Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"
Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:
- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.
- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.
- Gợi lên tình cảm thầy trò.
Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.
Câu 2.
Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông (điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt).
Câu 3.
Hai từ láy trong văn bản:
- xù xì: chỉ bề mặt thô ráp, không nhẵn.
- chật chội: chật, gây cảm giác bức bối, khó chịu.
Câu 4.
Nhân vật “tôi” (hạt dẻ gai) mang đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại:
- Vừa mang đặc điểm của loài vật/thực vật (có vỏ xù xì, gai góc).
- Vừa mang đặc điểm của con người: biết suy nghĩ, cảm xúc, lo sợ, được mẹ an ủi (nhân hoá).
Câu 5.
Bài học rút ra:
Muốn trưởng thành, mỗi người cần dũng cảm rời vòng tay che chở, tin vào bản thân và sẵn sàng đối diện với thử thách trong cuộc sống.
Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại
Câu 2: Theo văn bản ,những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa ,mưa dông
Câu 3: Hai từ láy là :"xù xì", "chật chội"
-Nghĩa của từ "chật chội": chật, gây nên cảm giác bức bối khó chịu
- Nghĩa của từ "xù xì": bù xù, gây nên cảm giác khó chịu
Câu 4: Nhân vật tôi ( dẻ gai) là mội loài thực vật , vừa mang đặc điểm của lòa vật vừa mang đặc điểm của con người (được nhân các hóa)
Câu 5: Qua bài đọc em rút ra được bài học là : Muốn trưởng thành, ta phải dũng cảm bước ra khỏi vòng tay che chở, tin vào bản thân, sẵn sàng đối diện với thử thách
Câu 1:
Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ ba
Câu 2:
Aưm sống trong hoàn cảnh nghèo khó, mồ côi cha, mẹ thì đau ốm liên miên, bản làng lại bị hạn hán, đói khát
Câu 3:
- từ láy: thiêm thiếp
- đặt câu: Bé ngủ thiêm thiếp trong vòng tay mẹ.
Câu 4: chi tiết đó chứng minh Aưm là một cậu bé hiếu thảo, chăm chỉ, yêu thương và hết lòng lo lắng cho mẹ
Câu 5:
Bài học em rút ra từ câu chuyện:cần biết yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ, sống biết sẻ chia, giúp đỡ người khác, đồng thời phải chăm chỉ, kiên trì và biết vượt qua khó khăn trong cuộc sống
Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về thói quen bắt chước. Bắt chước có thể là một phần tự nhiên của quá trình học hỏi, nhưng bắt chước mù quáng lại là một thói quen tiêu cực.
- Nêu vấn đề chính: Thói bắt chước mù quáng mang lại nhiều tác hại nghiêm trọng cho con người.
- Thân bài:
- Làm mất đi bản sắc và cá tính: Khi bắt chước, con người không còn là chính mình. Họ sống theo khuôn mẫu của người khác, dần dần đánh mất những nét riêng, sở thích và giá trị cá nhân. Đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin và hèn nhát trong việc thể hiện bản thân.
- Gây ra sự thất bại: Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Bắt chước cách làm của người khác mà không có sự cân nhắc, sáng tạo sẽ rất dễ dẫn đến thất bại. Chẳng hạn, một người khởi nghiệp bắt chước mô hình kinh doanh của một công ty lớn mà không xem xét thị trường, vốn và năng lực của mình sẽ khó thành công.
- Gây cản trở sự phát triển: Khi chỉ biết bắt chước, con người sẽ không còn động lực để tư duy, sáng tạo và tìm tòi cái mới. Xã hội sẽ dậm chân tại chỗ nếu ai cũng đi theo lối mòn cũ.
- Mất đi sự tôn trọng của người khác: Một người chỉ biết bắt chước thường không được đánh giá cao, vì họ không có ý kiến độc lập và không thể tự đưa ra quyết định.
- Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề: Thói bắt chước mù quáng là một rào cản lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội.
- Nêu giải pháp: Mỗi người cần học cách sống là chính mình, biết lắng nghe, học hỏi nhưng phải có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên dấu ấn riêng.
Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu về trải nghiệm đó. Nêu cảm nhận ban đầu của bạn về nó. Ví dụ: "Trong cuộc đời mỗi người, có những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc..." hoặc "Đó là một buổi chiều mưa, nhưng lại là lúc tôi nhận ra giá trị của lòng nhân ái..."
- Thân bài:
- Bối cảnh: Kể lại bối cảnh xảy ra câu chuyện: thời gian, địa điểm, những nhân vật liên quan.
- Diễn biến:
- Tường thuật lại toàn bộ câu chuyện theo trình tự thời gian.
- Tập trung vào những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng mạnh. Dùng các từ ngữ miêu tả sinh động để người đọc cảm nhận được cảm xúc của bạn khi đó (vui, buồn, thất vọng, bất ngờ...).
- Điểm mấu chốt: Sự kiện nào đã làm thay đổi suy nghĩ, cảm xúc của bạn?
- Ý nghĩa: Phân tích sâu sắc ý nghĩa của trải nghiệm đó.
- Bạn đã học được điều gì từ câu chuyện? (ví dụ: sự kiên trì, lòng biết ơn, tình yêu thương, sự tha thứ...)
- Trải nghiệm đó đã thay đổi bạn như thế nào? (ví dụ: giúp bạn tự tin hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn, thay đổi cách nhìn về một vấn đề nào đó...).
- Kết bài:
- Tổng kết lại giá trị của trải nghiệm.
- Khẳng định lại rằng trải nghiệm đó sẽ mãi là một bài học quý giá, một kỷ niệm không thể quên.
Bài làm
Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau
Trong kho tàng truyền thuyết phong phú của Việt Nam, câu chuyện về Sự Tích Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm luôn chiếm một vị trí đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa lịch sử mà còn vì vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của nó. Truyền thuyết này gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV
Truyền thuyết kể rằng, khi đất nước đang chìm trong ách đô hộ của giặc Minh, lòng người căm phẫn và khao khát độc lập. Thấu hiểu ý trời và lòng dân, Đức Long Quân đã quyết định trao cho Lê Lợi một bảo vật thiêng liêng để giúp ông hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc: đó là Thanh Gươm Thần. Thanh gươm không được trao trực tiếp. Lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy dưới đáy sông, còn chuôi gươm nạm ngọc lại được tìm thấy trên ngọn cây, tỏa ánh sáng rực rỡ, tất cả đều do người của Lê Lợi tình cờ nhặt được
khi lưỡi và chuôi hợp lại, thanh gươm trở nên hoàn chỉnh, mang sức mạnh phi thường. Nhờ có Thanh Gươm Thần, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, liên tiếp giành thắng lợi vang dội, cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước. Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên nhà Hậu Lê, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị
Saukhi đất nước yên bình, tong một lần nhà vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) dạo chơi trên chiếc thuyền rồng ở hồ Tả Vọng (tên cũ của Hồ Gươm), một Con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước. Rùa Thần tiến đến gần thuyền vua, cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hoàn trả lại gươm cho Long Quân!” Nhà vua hiểu ra rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành. Vua bèn rút gươm trao cho Rùa Vàng.Rùa Thần đón lấy gươm, ngậm vào miệng rồi lặn xuống đáy hồ. Kể từ đó, hồTả Vọng được đổi tên thành Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm) minh chứng cho lòng nhân ái, hòa bình của dân tộc và sự đồng lòng giữa Trời – Đất – Người trong công cuộc cứu nước
Truyền thuyết này không chỉ là một câu chuyện thần kỳ mà còn thể hiện tinh thần thượng võ và yêu chuộng hòa bình của người Việt, nhắc nhở các thế hệ về công lao của cha ông và ý nghĩa thiêng liêng của độc lập, tự do
Trong số các truyền thuyết cổ xưa của dân tộc Việt Nam, câu chuyện về Sơn Tinh và Thủy Tinh không chỉ là một huyền thoại giải thích hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người Việt trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai.
Truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Hùng thứ 18, có một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Vua Hùng muốn kén cho con gái một người chồng xứng đáng nên đã mở hội thi tuyển rể. Từ khắp nơi, nhiều chàng trai tài giỏi tìm đến, nhưng nổi bật nhất là hai vị thần: Sơn Tinh và Thủy Tinh.
Sơn Tinh là một chàng trai khôi ngô, có tài lạ: chỉ cần vẫy tay, núi đồi trùng điệp sẽ mọc lên, cây cối xanh tươi. Thủy Tinh cũng không kém cạnh, chàng có khả năng hô mưa gọi gió, làm cho biển cả và sông ngòi cuộn trào. Cả hai đều tài giỏi ngang sức ngang tài, khiến Vua Hùng khó lòng lựa chọn.
Cuối cùng, Vua Hùng đặt ra điều kiện thách cưới: "Sáng sớm hôm sau, ai mang đến sính lễ gồm một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao đến trước, người đó sẽ được cưới Mị Nương."
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng, Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến trước. Vua Hùng giữ lời hứa, gả Mị Nương cho Sơn Tinh. Thần Núi rước vợ về núi Tản Viên.
Khi Thủy Tinh đến nơi, thấy Mị Nương đã theo chồng, chàng vô cùng giận dữ. Cảm thấy bị sỉ nhục, Thủy Tinh đã nổi cơn lôi đình, dốc toàn lực để báo thù. Thần Nước hô mưa, gọi gió, làm nước biển dâng cao, dìm chìm đồng bằng, muốn nhấn chìm núi Tản Viên để cướp lại Mị Nương.
Trước sức mạnh kinh hoàng của nước, Sơn Tinh không hề nao núng. Thần Núi dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên bao nhiêu, Sơn Tinh đắp đất, nâng núi cao lên bấy nhiêu. Cuộc chiến kéo dài ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng, sức Thủy Tinh kiệt dần, đành phải rút lui.
Tuy nhiên, mối thù này không bao giờ dứt. Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh để đòi Mị Nương, gây ra cảnh lũ lụt khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và năm nào cũng vậy, Sơn Tinh vẫn chiến thắng, giữ vững bờ cõi và bảo vệ cuộc sống của người dân.
Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, không có câu chuyện nào lại gắn bó sâu sắc với Thủ đô Hà Nội và tinh thần yêu nước hơn Truyền thuyết Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm). Truyền thuyết này không chỉ giải thích nguồn gốc của một di tích lịch sử mà còn tôn vinh chiến thắng vĩ đại và phẩm chất cao đẹp của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi.
Câu chuyện bắt đầu vào thời kỳ đất nước chìm trong ách đô hộ của giặc Minh. Khi đó, thủ lĩnh Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đang gặp vô vàn khó khăn, thiếu vũ khí và lương thực. Long Quân (Vua Rồng), cảm thương trước cảnh lầm than và thấy được ý chí quật cường của Lê Lợi, đã quyết định trao tặng một thanh gươm thần để giúp ông đánh đuổi quân xâm lược.
Thanh gươm thần này không được trao trực tiếp. Thay vào đó, một lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy trong lưới của ngư dân Lê Thận. Sau đó, một chuôi gươm nạm ngọc lại được chính Lê Lợi tìm thấy dưới gốc cây đa. Khi tra vào, lưỡi gươm và chuôi gươm khớp nhau một cách kỳ diệu, tạo thành thanh gươm báu mang tên ''Thuận Thiên''. Từ khi có gươm thần, nghĩa quân Lam Sơn như được tiếp thêm sức mạnh, liên tục giành thắng lợi và cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.
Sau khi đất nước thái bình, Lê Lợi lên ngôi vua (Lê Thái Tổ). Một hôm, nhà vua đang đi thuyền dạo chơi trên chiếc hồ lớn ở kinh thành. Bỗng nhiên, một con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước, tiến về phía thuyền Rồng. Rùa Vàng cất tiếng nói rõ ràng: "Xin bệ hạ hoàn trả gươm thần cho Long Quân!".
Nhà vua hiểu rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành, chiến tranh đã kết thúc, và lòng nhân ái mới là thứ cần thiết để xây dựng đất nước. Vua Lê Lợi liền rút gươm trao trả cho Rùa Vàng. Rùa Vàng ngậm thanh gươm báu rồi lặn xuống đáy hồ và biến mất. Kể từ đó, chiếc hồ được đặt tên là Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm), còn được gọi là Hồ Gươm.
Truyền thuyết Hồ Gươm là một câu chuyện đẹp không chỉ về lòng dũng cảm chiến đấu mà còn về tinh thần hòa bình. Nó khẳng định rằng, vũ khí thần thánh chỉ cần thiết khi đất nước bị xâm lăng. Khi độc lập đã được thiết lập, thanh gươm phải được trao trả, biểu tượng cho việc dân tộc ta gác lại chiến tranh, tập trung vào xây dựng cuộc sống thái bình. Hồ Gươm và tháp Rùa vẫn đứng đó giữa lòng Hà Nội, như một lời nhắc nhở vĩnh cửu về truyền thống yêu nước, giữ gìn hòa bình và sự kết nối thiêng liêng giữa con người với đất trời.
Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện đặc sắc. Truyện dân gian đã làm giàu trí tưởng tượng của chúng ta và là kho báu tình thần vô giá mà cha ông ta để lại. Trong đó , có những câu chuyện truyện truyền vừa mang những chi tiết kì ảo, hoang đường vừ gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Một trong số đó, em ấn tượng nhất với câu chuyện Thánh Gióng. Thuở xưa, vào đời Hùng Vương thứ VI, ở làng Gióng có hai vợ chồng già nổi tiếng là chăm chỉ làm ăn và có phúc đức. Nhưng hai vợ chồng lại muộn con. Một ngày nọ, bà lão đi làm đồng thì thấy một vết chân khổng lồ. Bà liền ướm thử xem hơn kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai. Mười hai tháng sau bà sinh ra một cậu bé, mặt mũi khôi ngô, sáng sủa. Nhưng điều kì lạ là đến khi lên ba tuổi, cậu bé vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, đặt đâu thì nằm đấy. Bấy giờ, giặc Ân muốn xâm chiếm bờ cõi nước ta. Thấy giặc mạnh, vua Hùng lo sợ nên hạ lệnh đi tìm người tài giỏi cứu nước. Gióng nghe thấy tiếng sứ giả rao bèn cất tiếng nói đầu tiên: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây." Khi sứ giả bước vào, cậu bé nói:"Ông về hãy tâu với vua rằng làm cho ta một bộ áo giáp sắt, một chiếc roi sắt và một con ngựa sắt. Ta sẽ đánh tan lũ giặc này." Sứ giả vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ vội chạy về tâu với vua. Vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật mà chú bé dặn. Sau hôm gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc mà đã đứt chỉ. Cha mẹ làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con đành phải chạy nhờ bà con, làng xóm. Ai cũng vui lòng gom góp gạo nuôi cậu bé vì ai cũng đều muốn cậu bé đánh đuổi lũ giặc này để cho mọi người được sống trong sự bình yên, hạnh phúc. Bấy giờ, giặc đã đến chân núi Trâu, sứ giả vội vàng đem những vật mà chú bé đã dặn đến. Gióng vươn vai một cái đã biến thành một tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Chàng khoác trên mình bộ áo giáp sắt, tay cầm rồi sắt nhảy lên lưng ngựa. Ngựa hí vang dội mấy tiếng rồi chạy đến nơi có giặc, đón đầu chúng. Gióng đánh hết lớp giặc này đến lớp giặc khác. Giặc chết như ngả rạ. Đang đánh thì rồi sắt gãy, Gióng nhanh trí nhổ những bụi tre ở bên đường quật vào giặc. Đám tàn quân còn xót lại chạy đè lên nhau. Gióng đuổi bọn chúng đến chân núi Sóc. Đến đó, Gióng cởi bộ giáp sắt, rồi một mình một ngựa từ từ bay lên trời. Vua nhớ công ơn nên phong là Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng và lập đền thờ ngay tại quê nhà. Truyện truyền thuyết Tháng Gióng không chỉ là một câu chuyện bình thường mà là một bản hùng ca về sự dũng cảm, lòng nhân hậu và tình yêu nước tha thiết. Quả thật, truyện truyền thuyết không chỉ làm giàu trí tưởng tượng mà còn gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Trong thời đại hôm này, tinh thần Thánh Gióng vẫn vẹn nguyên giá trị. Nó nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta phải học tập rèn luyện để bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh.
Trong khổ thơ đầu, các từ cuối dòng gieo vần với nhau: "đa" (dòng 1) và "lá" (dòng 3) gieo vần "a". "Đồng" (dòng 2) và "mông" (dòng 4) gieo vần "ông". 2. Cây đa đã trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho những sự vật nào? Answer: Gió, chim, ve, trâu, bò, và người nông dân
Cây đa là nơi gọi gió đến, vẫy chim về, nuôi thêm nhiều ve. Dưới bóng đa, con trâu thong thả nhai hương lúa, đàn bò về, và các bác làm đồng nghỉ mát. 3. Bức tranh làng quê được miêu tả trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp như thế nào? Answer: Bình yên, giàu sức sống và tươi sáng
Bức tranh làng quê hiện lên với vẻ đẹp bình dị, yên ả qua hình ảnh mương nước, đồng lúa mênh mông, và cuộc sống sinh hoạt đời thường của người dân, trâu bò dưới bóng đa. Cảnh vật đầy màu sắc tươi sáng: lá xanh, nước bạc, lúa vàng, lông bò hồng như đốm lửa. 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai. Answer: Biện pháp nhân hóa
Trong khổ thơ thứ hai, tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa qua các từ "gọi", "vẫy", "nuôi" ("Cây đa gọi gió đến / Cây đa vẫy chim về / Và nuôi thêm nhiều ve"). Tác dụng là làm cho hình ảnh cây đa trở nên sống động, gần gũi, có hồn như một con người, thể hiện tình cảm gắn bó của tác giả với cây đa quê hương. 5. Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ đã gợi cho em những cảm xúc, suy nghĩ gì về quê hương mình? Em sẽ làm gì để giữ gìn những vẻ đẹp đáng quý của quê hương? (Trình bày khoảng 5-7 câu) Answer: Cảm xúc yêu mến, tự hào và ý thức bảo vệ vẻ đẹp quê hương
Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ gợi lên trong em tình yêu tha thiết và niềm tự hào sâu sắc về vẻ đẹp bình dị, thanh bình của quê hương Việt Nam. Em cảm nhận được sự gắn bó máu thịt giữa con người và thiên nhiên, thấy được hồn quê mộc mạc, đáng quý. Để giữ gìn những vẻ đẹp này, em sẽ cố gắng học tập thật tốt, rèn luyện bản thân để sau này góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp hơn. Đồng thời, em cũng sẽ tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan xanh, sạch, đẹp của làng quê mình.
Câu 1.
Khổ thơ đầu gieo vần “a” (đa – là – bạc – vàng [vần lưng gần]).
Câu 2.
Cây đa trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho chim, ve, trâu, bò và con người (các bác nông dân nghỉ mát).
Câu 3.
Bức tranh làng quê hiện lên yên bình, trù phú và giàu sức sống, với cây đa xanh mát, dòng nước trong, biển lúa vàng và con người lao động hiền hòa.
Câu 4.
Trong khổ thơ thứ hai, tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa qua các hình ảnh “cây đa gọi gió đến”, “cây đa vẫy chim về”. Biện pháp này làm cho cây đa trở nên gần gũi, có hồn, như một người bạn thân thiết của làng quê.
Câu 5.
Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ gợi cho em cảm xúc yêu thương, gắn bó và tự hào về quê hương mình. Quê hương hiện lên giản dị nhưng rất đỗi ấm áp và yên bình. Em cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên hòa quyện với cuộc sống con người. Điều đó khiến em thêm trân trọng những gì quê hương đang có. Để giữ gìn vẻ đẹp ấy, em sẽ có ý thức bảo vệ môi trường, chăm sóc cây xanh. Đồng thời, em sẽ tuyên truyền cho mọi người cùng chung tay giữ gìn quê hương ngày càng xanh, sạch, đẹp.
Câu 1
Vần gieo trong khổ thơ đầu là cần chân
Bài 1
Vần được gieo trong khổ thơ đầu của bài thơ "Cây đa" là vần "a" (trong các từ "đa", "lá") và vần "ô" (trong các từ "đồng", "mênh mông").
Câu 1: vần được gieo ở khổ thơ đầu của bài thơ là vần chân
Câu 2: cây đa đã trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho những sự vật như:
-Cây đa gọi gió đến
-Cây đa vẫy chim về
-Cây đa nuôi thêm nhiều ve
-Che bóng mát cho con trâu
-Che cho các bác nghỉ mát.
Câu 3: bức tranh làng quê được miêu tả trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp: rất bình yên và thanh thoát, biển nước vàng mênh mông, khung cảnh máy mẻ, dễ chịu.
Câu 4: biện pháp tu từ trong khổ thơ 2:nhân hóa, tác dụng: làm cây đa sinh động, gần gũi. Nhấn mạnh cây đa có sức sống mạnh mẽ.Thể hiện lòng yêu mến của nhà thơ.
Câu 5: Đọc bài thơ “Cây đa” của chú Trần Đăng Khoa, em cảm thấy vô cùng yêu mến và tự hào về quê hương mình. Hình ảnh cây đa cổ thụ, sừng sững giữa làng quê, gắn bó với bao kỷ niệm tuổi thơ, hiện lên thật thân thương và sống động qua từng câu chữ. Cây đa không chỉ là bóng mát, là nơi trú ngụ của chim chóc, mà còn là biểu tượng cho sự bình yên, thanh thoát của làng quê Việt Nam. Bài thơ khiến em thêm yêu và trân trọng những gì thuộc về quê hương mình. Vì vậy, em sẽ cố gắng học tập thật tốt, để sau này có thể góp sức mình xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn, đồng thời luôn giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Câu 1
Vần "ơi" (trong các từ "trời", "ngồi", "chơi") được gieo ở cuối các câu thơ đầu tiên của bài thơ (ví dụ: "Góc sân và khoảng trời", "Em ngồi cạy vảy", "Em chơi"). Đây là vần chân, tạo sự liên kết và nhịp điệu cho khổ thơ.
Câu 2
Cây đa trong bài thơ đã trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho những sự vật như con chim, con gà, con trâu, và cả ánh trăng. Hình ảnh cây đa là một hình ảnh quen thuộc, giản dị của làng quê Việt Nam, gắn liền với tuổi thơ của tác giả.
Câu 3
Bức tranh làng quê được miêu tả trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp giản dị, bình yên, trong trẻo và đầy sức sống. Các hình ảnh như con bướm vàng, dòng sông, vườn cải, cây trầu, và ông trăng đều rất gần gũi, thể hiện góc nhìn hồn nhiên của trẻ thơ về thế giới xung quanh.
Câu 4
Biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng hiệu quả trong khổ thơ thứ hai. Tác giả đã nhân cách hóa sự vật (ví dụ: ông trăng biết "nhoẻn miệng cười", "thập thò ngoài cửa rủ bạn đi chơi") làm cho thế giới tự nhiên trở nên sống động, gần gũi và đáng yêu hơn trong mắt trẻ thơ. Điều này giúp phát triển trí tưởng tượng cho người đọc và nuôi dưỡng tâm hồn yêu văn học.
Câu 5
Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ gợi cho em những cảm xúc ấm áp, gần gũi và tình yêu sâu sắc với quê hương. Em cảm nhận được vẻ đẹp bình dị, thanh bình của cuộc sống nông thôn Việt Nam. Để giữ gìn những vẻ đẹp đáng quý đó, em sẽ cố gắng học tập thật tốt, tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường địa phương, và giới thiệu những nét đẹp văn hóa, thiên nhiên của quê hương mình đến với bạn bè. Em tin rằng, việc trân trọng và phát huy những giá trị truyền thống cũng là cách để giữ gìn quê hương mãi xanh tươi, đẹp đẽ.
Câu 1. Trong cuối dòng thơ thứ hai và thứ tư, từ "đồng" và từ "mông" gieo vần "ông".
Câu 2.(Lấy từ hướng dẫn giải) Cây đa đã trở thành nơi che trở và nuôi dưỡng cho rất nhiều sự vật, bao gồm: chim; ve; còn trâu; các bác nông dân.
Câu 3. Hiện lên với vẻ đẹp yên bình và đậm chất làng quê nông thôn. Những hình ảnh đó có sự trợ giúp tô điển của: "mương nước giữa đồng"; "biển lúa vàng mênh mông"; cây đa; chim; ve; còn trâu; đàn bò; trưa hè nắng gắt; các bác nông dân.
Câu 4. (lấy từ hướng dẫn giải) Biện pháp tu từ trong khổ thơ thứ hai là nhân hoá (cây đa biết "gọi gió đến","vẫy chim về". Giúp hình ảnh cây đa trở nên sinh động, có hồn hơn.
Câu 5.
Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ gợi cho em cảm giác thân thương và bình yên về quê hương mình. Em nghĩ đến con đường gần nhà, nơi hai bên là những thửa ruộng nhỏ, cũng có số ít người trồng rau. Đến ngã tư, con đường đá đi thẳng còn hai bên là những ngôi nhà quen thuộc. Quê hương em tuy giản dị nhưng rất yên bình và gần gũi. Em cảm thấy yêu và tự hào về nơi mình đang sống. Để giữ gìn vẻ đẹp đó, em sẽ chăm ngoan học tập và có ý thức bảo vệ môi trường xung quanh.
Câu 1
Trong khổ thơ đầu các tiếng "đồng" và "mông" được gieo "ông" với nhau
Câu 2
Cây đa đã trở thành nơi che chở nuôi dưỡng cho rất nhiều sự vật bao gồm: chim, ve ,con trâu, các bác nông dân
Câu 3
Bức tranh làng quê trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp yên bình trù phú và tràn đầy sức sống đó là vẻ đẹp hài hòa giữa các sự vật cây đa xanh tốt mương Nước bạc và biển lúa vàng mênh mông trải dài ngút tầm mắt vẻ đẹp ấy còn đến từ sự sống động Quây Quần của vạn vật quanh cây đa nào là gió chim ve nào là đàn trâu thung Thăng gặm cỏ nào là những người nông dân hiền lành đến gốc đa để nghỉ ngơi tất cả đã tạo nên một khung cảnh làng quê thật thanh bình ấm áp và gắn bó
Câu 4
Giúp hình ảnh cây đa trở nên sinh đông, có hồn hơn, biết hành động, giao hòa với thiên nhiên, vạn vật
Câu 5
Đọc bài thơ hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê Thanh Bình đã khơi dậy Trong Em Tình yêu tha thiết và niềm tự hào về quê hương em từ những hình ảnh ấy em cảm nhận được vẻ đẹp mộc mạc giản dị nhưng vô cùng ấm áp và trù phú của làng quê để giữ gìn những vẻ đẹp đáng quý của quê hương trước hết em sẽ cố gắng học tập thật tốt để sau này góp sức xây dựng quê hương bên cạnh đó em tích cực hành động bảo vệ môi trường sống xung quanh mình không vứt rác bừa bãi và tham gia các hoạt động trồng cây xanh để giữ gìn Không Gian Sống cảnh quan của quê hương
Câu 1:
Trong khổ thơ đầu của bài thơ " Cây Đa " ( tác giả Trần Đăng Khoa ) các vần được gieo bao gồm:
Vần " a ": Gieo giữa từ " đa " ( cuối dòng 1 ) và từ " lá " ( cuối dòng 3 ).
Vần " ông ": Gieo giữa từ " đồng " ( cuối dòng 2 ) và từ " mông " ( cuối dòng 4 ).
Câu 2:
Cây Đa trở thành nơi che chở nuôi dưỡng cho những loài chim, loài ve, con trâu, đàn bò, con người.
Câu 3:
Trong bài thơ của Trần Đăng Khoa, bức tranh làng quê hiện lên với vẻ đánh hanh bình, trù phú và tràn đầy sức sống. Vẻ đẹp đó được dệt nên từ những hình ảnh rất đặng trưng: Màu sắc tươi sáng và rực rỡ, âm thanh rộn ràng, sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người, vẻ đẹp tĩnh lặng mà tràn trề nhựa sống.
Câu 4:
Phân tích tác dụng:
1. Làm cho Cây Đa trở nên sống động, có hồn.
2. Thể hiện sự gắn bó, bao bọc.
3. Gợi hình ảnh kỳ vĩ, lớn lao.
4. Bộc lộ tình yêu quê hương của tác giả.
Câu 5:
Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ đã khơi dậy trong em niềm tự hào và tình yêu tha thiết đối với nơi mình sinh ra. Cây Đa cổ thụ không chỉ là một biểu tượng văn hóa mà còn gợi nhắc về sự gắn kết, che chở và lòng bao dung của quê hương đối với mỗi người con. Qua những vần thơ của Trần Đăng Khoa, em nhận thức sâu sắc rằng vẻ đẹp của làng quê chính là sự bình yên từ những điều giản dị nhất như bóng mát, tiếng chim và tình làng nghĩa xóm. Để giữ gìn những giá trị đáng quý ấy, em sẽ tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường như trồng cây xanh và giữ gìn vệ sinh chung tại địa phương. Đồng thời, em sẽ luôn trân trọng, học giỏi và giới thiệu những nét đẹp văn hóa, truyền thống của quê hương mình đến với bạn bè mọi nơi.
Câu 1:
- Vần được gieo trong khổ thơ đầu là vần chân.
Câu 2:
- cây đa đã trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng của các loài chim, các loài côn trùng và là bóng mát cho con người, trẻ em chăn trâu nghỉ ngơi.
Câu 3:
- bức tranh làng quê hiện lên với vẻ đẹp: thanh bình, giản dị, sống động và tràn đầy sức sống thông qua những hình ảnh quen thuộc tiếng ve, cây đa, lá quạt.
Câu 4:
- biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai là nhân hóa.
- Tác dụng: làm cho hình ảnh cây đa trở lên gần gũi, sinh động, có tình cảm như con người.
Câu 5:
- Hình ảnh cây đa gợi cho em niềm tự hào , tình yêu tha thiết và sự gắn bó sâu sắc hội quê hương. Để giữ gìn vẻ đẹp quê hương em sẽ:
+ Tích cực tham gia các hoạt động trồng cây xanh tại địa phương.
+ Tìm hiểu bàn chân trong các giá trị văn hóa, lịch sử của làng quê.
+ Giới thiệu vẻ đẹp quê hương tới bạn bè khắp nơi để cùng chung tay bảo tồn.
Cách nhau
Câu 1: Trong khổ thơ đầu, các tiếng "đồng" và "mông" được gieo vần "ông" với nhau. Câu 2: Cây đa đã trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho rất nhiều sự vật, bao gồm: Chim, ve, con trâu, các bác nông dân.
Câu 4: – Biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ: Nhân hoá (Cây đa biết "gọi gió đến", "vẫy chim về"). - Tác dụng của biện pháp tu từ: + Giúp hình ảnh cây đa trở nên sinh động, có hồn hơn, biết hành động, giao hoà với thiên nhiên, vạn vật. + Thể hiện tình yêu, sự gắn bó của nhà thơ với cây đa trong làng. Câu 5: Bài làm Đọc bài thơ, hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê thanh bình đã khơi dậy trong em tình yêu tha thiết và niềm tự hào về quê hương em. Từ những hình ảnh ấy, em cảm nhận được vẻ đẹp mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng ấm áp và trù phú của làng quê. Để giữ gìn những vẻ đẹp đáng quý của quê hương, trước hết em sẽ cố gắng học tập thật tốt để sau này góp sức mình xây dựng quê hương. Bên cạnh đó, em sẽ tích cực hành động để bảo vệ môi trường sống quanh mình, không vứt rác bừa bãi và tham gia các hoạt động trồng cây xanh để giữ gìn không gian sống, cảnh quan của quê hương. Ngoài ra, em cũng sẽ tìm hiểu và tích cực gìn giữ hơn nữa những nét đẹp văn hoá truyền thống của quê hương mình bởi nó chính là cội nguồn sinh dưỡng, góp phần tạo nên tâm hồn của con người quê hương em.
Câu 1
Khổ thơ đầu được gieo vần “a” (đa – xa – bạc – mênh mang…).
Câu 2 Cây đa che chở cho chim, ve, con trâu và người trong làng nghỉ mát. Câu 3 Bức tranh làng quê hiện lên rất đẹp và yên bình, có đồng lúa vàng, dòng nước và cây đa xanh mát. Câu 4 Tác giả dùng nhân hoá như “cây đa gọi gió đến”, “cây đa vẫy chim về”. Làm cho cây đa giống như con người và bài thơ sinh động hơn. Câu 5 Em thấy quê hương rất đẹp và thân quen. Cây đa làm em nhớ đến làng quê yên bình. Em cảm thấy yêu quê hương của mình hơn. Em sẽ giữ vệ sinh môi trường và không bẻ cây. Em cũng sẽ trồng thêm cây xanh để quê hương luôn xanh đẹp.
Câu 1
Trong khổ thơ đầu tác giả dùng từ đồng với từ mông có vần ông
Trong khổ thơ đầu, các tiếng"đồng" và "mông" được gieo vần "ông"với nhau
câu 1 là đồng và ông
Câu 1
Bài 1:
Vần được gieo trong khổ thơ đầu là: đồng-mông
Bài 2 :
Cây đa đã trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho sự vật: con chim , con ve , con trâu, đàn bò , các bác nông dân
Bài4:
Biện pháp tu từ: nhân hoá: " cây đa biết gọi gió đến"
Tác dụng :+ giúp hình ảnh cây đa trở nên sinh động, giao hoà với thiên nhiên
+ thể hiện tình yêu, sự gắn bó của nhà thơ với cây đa trong langf
Bài 5:
Đọc bài thơ, hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê thanh bình đã khơi dậy trong em tinhf yêu tha thiết và niềm tự hào về quê hương em. Từ những hình ảnh ấy, em cảm nhận được vẻ đẹp mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng ấm áp và trù phú của làng quê
Qâjshjssjjjq
trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp như thế nào? Trả lời: Bức tranh làng quê hiện lên với vẻ đẹp thanh bình, giản dị và tràn đầy sức sống. Đó là một không gian có sự gắn kết giữa thiên nhiên (cây đa, chim chóc) và con người, tạo nên một cảm giác ấm áp, thân thuộc và bền vững qua thời gian. Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai. Biện pháp tiêu biểu: Nhân hóa (Cây đa như một người ông, người bà, hoặc có những hành động như con người: "xòe tay", "nghĩ ngợi"...). Tác dụng: Làm cho hình ảnh cây đa trở nên sinh động, có hồn và gần gũi như một con người. Thể hiện sự gắn bó mật thiết, giàu tình cảm giữa cây đa với dân làng. Tăng sức biểu cảm, giúp người đọc cảm nhận được sự bao dung, che chở của thiên nhiên. Câu 5.Hình ảnh cây đa cùng khung cảnh làng quê thanh bình trong bài thơ đã khơi dậy trong em niềm tự hào và tình yêu tha thiết đối với nơi chôn rau cắt rốn. Cây đa không chỉ là một biểu tượng của sự trường tồn mà còn là "nhân chứng" chứng kiến bao đổi thay của làng quê, gợi nhắc về những kỉ niệm tuổi thơ êm đềm. Qua đó, em càng thêm trân trọng những giá trị truyền thống và vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của quê hương mình. Để giữ gìn những vẻ đẹp đáng quý ấy, em tự hứa sẽ luôn ý thức bảo vệ môi trường, không xả rác bừa bãi để xóm làng luôn xanh - sạch - đẹp. Đồng thời, em sẽ cố gắng học tập thật tốt để sau này góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh mà vẫn giữ được bản sắc riêng.
Khung cảnh cây đa rất đẹp
Câu1.Đồng và mông được reo vần ông
Câu2.Cây đa trở thành nơi che trở,nuôi dưỡng cho rất nhiều sự vật,bao gồm:Chim, ve,con trâu,các bác nông dân
Câu3.Bức tranh làng quên trong bài thơ thể hiện lên sự bình yên,đẹp đẽ.Vẻ đẹp giữa cái con vật,cây đa các bác nông dân.Qua đó hiện lên khung cảnh làng quê ấp áp,tấp nập
Câu4.Giúp cây đa trở nên sinh động,thân quen
Thể hiện tình yêu thương,sự gắn kết sâu sắc với tác giả
Câu5.Qua bài thơ ta càng thêm trân trọng và quý mến làng quê.Sự ấm áp,đoàn kết yêu thương nhau làm cho làng quê yên bình hơn.Các bác nông dân trong bài thơ với ánh mắt trìu mến và nụ cười hiền hậu cho ta thêm tình thương ấm áp
N
P
Câu 1
Mình được treo trong khổ thơ đầu của bài thơ là(ông)
Câu 2
Cây đa đã thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho những sự vật là :chim, con trâu, đàn bò, các bác nông dân.
Câu 3
B bức tranh làng quê được miêu tả trong bài thơ thể hiện nay vẻ đẹp thanh bình , trù phú,
tươi mát và tràn đầy sức sống của thiên nhiên và con người
Câu 4 biện pháp tu từ trong khổ thơ thứ hai là nhân hóa(cây đa vẫy gọi chim, cây đa gọi gió đến, cây đa nuôi ve )
Việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa đã giúp cho câu thơ trào lưu sinh động khóc rất nhiều tâm sự hình gợi cảm mang tính nhịp điệu cho câu thơ ấy. Đồng thời tất cả thể hiện được sự sống động và mối quan hệ tương giao với thiên nhiên của cây đa qua đó tác giả thể hiện được sự trân trọng biết ơn của tác giả.
Câu 5
Bài làm
Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ đã gửi cho em những cảm xúc yêu thương, gắn bó sâu sắc với quê hương và tâm giữ gì, bảo vệ những vẻ đẹp truyền thống đó. Để giữ gìn, bảo vệ những vẻ đẹp truyền thống đó. để giữ gìn những vẻ đẹp đáng quý của quê hương em sẽ kêu gọi mọi người trong tay bảo vệ môi trường. Tuyên truyền quảng cáo bảo vệ di tích lịch sử và trân trọng những truyền thống tốt đẹp đó
Trong khổ thơ đầu, vần được gieo là vần "ông" (vần chân):
"Bên mương nước giữa đồng""Biển lúa vàng mênh mông" Câu 2: Cây đa che chở, nuôi dưỡng những sự vật nào? Theo nội dung bài thơ, cây đa là nơi trú ngụ, che chở và nuôi dưỡng cho:
- Các loài vật: Chim (vẫy chim về), ve (nuôi thêm nhiều ve), con trâu và đàn bò (nằm dưới bóng đa).
- Con người: Các bác nông dân (nghỉ mát dưới vòm đa sau giờ làm việc).
Câu 3: Vẻ đẹp của bức tranh làng quê Bức tranh làng quê hiện lên với vẻ đẹp thanh bình, trù phú và tràn đầy sức sống:- câu 4
- Biện pháp: Nhân hóa (ví dụ: cây đa "che chở", "dang tay"...).
- Tác dụng: Giúp cho hình ảnh cây đa trở nên gần gũi, sinh động và có tâm hồn như con người. Qua đó, nhấn mạnh sự gắn bó mật thiết, sự bao bọc của thiên nhiên đối với con người và vạn vật ở làng quê, đồng thời làm cho lời thơ thêm giàu sức gợi hình, gợi cảm.
Câu 5: Cảm xúc về quê hương và hành động giữ gìn vẻ đẹp quê hương (Đoạn văn 5-7 câu)Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ đã khơi dậy trong em tình yêu tha thiết và niềm tự hào sâu sắc về nơi mình sinh ra. Nó nhắc nhở em về một tuổi thơ êm đềm và những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Quê hương chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn, là nơi để trở về sau những mệt mỏi. Để giữ gìn những vẻ đẹp đáng quý ấy, em tự hứa sẽ luôn ý thức bảo vệ môi trường, không xả rác bừa bãi để cảnh quan luôn xanh - sạch - đẹp. Bên cạnh đó, em sẽ cố gắng học tập thật tốt để sau này góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh. Cuối cùng, em sẽ luôn trân trọng và quảng bá những nét đẹp văn hóa, lịch sử của quê mình đến với bạn bè khắp nơi.
Câu 1:
Vần chân trong bài thơ : đồng – mông
Câu 2
Cây đa đã trở thành nơi che chở và nuôi dưỡng cho:
1. Chim: “Cây đa vẫy chim về.”
2. Ve (bọ ve): “Và nuôi thêm nhiều ve.”
3. Con trâu: Nơi trâu nghỉ ngơi, thong thả nhai lúa dưới bóng mát.
4. Đàn bò: Nơi đàn bò thong thả về.
5. Các bác (người lớn): Nơi các bác làm nghỉ mát.
Câu 3
Bức tranh làng quê hiện lên với vẻ đẹp bình dị, thanh bình, trù phú và đầy sức sống dưới ánh nắng mùa hè:
• Trù phú: Có cánh đồng lúa vàng mênh mông.
• Thanh bình: Có dòng nước bạc, cảnh vật ung dung (trâu thong thả, bò thong thả).
• Gắn bó: Cây đa là trung tâm kết nối mọi sự vật, con người với nhau trong sự yên ả, mát mẻ.
Câu 4
biện pháp tu từ Nhân hóa (gọi, vẫy).
• Biện pháp: Tác giả gọi và vẫy (hành động của con người) để tả hoạt động của cây đa.
• Tác dụng:
Làm cho cây đa trở nên sống động, có linh hồn như một người bạn, một người chủ hiền lành của làng.
Nhấn mạnh sức mạnh và sự giao tiếp diệu kỳ của cây đa với thiên nhiên (gọi gió, vẫy chim), thể hiện sự gắn bó thân thiết giữa cây đa và môi trường xung quanh.
Câu 5
câu1
các tiếng gieo vần là: đồng-mông
Bia