiêm và tách biệt hẳn với sự ồn ào của phố Thị. giữa khuôn viên là Khuê Văn các với kiến trúc lầu vuông tám mái, bốn cửa tròn tượng trưng cho các vì sao lấp lánh, soi bóng xuống hồ Thiên Quang tỉnh trong vắt. đi sâu vào bên trong, em được tận mắt chiêm ngưỡng 82 bia tiến sĩ bằng đá được đặt trên lưng rùa, nơi khắc ghi danh tính của những bậc Hiền tài xưa. khi nghe cô hướng dẫn viên thuyết minh về lịch sử khoa bảng và tinh thần hiếu học của cha ông, trong lòng em trào dâng một niềm tự hào và xúc động mãnh liệt. em và các bạn cũng đã vào khu điện thờ để thắp hương, bày tỏ lòng thành kính trước thầy giáo Chu Văn An và các vị Tiên thánh.
Chuyến tham quan Văn miếu- Quốc Tử giám là một kỷ niệm vô giá đối với em. trở về sau chuyến đi, em tự hứa với bản thân sẽ luôn cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với truyền thống hiếu học ngàn năm của dân tộc
Anh đã trả lời rồi nhé.
https://hoc24.vn/cau-hoi/khong-co-gi-tu-den-dau-con-1-khong-co-gi-tu-den-dau-conqua-muon-ngot-phai-thang-ngay-tich-nhuahoa-se-thom-khi-trai-qua-nang-luamua-boi-thu-phai-mot-nang-hai-suong-2-khong-co-gi-tu-den-d.9456420218232

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự kết hợp yếu tố hài hước, châm biếm.
Câu 2.
Bối cảnh gây cười là khi lão trọc phú cởi trần nằm giữa sân bắt chước Quỳnh “phơi sách”, nhưng bị Quỳnh vỗ bụng và nói bụng lão toàn đồ ăn chứ không có chữ nghĩa.
Câu 3.
Lão trọc phú là người dốt nhưng thích khoe chữ, thích làm sang, sĩ diện hão và bắt chước một cách vụng về, trở thành trò cười.
Câu 4.
Tác giả sáng tạo câu chuyện để châm biếm những kẻ giàu nhưng thiếu hiểu biết, thích khoe khoang. Qua đó cho thấy cách nhìn hài hước, thông minh và đề cao trí tuệ, đồng thời phê phán thói sĩ diện rỗng trong cuộc sống.
Câu 5.
Câu chuyện giúp ta hiểu rằng không nên khoe khoang hay tỏ ra hiểu biết khi bản thân chưa có kiến thức thật. Sự sĩ diện chỉ khiến con người trở nên buồn cười và mất đi sự tôn trọng. Mỗi người cần sống chân thật, khiêm tốn và chăm học hỏi để hoàn thiện mình. Câu chuyện cũng khuyến khích ta trân trọng sự thông minh và hóm hỉnh, giúp cuộc sống thêm ý nghĩa.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự (có yếu tố gây cười / trào phúng).
Câu 2.
Bối cảnh gây cười là cảnh lão trọc phú bắt chước Trạng Quỳnh, nằm giữa sân “phơi sách”, nhưng thực chất bụng lão chỉ chứa toàn đồ ăn; Quỳnh vỗ bụng lão và nói đó là tiếng cơm, tiếng gà, cá, lợn… chứ không phải “sách”.
Câu 3.
Nhận xét về nhân vật lão trọc phú:
Câu 4.
Mục đích sáng tạo câu chuyện:
Cách nhìn cuộc sống và con người của tác giả dân gian:
Câu 5. Viết đoạn văn 5–7 dòng nêu bài học rút ra
Văn bản gợi cho em bài học về việc sống thật với bản thân và trân trọng tri thức thực sự. Lão trọc phú trong câu chuyện vì ham sĩ diện mà tự biến mình thành trò cười. Trong cuộc sống hôm nay, nhiều người cũng chạy theo hình thức, thích khoe khoang để được ngưỡng mộ mà quên rằng giá trị thật nằm ở năng lực và nhân cách. Qua câu chuyện dí dỏm, em hiểu rằng mỗi người cần khiêm tốn, chăm học hỏi, sống chân thành, tránh giả dối hay “đánh bóng” bản thân. Chỉ có tri thức thật và lối sống đẹp mới giúp ta được tôn trọng và thành công.
c1 thể thơ thứ6
Câu1: bài thơ viết theo thể thơ sáu chữ
Câu2: bài thơ là lời của người con nói về quê hương của mình
Câu3: 4 hình ảnh được dùng để mô tả về quê hương: vòng tay ấm, đêm trăng tỏ, vàng hoa bí, đỏ đôi bờ dâm bụt.
- Những hình ảnh này đều rất gần gũi , thân thuộc với làng quê. Gợi lên những kỷ niệm êm đềm, bình dị.
Câu4: Biện pháp tu từ so sánh được sử dụng xuyên suốt trong bài thơ trở nên sinh động , gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn, ấn tượng, thú vị, dễ hiểu; nhằm làm nổi bật những vẻ đẹp đặc trưng của quê hương thông qua việc so sánh với những hình ảnh quen thuộc, gần gũi; đồng thời khẳng định tình cảm thiêng liêng, sâu sắc của tác giả dành cho quê hương.
Câu 5. Hai dòng thơ "Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi" gợi lên những suy nghĩ sâu sắc:
-Quê hương là duy nhất, không ai có thể có hai quê hương. Tình cảm dành cho quê hương cũng là tình cảm thiêng liêng, không gì sánh bằng, giống như tình yêu thương dành cho mẹ.
-Hai dòng thơ thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với quê hương, đồng thời nhắc nhở mỗi người hãy trân trọng và giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương mình.
Câu 1 : thể thơ của bài là : thể thơ 6 chữ
Câu 2 : bài thơ là lời của người mẹ nói với con
Câu 3 4 hình ảnh nói về quê hương trong bài
+ Chùm khế ngọt
+ Đường đi học
+ Con diều biếc
+ Con đò nhỏ
Qua những hình ảnh trên cho bản thân người đọc thấy được sự gần gũi thân thuộc của quê hương , những hình ảnh rất thân thuộc trong mỗi ký ức tuổi thơ mỗi người . Không cao siêu mà nó hiện hữu thân quen vô cùng với ta mỗi khi đi xa ta lại nhớ về những ngày tháng dạo trên con đường làng đi trên con đường để đi đến trường, .... Những thứ đó đều làm ta nhớ mãi về làngquê thanh bình ấm áp muốn được trở về ngày nhỏ để được đi trên con đường đó .
Câu 4 Biện pháp tu từ so sánh
Từ ngữ "Quê hương là" ... Với những hình ảnh được gắn trong bài , được lặp đi lặp lại
+ Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh giúp câu thơ them sinh động hấp dẫn gợi hình gợi cảm , độc giả dễ hình dung tranh về làng quê muôn màu như nào
+ Tác giả muốn cho người đọc thấy rõ được quê hương VN đẹp nhường nào , khắc ghi những hình ảnh đẹp đó vào trong trí nhớ đi đâu cũng nhớ về quê hương tổ quốc
+ Qua đó muốn nói lên lòng yêu thương quê hương đất nước vô bờ bến của tác giả muốn người đi xa luôn nhớ đến quê hương về lại với chúng
Câu 5 với em câu thơ trong bài có ý nghĩa sâu nặng về cả tình yêu thương quê hương và tình mẫu tử . Quê hương chính là nguồn cội, là nơi bao bọc và nuôi dưỡng tâm hồn ta. Việc ví quê hương với mẹ giúp người đọc hiểu rằng yêu quê hương cũng chính là đạo hiếu, là lẽ sống căn bản của con người. Nếu ai không yêu quê hương, không nhớ về nguồn cội thì sẽ khó có thể trưởng thành một cách trọn vẹn về tâm hồn.
Câu 1: thể thơ 6 chữ
Câu 1: Thể thơ sáu chữ
Thể thơ 6 chữ
Thể thơ 6 chữ
Câu 1thơ sáu chữ
Câu 1 thể thơ 6 chữ