I. Phần Đọc hiểu (4,0 điểm)
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

I. Phần Đọc hiểu (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau: 

TRUYỆN NGƯỜI LIỆT NỮ Ở AN ẤP

(An Ấp liệt nữ lục − Trích Truyền kì tân phả)

ĐOÀN THỊ ĐIỂM

     Hoàng triều khoảng niên hiệu Vĩnh Thịnh(1), có một vị tiến sĩ trẻ tuổi, tên là Đinh Hoàn, hiệu là Mặc Trai, người ở làng An Ấp, tỉnh Nghệ An. Cha mẹ mất sớm, ít anh em, khi gần đến tuổi thành niên thì cưới vợ, nhưng chỉ sinh con gái, chưa có con trai. Ông lại lấy con gái nhà quan là họ Nguyễn làm vợ thứ. Bà vợ này nghi dung thanh nhã, cử chỉ đoan trang, thêu thùa khâu vá rất khéo, lại giỏi văn thơ. Khi về nhà chồng, tự sửa mình theo khuôn phép, lễ độ với chồng. Ông vừa yêu vừa kính trọng. Gặp những khi ở triều rảnh việc trở về, thường cùng với bà xướng hoạ văn thơ, hâm mộ các vị trung thần liệt nữ. 

     [Lược một đoạn: Đinh Hoàn vì làm theo lời khuyên can của phu nhân mà dần trở thành một vị quan cần mẫn. Đến năm Ất Mùi, ông được triều đình tín nhiệm mà giao cho trách nhiệm đi sứ sang Trung Quốc để kết mối bang giao. Trước khi đi, phu nhân tặng ông một bài thơ. Còn ông tặng lại cho phu nhân chiếc áo la y để làm kỉ niệm. Phu nhân quyền luyến nửa mê nửa tỉnh. Đinh Hoàn đi sứ đi qua nhiều nơi, mỗi nơi đều đề vịnh thơ. Thơ ông hay và được so sánh với thơ của những bậc danh nhân: Lý Bạch, Hạ Tri Chương, Mạnh Giao, Thiếu Lăng, Vệ Giới(2),... Đường đi gian nan, vì sức yếu lại lo lắng thương tâm trước cái chết của những người đi cùng nên ông đã mất tại Yên Kinh. Trước khi mất, ông chỉ băn khoăn việc nước chưa lo trọn vẹn. Biết tin chồng mất, phu nhân thương tiếc làm một bài văn tế ca ngợi công đức của chồng và bày tỏ tình cảm sâu sắc, nguyện hi sinh theo chồng.]

     Người nhà qua lời lẽ bài văn tế, thấy bà có ý quyên sinh nên khuyên giải nói:

     − Phu nhân ngày thường vốn nổi tiếng là người thông tuệ. Sao nay cố chấp quá như thế? Này, vợ chồng dẫu là đạo cả, nhưng âm dương hai ngả khác nhau. Cho nên nàng Lục Châu(3) tự gieo mình xuống lầu, chưa chắc theo được chồng; người trinh nữ(4) đứng trên núi hoá ra đá, cũng chỉ là vô ích. Huống chi sứ quân chết về việc nước, phu nhân cần gì phải ngọc nát chìm châu. [...]

     Phu nhân gạt nước mắt mà rằng:

     − Vị vong nhân(5) này không dám mua cái tiếng chặt vai(6) khoét mắt đâu, chỉ vì xuân về hoa héo, lòng chết hình còn, không tưởng gì đến nhân gian nữa.

     Người nhà thấy khuyên giải không ăn thua gì, có ý đề phòng cẩn thận không rời phu nhân một bước. Một hôm, phu nhân đốt đèn ngồi một mình, khi ấy là mùa thu muộn, gió vàng hiu hắt, tiếng ve kêu sầu, phu nhân càng thêm thảm đạm, ngồi tựa ghế khóc thầm, mơ màng thấy một người khăn vuông đai rộng từ xa đến gần, nhìn kĩ ra chính là chồng mình. Phu nhân đón chào, mừng quá chảy nước mắt mà rằng:

     − Từ khi cách biệt đã bốn năm rồi, biết bao nỗi bi sầu, mộng hồn tản mát, không nơi nào là không tìm tung tích lang quân, ấy thế mà lang quân chẳng có đoái hoài gì đến thiếp. Nếu bảo rằng trần gian và thiên thượng hai nơi cách biệt, thì sao Thuấn phi(7) có hội ngộ, Chức nữ(8) lại tương phùng, vậy thì lang quân đối với thiếp rất là bạc tình!

     Ông buồn rầu nói:

     − Ta từ khi về chầu Thiên Đình, được trông coi về việc bút nghiên, nơi thiên tào công việc nhiều, không có thì giờ đến thăm nàng, còn tấm lòng khăng khít thuỷ chung này không bao giờ thay đổi.

     Phu nhân muốn lưu ông ở lại tự tình. Ông vỗ về nói:

     − Chết sống là lẽ thường, xưa nay hợp tan là tuần hoàn việc thế. Vi Ngọc Tiên(9) có duyên tái hợp, Dương Thái Chân(10) cơ ước lai sinh. Nàng không cần phải bi phiền về nỗi hạc lánh gương tan, cái ngày chúng ta gặp nhau gần đến rồi.

     Nói xong, có một trận thanh phong, không biết ông biến đi đâu. Phu nhân thương khóc chợt tỉnh dậy, sai thị nữ ra xem trời đất chỉ thấy sương mù trăng mờ, đêm đã gần sáng. Từ đó, phu nhân lại càng có ý chán đời, nhưng chưa có dịp. Đến ngày lễ tiểu tường ông, người nhà bận việc, phu nhân ở trong buồng xé cái áo mà ông tặng ngày trước tự thắt cổ chết. Đến khi người nhà biết thì phu nhân đã tắt thở. Cả nhà thương cảm, tống táng theo lễ. Việc ấy tâu lên, triều đình cho lập đền thờ, có treo bảng khen trước cửa, trên khắc chữ: "Trinh liệt phu nhân từ", ban cấp tế điền, bốn mùa có tế lễ, người làng cầu đảo đều có linh ứng.

(Truyền kì tân phả, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013)

Chú thích: 

(1) Vĩnh thịnh: Niên hiệu vua Lê Dụ Tông.

(2) Tên của các thi nhân danh tiếng thời Đường và thời Tấn.

(3) Nàng Lục Châu: Thiếp yêu của Thạch Sùng, dung mạo rất đẹp; khi Sùng bị Tôn Tú bắt, nàng nhảy từ trên lầu xuống để chết theo.

(4) Người trinh nữ: Ngày xưa, có người đàn bà, chồng đi xa vắng, thường ngày lên núi ngóng chồng, lâu ngày hoá thành hòn vọng phu. 

(5) Vị vong nhân: Người chưa chết, người vợ thủ tiết, tự xưng là "vị vong nhân".

(6) Chặt vai: Vương Ngưng là Tư hộ ở Quắc Châu, mất ở nơi làm quan. Người vợ là họ Lý, đem con nhỏ về quê, đi đường vào quán trọ, người chủ quán không cho trọ, kéo tay nàng lôi ra. Nàng Lý than rằng: "Ta làm đàn bà không giữ trinh tiết, bị người cầm tay làm ô nhục.". Nói xong, liền cầm dao tự chặt cánh tay, việc ấy quan sở tại tâu vào triều đình, họ Lý được ban thuốc cứu chữa và được tiền tuất. Còn người chủ quán trọ bị phạt đòn. 

(7) Thuấn phi: Vợ vua Thuấn, gồm Nga Hoàng và Nữ Anh, hai chị em (con vua Nghiêu) đều lấy Thuấn, khi mất làm thần sông Tương. 

(8) Chức nữ: Tích Ngưu Lang Chức Nữ, hằng năm được gặp nhau một lần vào ngày 7 tháng Bảy.

(9) Vị Ngọc Tiên: Đời đường, Vi Cao lúc hàn vi, ở trọ nhà họ Khương, chung tình với nàng Ngọc Tiên, Cao tặng nàng một cái vòng tay, hẹn 7 năm đến cưới làm vợ. Quá hạn không đến, nàng tự sát. Sau đó 13 năm, Cao được làm Tiết độ sứ Ba Thục, có người dâng một ca sĩ rất đẹp, tên là Ngọc Tiên. Cao thấy diện mạo y như nàng Ngọc Tiên ngày trước. 

(10) Dương Thái Chân: Dương Quý Phi bị chết ở núi Mã Ngôi, sau lại tái sinh cùng với Đường Minh Hoàng kết làm vợ chồng lần nữa. 

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản trên thuộc thể loại nào? 

Câu 2. (0,5 điểm) Văn bản trên viết về đề tài gì?

Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra và phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản trên.  

Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản trên. Anh/ chị ấn tượng với điển tích, điển cố nào? Vì sao?

Câu 5. (1,0 điểm) Không gian nghệ thuật trong văn bản trên có sự kết hợp giữa các cõi. Anh/ chị hãy chỉ ra các chi tiết cho thấy điều đó và phân tích tác dụng của việc xây dựng không gian nghệ thuật ấy.

12
13 tháng 12 2025

D

16 tháng 12 2025

Câu 1 vb trên thuộc thể loại truyện ngắn

23 tháng 12 2025


Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì

Câu 2.

Văn bản viết về đề tài ca ngợi người phụ nữ trinh liệt, thủy chung son sắt với chồng, sẵn sàng hi sinh tính mạng để giữ trọn đạo nghĩa vợ chồng, đồng thời thể hiện quan niệm đạo đức Nho giáo trong xã hội phong kiến.

Câu 3.

Yếu tố kì ảo trong văn bản được thể hiện qua các chi tiết như:


  • Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân trong đêm khuya.
  • Đinh Hoàn sau khi chết được “về chầu Thiên Đình”, trông coi việc bút nghiên.
  • Sau khi phu nhân chết, được triều đình lập đền thờ, người dân cầu đảo đều linh ứng.
  • Tác dụng: Làm tăng tính hấp dẫn, huyền bí cho câu chuyện.Thể hiện niềm tin của con người trung đại vào thế giới siêu nhiên, vào sự giao thoa giữa cõi trần và cõi linh thiêng.Góp phần tôn vinh, thần thánh hóa phẩm hạnh trinh liệt, thủy chung của người phụ nữ, khẳng định đạo đức và giá trị tinh thần mà tác giả ngợi ca.

Câu 4.

Việc sử dụng điển tích, điển cố (như Lục Châu, Hòn vọng phu, Thuấn phi, Chức nữ, Vi Ngọc Tiên, Dương Thái Chân…) có tác dụng:


  • Làm tăng giá trị biểu cảm và tính bác học của văn bản.
  • Giúp khắc sâu chủ đề về sự thủy chung, nghĩa tình vợ chồng, bi kịch tình yêu trong xã hội phong kiến.
  • Tạo sự liên tưởng, so sánh để làm nổi bật phẩm hạnh cao đẹp của nhân vật phu nhân họ Nguyễn.

Điển tích gây ấn tượng nhất: Hòn vọng phu, bởi hình ảnh người phụ nữ hóa đá chờ chồng đã trở thành biểu tượng sâu sắc cho đức hi sinh, sự chung thủy và nỗi đau lặng lẽ của người phụ nữ trong chế độ cũ.

Câu 5. 

Không gian nghệ thuật trong Truyện người liệt nữ ở An Ấp là sự kết hợp giữa nhiều cõi khác nhau như cõi trần, cõi mộng và cõi linh giới. Phu nhân sống trong không gian trần thế với nỗi đau mất chồng và sự cô đơn, chán chường trước cuộc đời. Cuộc gặp gỡ giữa phu nhân và Đinh Hoàn diễn ra trong giấc mộng, mang màu sắc kì ảo, thể hiện sự giao thoa giữa người sống và người đã khuất. Đinh Hoàn sau khi chết được về chầu Thiên Đình, trông coi việc bút nghiên, cho thấy sự tồn tại của thế giới siêu nhiên. Sau khi phu nhân qua đời, bà được triều đình lập đền thờ và được nhân dân cầu đảo linh ứng, tiếp tục tồn tại trong không gian linh thiêng. Sự đan xen giữa các cõi làm cho câu chuyện trở nên huyền ảo, hấp dẫn và giàu ý nghĩa. Qua đó, tác giả tôn vinh vẻ đẹp thủy chung, trinh liệt của người phụ nữ và bộc lộ quan niệm nhân sinh của con người trung đại.





24 tháng 12 2025

Câu 1.

Thể loại: Truyền truyền kì.

Câu 2.

Đề tài: Người phụ nữ.

Câu 3.

– Yếu tố kì ảo:

+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.

+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.

– Tác dụng:

+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.

+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà.

Câu 4.

– Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.

– Em ấn tượng nhất với điển tích “chặt vai” vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Đinh Hoàn, dù “chặt vai” hay “khoét mắt” thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thể đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.

Câu 5.

– Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: “Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng.” Cụ thể:

+ Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.

+ Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.

– Tác dụng của việc xây dựng không gian: Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng:

+ Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.

+ Khắc hoạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này – rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khẳng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.

24 tháng 12 2025

Câu 1.

Thể loại: Truyện truyền kì.

Câu 2.

Đề tài: Người phụ nữ.

Câu 3.

- Yếu tố kì ảo:

+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.

+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.

- Tác dụng:

+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.

+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà.

Câu 4.

- Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Định Hoàn, dù "chặt vai" hay "khoét mắt" thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thể đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.

Câu 5.

Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng.

Cụ thể:

+ Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.

+ Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.

- Tác dụng của việc xây dựng không gian:

+ Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.

+ Khắc hoạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này - rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động. Khẳng định sự thuỷ chung của người phu nữ.

II. Phần Viết

Câu 1.

Nhân vật người phu nhân trong văn bản hiện lên là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ thời loạn với tấm lòng thủy chung, đức hi sinh và tình yêu sâu nặng dành cho chồng. Bà không chỉ là người vợ luôn một lòng tin tưởng, đồng cam cộng khổ với Đinh Hoàn mà còn là hậu phương tinh thần vững chắc, tiếp thêm sức mạnh cho chồng trên con đường vì nghĩa lớn. Trước những biến động của thời cuộc, phu nhân không than trách số phận, không vì gian nan mà chùn bước, trái lại luôn giữ thái độ điềm tĩnh, bao dung và thấu hiểu. Sự âm thầm chịu đựng, lặng lẽ hi sinh của bà góp phần làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của Đinh Hoàn – một kẻ sĩ tận trung với nước. Qua hình tượng người phu nhân, tác giả đã gửi gắm sự trân trọng đối với những người phụ nữ phía sau ánh hào quang lịch sử, những con người không trực tiếp cầm gươm ra trận nhưng lại mang trong mình sức mạnh tinh thần to lớn, góp phần làm nên chiều sâu nhân văn của tác phẩm.

Câu 2.

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, người trí thức luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Hình tượng Đinh Hoàn – một kẻ sĩ hết lòng vì việc nước – đã gợi cho chúng ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức đối với vận mệnh đất nước.


Trước hết, trách nhiệm lớn nhất của người trí thức là ý thức gắn bó số phận cá nhân với số phận dân tộc. Đinh Hoàn không xem tri thức là công cụ để mưu cầu danh lợi hay an thân, mà coi đó là phương tiện để phụng sự quốc gia. Trong hoàn cảnh đất nước rối ren, ông sẵn sàng dấn thân, chấp nhận hi sinh hạnh phúc riêng để bảo vệ lợi ích chung. Điều đó cho thấy người trí thức chân chính không thể đứng ngoài thời cuộc, càng không thể thờ ơ trước nỗi đau của nhân dân.


Bên cạnh đó, người trí thức cần có bản lĩnh, dám lựa chọn con đường đúng đắn dù phải đối mặt với nhiều gian nan, thử thách. Đinh Hoàn hiểu rõ những hiểm nguy đang chờ đợi mình nhưng vẫn kiên định với lý tưởng đã chọn. Chính bản lĩnh ấy làm nên giá trị của người trí thức: không dao động trước quyền lực, không cúi đầu trước cám dỗ, luôn giữ vững khí tiết và lòng trung nghĩa. Tri thức chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng nhân cách và dũng khí.


Không chỉ vậy, người trí thức còn mang trách nhiệm lan tỏa giá trị tốt đẹp, thức tỉnh lương tri xã hội. Hành động và lựa chọn của Đinh Hoàn không chỉ thể hiện lý tưởng cá nhân mà còn trở thành tấm gương cho người đời sau. Trong xã hội hôm nay, trách nhiệm ấy càng trở nên cấp thiết khi đất nước bước vào thời kì hội nhập, đối mặt với nhiều thách thức mới. Trí thức không chỉ cần giỏi chuyên môn mà còn phải có tinh thần phản biện, dám lên tiếng trước cái sai, góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ và công bằng hơn.


Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn không ít người có học thức nhưng thờ ơ với vận mệnh chung, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân. Điều đó đặt ra yêu cầu mỗi người trí thức phải tự nhìn lại mình, tự vấn về vai trò và trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước. Học để làm gì nếu không phải để phụng sự con người? Thành công cá nhân sẽ trở nên vô nghĩa nếu tách rời khỏi lợi ích dân tộc.


Từ hình tượng Đinh Hoàn, mỗi chúng ta – đặc biệt là thế hệ trẻ – cần nhận thức rõ rằng tri thức luôn đi kèm trách nhiệm. Trách nhiệm ấy không nhất thiết phải là những việc lớn lao, mà bắt đầu từ việc sống có lý tưởng, có bản lĩnh, có ý thức cống hiến. Khi người trí thức biết đặt đất nước lên trên cái tôi cá nhân, đó cũng là lúc tri thức trở thành sức mạnh bền vững cho sự phát triển của dân tộc.



24 tháng 12 2025

Câu 1.

Thể loại: Truyền truyền kì.

Câu 2.

Đề tài: Người phụ nữ.

Câu 3.

– Yếu tố kì ảo:

+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.

+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.

– Tác dụng:

+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.

+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà.

Câu 4.

– Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.

– Em ấn tượng nhất với điển tích “chặt vai” vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Đinh Hoàn, dù “chặt vai” hay “khoét mắt” thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thể đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.

Câu 5.

– Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: “Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng.” Cụ thể:

+ Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.

+ Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.

– Tác dụng của việc xây dựng không gian: Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng:

+ Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.

+ Khắc hoạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này – rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khẳng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.

24 tháng 12 2025

Câu 1.

Thể loại: Truyện truyền kì.

Câu 2.

Đề tài: Người phụ nữ.

Câu 3.

- Yếu tố kì ảo:

+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.

+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.

- Tác dụng:

+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.

+ Thế hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà.

Câu 4.

  • Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.
  •  Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu
  • nhân của Định Hoàn, dù "chặt vai" hay "khoét mắt" thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thế đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.
  • Câu 5.

- Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng. Cụ thế:

+ Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.

+ Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.

- Tác dụng của việc xây dựng không gian: Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng:

+ Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.

+ Khắc họạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện:

Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này - rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khẳng định sự thuy chung, trinh liệt của người phụ nữ.


24 tháng 12 2025

https://d.docs.live.net/22a9b6f2d42261a6/Bản%20trình%20bày%20(1).pptx(e để ảnh trg cái file)chứ a e gửi ko hết cô ạ)

26 tháng 12 2025

Câu 1.

- Thể loại: Truyện truyền kì.

Câu 2.

- Đề tài: Người phụ nữ.

Câu 3.

- Yếu tố kì ảo:

+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.

+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.

- Tác dụng:

+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.

+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hóá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hóá mà nhân dân dành cho bà.

Câu 4.

- Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Định Hoàn, dù "chặt vai" hay "khoét mắt" thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thể đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.

- Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.

Câu 5.

- Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng.

Cụ thể:

+ Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.

+ Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên

Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.

- Tác dụng của việc xây dựng không gian:

Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng:

+ Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.

+ Khắc họạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này - rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khăng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.

26 tháng 12 2025

Câu 1.

- Thể loại: Truyện truyền kì.

Câu 2.

- Đề tài: Người phụ nữ.

Câu 3.

- Yếu tố kì ảo:

+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.

+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.

- Tác dụng:

+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.

+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hóá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hóá mà nhân dân dành cho bà.

Câu 4.

- Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Định Hoàn, dù "chặt vai" hay "khoét mắt" thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thể đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.

- Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.

Câu 5.

- Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng.

Cụ thể:

+ Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.

+ Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên

Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.

- Tác dụng của việc xây dựng không gian:

Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng:

+ Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.

+ Khắc họạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này - rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khăng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.

Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại truyện Truyền kì

Câu 2: Văn bản trên viết về đề tài

Câu 1. Thể loại: Truyện truyền kì.

Câu 2. Đề tài: Người phụ nữ.

Câu 3. - Yếu tố kì ảo:

+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.

+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.

- Tác dụng:

+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.

+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hóa nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hóá mà nhân dân dành cho bà.

Câu 4.

26 tháng 3 2019

Dịch đây nè:

Nếu bạn có thể dịch, tôi sẽ yêu bạn cả đời

26 tháng 3 2019

Câu hỏi :

Dịch nghĩa từ : гэрийн нохойг уншаарай

Trả lời :

Đọc chó về nhà

P/S : Mk cx ko chắc nx , nhưng bn nên cho bt từ đó là tiếng nước nào chứ !!!!

sai rồi phải là 

ĐỌC LÀ CON CHÓ 

đó là tiếng MÔNG CỔ

Đọc chó về nhà

27 tháng 3 2019

Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.

27 tháng 3 2019

Dịch ra tiếng việt:

Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.

Dịch ra tiếng anh: 

What am I Dressing up the feathers with a long feather. I usually have hot and wet wires working in the environment. At work, I work forward, pushing forward, I hit the white. Usually work 1-3 times a day, but unfortunately sometimes I can not use it.

7 tháng 1 2022

các bn chỉ cần dịch 사랑해 thui nha

7 tháng 1 2022

사랑해= tôi mến bạn 도와주세요 = cứu giúp 

14 tháng 12 2021

1. tất cả các tháng có 28 ngày

2. mày chết rồi à ,.....................

3. chọn phòng thứ 3 là an toàn 

14 tháng 12 2021

1.Tất cả các tháng có 28 ngày

2.Mày chết rồi à ......................

3.Ba = Bố , Bố . n Bốn

4. Chọn phòng số 3 an toàn vì con sư tử kia chết rồi

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.

1. Đặt vấn đềSử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người...
Đọc tiếp

1. Đặt vấn đề

Sử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người Ê-đê được hiện lên rõ nét và trở thành một điểm nhấn thú vị, đáng để khám phá.

2. Giải quyết vấn đề

a. Kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Trước hết, kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" gắn liền với hình ảnh nhà sàn dài. Nhà sàn dài là kiến trúc độc đáo và đặc biệt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Đặc trưng của nhà dài Tây Nguyên bao gồm: hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí vật dụng trên mặt bằng sinh hoạt. Điều này được miêu tả rất rõ trong đoạn trích ở các chi tiết: "Chồm lên hai lần, chàng leo hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn sân làm như vỗ cánh, bảy hàng cột nhà chao qua chao lại từ đông sang tây", "cầu thang trông như cái cầu vồng", "tòa nhà dài dằng dặc", "voi vây chặt sàn sân", "các xà ngang xà dọc đều thếp vàng". Hình ảnh nhà sàn dài dằng dặc, cầu thang, xà ngang xuất hiện nhiều lần và được lặp đi lặp lại cho thấy dấu ấn kiến trúc nhà ở đặc trưng của đồng bào người Ê-đê. Tuy kiến trúc nhà ở không được miêu tả một cách tỉ mỉ nhưng những hình ảnh tiêu biểu như vậy cũng đủ để làm đồng hiện nền văn hóa đặc sắc của vùng Tây Nguyên.

b. Sinh hoạt của người Ê-đê trong không gian nhà ở trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Không gian nhà dài chính là nơi cư trú của người dân Ê-đê. Tại đây diễn ra rất nhiều hoạt động gắn liền với văn hóa của người Ê-đê như hội họp, ăn mừng, kể chuyện sử thi, tổ chức nghi lễ thờ cúng thần linh,... Đoạn văn trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" đã miêu tả lại khung cảnh của người dân như sau: "tôi tớ trải dưới một chiếu trắng, trải trên một chiếu đỏ làm chỗ ngồi cho nhà tù trưởng. Rồi họ đem thuốc sợi cả hòm đồng, thuốc lá cả sọt đại, trầu vỏ cả gùi to, không còn sợ thiếu thuốc thiếu trần cho Đăm Săn ăn, hút. Họ đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa êpang, sáng như ánh mặt trời, nấu cơm mời khách. Họ đi lấy rượu, đem một ché tuk da lươn, một ché êbah Mnông, trên vẽ hoa kơ-ụ, dưới lượn hoa văn, tai ché hình mỏ vẹt xâu lỗ. Đó là những cái ché ngã giá phải ba voi. Ai đi lấy nước cứ đi lấy nước, ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần. Cần cắm rồi, người ta mời Đăm Săn vào uống.". Các vật dụng xuất hiện trong đoạn văn như: ché tuk, ché êbah, là những đồ vật được làm bằng gốm với hình hoa văn đa dạng, được xem là những đồ vật quý của người Ê-đê. Nó biểu thị cho sự sung túc, giàu có, phải "ngã giá bằng ba voi" mới có được.

Hơn nữa, đoạn văn còn làm nổi bật được hoạt động và tính cách của người dân Ê-đê. Để thiết đãi vị tù trưởng Đăm Săn - vị khách quý của buôn làng, người dân nô nức thi nhau mang ra những món ăn ngon nhất, những loại thuốc quý nhất để thiết đãi: thuốc sợi, thuốc lá, trầu vỏ, gà mái ấp, gà mái đẻ, gạo trắng. Người Ê-đê hiện lên với nét tính cách xởi lởi, hào phóng, nồng hậu. Những hoạt động thiết đãi tù trưởng Đăm Săn cũng chính là những hoạt động của dân làng khi tiếp đón những vị khách quý từ phương xa.

Bên cạnh đó, chi tiết "chiêng xếp đầy nhà ngoài", "cồng chất đầy nhà trong" và "ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần" đã phản ánh phong tục đánh cồng chiêng và uống rượu cần của người dân vùng Tây Nguyên. Cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà nó còn chứa đựng giá trị văn hóa của cộng đồng người Ê-đê. Chính vì vậy, chi tiết Đăm Săn đến nhà Nữ Thần Mặt Trời thấy hình ảnh "chiêng xếp đầy nhà ngoài, cồng xếp đầy nhà trong" biểu thị cho sự quyền lực và giàu có. Người Ê-đê tin rằng: mỗi một chiếc cồng đều ẩn chứa một vị thần cho nên càng nhiều cồng, cồng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Ngoài ra, tục uống rượu cần cũng là một nét đẹp văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rượu cần trong đoạn trích chính là phương tiện để gắn kết tình cảm giữa người tù trưởng Đăm Săn và Đăm Par Kvây. Rượu không chỉ đóng vai trò trong các buổi thực hành nghi lễ để cầu xin đấng thần linh mà nó còn thể hiện đầy đủ tinh thần tập thể của cộng đồng, lòng mến khách của chủ nhà.

Có thể nói, những vật dụng trong căn nhà của người Ê-đê không chỉ gắn liền với hoạt động sống mà còn phản ánh được tính cách, sự giàu có, phồn vinh của cả một cộng đồng.

3. Kết luận

Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là đoạn trích quan trọng của sử thi "Đăm Săn". Đoạn trích không chỉ khắc họa vẻ đẹp phi thường, khát vọng mãnh liệt của người anh hùng Đăm Săn mà qua đó, chúng ta còn thấy được những nét đẹp văn hóa, đặc biệt là không gian sinh hoạt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Sử thi "Đăm Săn" cho thấy kiến trúc nhà dài, vật dụng gắn liền với sinh hoạt và lối sống, tính cách của đồng bào người Ê-đê. Các giá trị vật chất, tinh thần của người Ê-đê trong thời đại mới cần phải được bảo tồn và phát huy hơn nữa.

1
30 tháng 11 2025

Tài liệu tham khảo này tu đâu


20 tháng 7 2021

Tham khảo ạ !!

Con người ta sinh ra và lớn lên, ai lại không một lần ước mơ, dù là ước mơ thật bình thường, thật đơn giản và ai cũng có những khát vọng, có niềm tin và có lý tưởng để sống nhất là đối với tuổi trẻ của chúng ta, lứa tuổi người ta cho là đẹp nhất thì ước mơ và lý tưởng lại bộc lộ rõ nét, có lúc lại đan xen với nhau, có lúc lại là một cuộc đấu tranh dằn vặt. Ai cũng biết, tuổi trẻ bao giờ cũng vươn tới cái hay nhất, cái đẹp nhất. Đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời biết bao điều mới lạ đặt ra đòi hỏi phải nhận thức và xử lý. Đâu sẽ là sống đẹp, sống có ích? Tiền đề tươi sáng? Thế nào là hạnh phúc, là ước mơ cao đẹp?

“Sống đẹp” không phải là một cái gì to lớn lắm, nó rất gần gũi với chúng ta, đó không phải là những lý lẽ, những lời nói suông, nhưng phương châm trên giấy, sách vở … mà đó là những việc làm, những hành động cụ thể diễn ra hàng ngày trong đời sống của chúng ta. Ðịnh nghĩa về “Sống đẹp” sẽ có rất nhiều cách khác nhau; Đó là sống có đạo đức trong sáng và bản lĩnh vững vàng, có lý tưởng và sống hết mình vì lý tưởng, chỉ khi xác định được điều đó ta mới sống và làm việc thật sự có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Có thể hiểu “Sống đẹp” là sống có ích, là sống có lý tưởng, có bản lĩnh vững vàng, có mục tiêu phấn đấu rõ ràng, trong sáng. Chỉ khi xác định được điều đó ta mới sống và làm việc thật sự có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Bản thân tôi nghĩ rằng bản thân mỗi người nên cố gắng hoàn thành tốt công việc mình đang làm cũng là sống đẹp

Trong thực tế, rất có thể có một số bạn trẻ nghĩ “Sống đẹp” là một khái niệm xa vời, khó thực hiện; tuy nhiên, nếu nhìn thẳng và sâu vào vấn đề này trong thời kỳ đất nước đổi mới tiến vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa ta thấy điều đó thật sự không có gì xa lạ, khó thực hiện; mà trái lại nó tồn tại ngay trong cách nghĩ, cách làm hay nói gần hơn là trong cách ăn nói, ứng xử trong lao động, công tác, học tập và đời sống thường nhật của mỗi con người. Nếu như trong chiến tranh, lớp lớp cha anh ta đã sống và cống hiến quên mình cho nền độc lập dân tộc, tính mạng con người và cuộc sống hạnh phúc cá nhân là rất qúy giá, nhưng tất cả đều được tình nguyện gác lại, tình nguyện hy sinh, họ sẵn sàng đánh đổi những gì là riêng tư nhất để đổi lấy nền độc lập dân tộc. Họ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” khi tuổi đời còn rất trẻ và cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp chung của Tổ quốc. Khi Tổ quốc cần, họ đã tự nguyện ra đi, chiến đấu và hy sinh anh dũng. Đó là sự dấn thân, cống hiến hoàn toàn tự nguyện khi bản thân đã hiểu thế nào là lẽ sống của mộ t con người và lý tưởng của Người Cộng sản. Họ đã có niềm tin tuyệt đối vào độc lập tự do, có lý tưởng cao cả vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vô tư dâng hiến tuổi trẻ và cuộc đời cho đất nước. Niềm tin và lý tưởng ấy được bồi đắp và khích lệ mạnh mẽ bởi sự hy sinh lớn lao và nhân cách cao cả của bộ máy lãnh đạo mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Biết bao nhiêu anh hùng, liệt sĩ đã nghĩ và hành động như vậy. Ngày hôm nay, sống giữa đất trời hoà bình,

khi chiến tranh đã lùi xa, phần lớn mọi sự so sánh giữa thời chiến tranh với thời hiện tại đều có rất nhiều sự khác biệt, nhưng có một điểm chung rất thống nhất trong tình cảm và lí trí của thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay chính là: lý tưởng cách mạng và khát vọng sống, cống hiến cho quê hương, đất nước. Bởi tôi nghĩ, ở mỗi con người nhu cầu khẳng định mình là rất lớn; nhất là ở tuổi trẻ, bởi dù trong bất cứ hoàn cảnh nào các bạn trẻ cũng luôn luôn khát khao được thực hiện những ước mơ và khát vọng của bản thân. Nếu như những ước mơ, khát vọng, niềm tin và lý tưởng ấy được quan tâm, chăm sóc, giáo dục và khơi dậy sẽ biến nó thành sức mạnh to lớn để phát triển đất nước và sẽ là những đoá hoa thơm có ích giữa cuộc đời như lời Bác đã khẳng định khi tham dự Đại hội Đoàn lần thứ III năm 1961 “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”.

“Sống đẹp” là chúng ta phải biết dung hoà mọi mặt: môi trường sống và làm việc, quan hệ xã hội, gia đình … Một hành động giúp đỡ người già cả, tàn tật, người gặp khó khăn hoạn nạn; một phong trào cứu trợ đồng bào bị thiên tai; một phong trào đền ơn đáp nghĩa rộng khắp; những lớp học tình thương đem ánh sáng văn hoá đến với trẻ em nghèo … tất cả những việc làm ấy là kết quả của một cách sống coi trọng nhân nghĩa. Chúng ta thật sự cảm động khi bắt gặp rất nhiều

20 tháng 7 2021

Cuộc sống của con người thật đa dạng và mỗi người đều có một quan điểm riêng của mình về cuộc sống. Có người chỉ biết sống cho riêng mình, cho hiện tại mà chẳng cần biết đến kẻ khác, chẳng biết ngày mai sẽ ra sao. Nhưng cũng có rất nhiều người luôn suy nghĩ, trăn trở về cuộc sống làm thế nào để có một cuộc sống đẹp theo đúng ý nghĩa của nó.

Cuộc sống của con người thật đa dạng và mỗi người đều có một quan điểm riêng của mình về cuộc sống. Có người chỉ biết sống cho riêng mình, cho hiện tại mà chẳng cần biết đến kẻ khác, chẳng biết ngày mai sẽ ra sao. Nhưng cũng có rất nhiều người luôn suy nghĩ, trăn trở về cuộc sống làm thế nào để có một cuộc sống đẹp theo đúng ý nghĩa của nó. Nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ Một khúc ca xuân cũng đã từng bâng khuâng: “Ôi sống đẹp đẹp là thế nào hỡi bạn”.

“Sống đẹp” là cách sống không phải chỉ biết sống cho riêng mình, sống theo lối sống cá nhân, ích kỉ, đi ngược lại đạo lí làm người… mà “sống đẹp” là một cách sống biết hi sinh, vị tha, biết đấu tranh cho hạnh phúc của người khác, tức là phải luôn luôn sống theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “mình vì mọi người, mọi người vì mình”.

“Sống đẹp ” còn là cách sống luôn hướng về một mục đích, một lí tưởng cao đẹp, luôn gắn bó cuộc đời mình với đất nước với nhân dân. Cách sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một minh chứng hùng hồn cho cách sống đẹp. Vì thiết tha với đất nước, với nhân dân nên cả cuộc đời Bác phải trải qua biết bao nhiêu hi sinh, gian khổ để đấu tranh cho nền độc lập, tự do của đất nước, cho hạnh phúc của nhân dân: “Chỉ biết quên mình cho hết thảy – Như dòng sông chảy nặng phù sa" như nhà thơ Tố Hữu đã nói.

Người có cách sống đẹp là người có tâm hồn, tình cảm lành mạnh, có ước mơ trong sáng, có niềm tin và nghị lực vượt qua bao sóng gió của cuộc đời để vươn đến một tương lai tươi sáng. Qua bao kì thi tuyển sinh vào Đại học ta đã thấy có nhiều học sinh con nhà nghèo thiếu sách vở, thiếu thời gian vì còn phải làm việc để phụ giúp gia đình nhưng nhờ có tinh thần hiếu học, luôn nỗ lực trong cuộc sống và học tập nên đã trở thành thủ khoa trong những kì thi tuyển sinh đại học ấy.

“Sống đẹp” sẽ đem lại cho chúng ta một cuộc sống thật vô cùng ý nghĩa. “Sống đẹp" sẽ làm cho cuộc sống của chúng ta trong sáng, thanh cao hơn, góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn, đẩy lùi cái xấu, phát huy cái tốt, làm cho người gần người hơn, đời sống tinh thần ngày càng phong phú văn minh hơn.

Người học sinh sống đẹp là phải biết chăm chỉ học tập, có đạo đức tót, hiếu thảo với cha mẹ, lễ phép với thầy cô, thân ái, hòa nhã với bạn bè, biết nghe theo những lời hay, lẽ phải mà cha mẹ và thầy cô thường dạy bảo. Hơn nữa một người học sinh sống đẹp là người học sinh ấy phải trung thực trong học tập, không quay cóp trong khi làm bài, không xả rác trong lớp học và nơi công cộng, phải biết yêu thương, trân trọng, giúp đỡ những người nghèo khổ, tàn tật, phải biết bênh vực và đấu tranh cho lẽ phải, không tham gia vào các vụ bạo lực học đường.

Hơn nữa, khi chúng ta sống đẹp, được mọi người thương yêu, trân trọng thì khi chúng ta gặp rủi ro, hoạn nạn, chúng ta sẽ được mọi người cứu giúp, cưu mang, đùm bọc để chúng ta vượt qua những rủi ro hoạn nạn ấy.

Tóm lại, “Sống đẹp” là biểu hiện cách sống của một con người có văn hóa. Sống đẹp: làm cho nhân cách của chúng la ngày càng hoàn thiện hơn, góp phần làm cho cuộc sống xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Muốn sống đẹp chúng ta phải luôn đấu tranh với cái ác, cái xấu, tư tưởng cá nhân ích kỉ, tầm thường, nhỏ hẹp; phát huy cái tốt, cái thiện và phải biết trân trọng cái đẹp.