(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

CÂY TRE TRĂM ĐỐT

Ngày xưa, ở làng kia có một lão nhà giàu. Lão thuê một anh nông dân nghèo, khoẻ mạnh để cày ruộng cho lão. Lão nhà giàu nhiều thóc, nhiều tiền nhưng tính tình lại keo kiệt. Lão rất sợ phải trả tiền công cày cho anh nông dân, vì thế lão suy tính ngày đêm. Cuối cùng thì lão đã nghĩ ra một kế để lừa anh. Lão nhà giàu cho gọi anh nông dân đến và dỗ dành:

– Anh chịu khó cày ruộng cho ta trong ba năm. Hết thời gian đó, ta sẽ cho anh cưới con gái ta.

Anh nông dân thật thà tin ngay vào lời của lão. Hết vụ lúa mùa đến vụ lúa chiêm, không quản nắng mưa, sương gió, anh chăm chỉ cày bừa trên cánh đồng của lão nhà giàu. Mỗi mùa gặt, anh thu về cho lão ta rất nhiều thóc lúa. Nhà lão đã giàu lại càng giàu hơn nữa.

Thấm thoắt ba năm đã trôi qua, thời hạn làm thuê của anh nông dân cũng đã hết. Lão nhà giàu không muốn cho anh nông dân nghèo khổ cưới con gái của mình, lão lại tìm mưu kế để đánh lừa anh. Lão nhà giàu gọi anh đến và bảo:

– Con ơi, bấy lâu nay con đã chăm chỉ làm việc, ta sẽ cho con cưới con gái ta. Bây giờ, con phải vào rừng tìm cho được cây tre trăm đốt, đem về đây để làm đũa cho cả làng ăn cỗ cưới.

Anh nông dân thật thà, vác dao đi ngay vào rừng để chặt tre.

Đợi anh nông dân đi khỏi làng, lão nhà giàu bèn gả con gái lão cho một tên nhà giàu khác ở trong làng. Lão cho giết bò, giết lợn, nấu xôi, mở rượu làm cỗ cưới thật là linh đình.

Trong khi lão nhà giàu làm cỗ thì anh nông dân một mình lang thang trong rừng. Anh ngả hết cây tre này đến cây tre khác. Anh cẩn thận đếm từng đốt trên các cây tre nhưng chẳng cây nào có đủ một trăm đốt. Vẫn chưa nản lòng, anh lại tìm đến bụi tre già, anh cố chặt một cây cao nhất, mặc cho gai làm rách cả áo, xước cả da, cây tre đổ xuống, anh đếm đi, đếm lại vẫn chỉ có hơn bốn mươi đốt. Anh buồn quá, ngồi bên đống tre đốn dở và khóc. Bỗng nhiên anh thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào khoan thai đi đến, ông lão hỏi anh:

– Làm sao cháu khóc?

Anh lễ phép thưa rõ đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong ông lão nói:

– Cháu hãy đi chặt cho đủ một trăm đốt tre mang lại đây, ông sẽ giúp cháu.

Anh nông dân mừng quá, liền chặt đủ một trăm đốt tre đem đến cho ông lão. Ông lão chỉ tay vào đống tre và bảo anh đọc "Khắc nhập, khắc nhập" ba lần. Lạ thay, anh vừa đọc xong thì một trăm đốt tre dính liền lại với nhau thành một cây tre dài trăm đốt. Ông lão căn dặn anh:

– Cháu không thể vác cây tre này về nhà được vì nó quá dài cháu ạ. Cháu hãy đọc ba lần câu "Khắc xuất, khắc xuất", các đốt tre sẽ rời ra như cũ. Cháu hãy bó lại và đem về nhà.

Anh nông dân chưa kịp cảm ơn ông lão thì ông lão đã biến mất. Anh đành vác hai bó tre đi về làng.

Về tới nơi, thấy mọi người đang ăn uống vui vẻ, anh nông dân mới biết lão nhà giàu đã lừa dối anh. Anh lẳng lặng để bó tre ngoài sân rồi vào nhà gọi lão nhà giàu ra nhận. Lão nhà giàu không thấy tre, mà chỉ thấy toàn là đốt tre. Lão cười bảo anh:

– Tao bảo mày chặt đem về một cây tre có trăm đốt, chứ có bảo mày đem về một trăm đốt tre đâu?

Chẳng cần trả lời lão, anh lẩm nhẩm đọc "Khắc nhập, khắc nhập" ba lần, tức thì các đốt tre dính liền lại thành cây tre. Lão nhà giàu nhìn thấy lạ quá, bèn chạy lại sờ tay vào cây tre. Anh nông dân thấy vậy đọc luôn "Khắc nhập, khắc nhập", lão nhà giàu bị dính ngay vào cây tre, không có cách nào gỡ ra được. Thấy vậy mấy tên nhà giàu khác chạy tới định gỡ cho lão, anh nông dân lại đọc "Khắc nhập, khắc nhập" thế là cả bọn lại bị dính hết vào cây tre. Lão nhà giàu ra sức van xin anh, lão hứa sẽ cho anh cưới ngay con gái lão và từ nay về sau không dám bày mưu lừa gạt anh nữa. Lúc bấy giờ anh nông dân mới khoan thai đọc "Khắc xuất, khắc xuất" ba lần, tức thì cả bọn nhà giàu rời ra khỏi cây tre. Anh nông dân cưới cô con gái lão nhà giàu làm vợ và hai người sống bên nhau rất hạnh phúc.

(Trích Truyện dân gian Việt Nam, NXB Kim Đồng)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Văn bản "Cây tre trăm đốt" thuộc thể loại nào?

Câu 2. Chỉ ra nhân vật thuộc tuyến nhân vật phản diện của văn bản "Cây tre trăm đốt".

Câu 3. Hãy chỉ ra các chi tiết hoang đường, kì ảo được sử dụng trong văn bản. Theo em, các chi tiết hoang đường, kì ảo trong văn bản có vai trò gì?

Câu 4. Nhân vật anh nông dân trong văn bản có những phẩm chất gì đáng quý? Phẩm chất đó được thể hiện qua những chi tiết nào?

Câu 5. Qua nội dung câu chuyện, tác giả dân gian muốn gửi gắm ước mơ gì? Trình bày ngắn gọn suy nghĩ của em về ước mơ đó trong khoảng 5 − 7 dòng.

42
6 tháng 2

Câu 1. Thể loại: Văn bản "Cây tre trăm đốt" thuộc thể loại truyện cổ tích (cụ thể là cổ tích thần kỳ).

Câu 2. Nhân vật phản diện: Nhân vật thuộc tuyến nhân vật phản diện là lão nhà giàu. Lão đại diện cho sự tham lam, gian xảo và bội ước.

Câu 3. Chi tiết kì ảo và vai trò:

- Các chi tiết kì ảo: * Sự xuất hiện của ông Bụt (ông lão đầu tóc bạc phơ).

+ Hai câu thần chú "Khắc nhập, khắc nhập" và "Khắc xuất, khắc xuất".

+ Các đốt tre tự động dính liền thành một cây tre dài và tự rời ra theo lời đọc.

+ Lão nhà giàu và những tên khác bị dính chặt vào cây tre.

- Vai trò: * Giúp giải quyết những mâu thuẫn mà nhân vật chính không thể tự giải quyết bằng sức mạnh bình thường.

+ Thể hiện sự phù trợ của lực lượng siêu nhiên đối với những người hiền lành, lương thiện.

+ Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, thú vị và giàu trí tưởng tượng.

Câu 4. Phẩm chất của anh nông dân:

- Thật thà, chất phác: Anh tin ngay vào lời hứa của lão nhà giàu và đi vào rừng tìm cây tre trăm đốt mà không chút nghi ngờ.

- Chăm chỉ, chịu khó: Anh làm việc suốt ba năm ròng rã "không quản nắng mưa, sương gió", "ngả hết cây tre này đến cây tre khác" để thực hiện yêu cầu.

- Kiên trì, nhẫn nại: Dù tìm mãi không thấy cây tre trăm đốt, anh vẫn không nản lòng, cố tìm đến những bụi tre già nhất.

Câu 5. Ước mơ của tác giả dân gian và suy nghĩ cá nhân:

Ước mơ: Tác giả dân gian gửi gắm ước mơ về sự công bằng trong xã hội: "Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo". Người nghèo khổ, hiền lành sẽ được hạnh phúc, kẻ tham lam, xảo quyệt sẽ bị trừng trị.

Suy nghĩ về ước mơ (Đoạn văn 5-7 dòng):Ước mơ về sự công bằng qua triết lý "Ở hiền gặp lành" trong truyện "Cây tre trăm đốt" là một khát vọng nhân văn sâu sắc của người lao động xưa. Trong một xã hội đầy rẫy bất công, khi người nghèo bị áp bức, họ chỉ biết gửi gắm niềm tin vào sức mạnh của thần linh để tìm lại công lý. Ước mơ này không chỉ có giá trị trong quá khứ mà còn là bài học đạo đức quý giá cho đến ngày nay. Nó nhắc nhở chúng ta sống lương thiện, chân thành và tin tưởng rằng những nỗ lực chính đáng sẽ luôn được đền đáp xứng đáng. Đồng thời, đây cũng là lời cảnh báo cho những kẻ sống ích kỷ, lừa lọc sẽ phải nhận lấy hậu quả tương xứng.

Câu 1

Cây tre thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu 2

-Nhân vật phản điện là lão nhà giàu

Câu 3

Các chị tiết hoang đường kì ảo trong câu truyện là: sự xuất hiện của bụt,câu thần chú "khắc nhập, khắc nhập",câu thần chú"khắc xuất ,khắc xuất".

Tác dùng của các chị tiết hoang đường kì ảo:

Giúp câu truyện chở lên cuốn hút và hấp dẫn người đọc,người nghe hơn

Thể hiện ước mơ công lí về xã hội công bằng mà ở đó cái thiện lười nhác chiến thắng cái ác

Thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện giúp giải mâu thuẫn chính của truyện

Câu 4

Phẩm chất đáng quý của nhân vật là:Cần cù chăm chỉ,thật thà chất phác

Câu 5

Trong câu truyện tác giải muốn gửi gắm ước mơ mơ trong câu truyện là một đất nước công bằng những người làm việt tốt hay việc thiện đều được đền đáp còn những người làm việc ác thì sẽ phải trả giá cho việc làm của mình



11 tháng 3

Câu 1

14 tháng 3

Câu 1

-câu chuyện thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu 2

-nhân vật phản diện là: lão nhà giàu

Câu 3

-những chi tiết kỳ ảo là : sự xuất hiện của ông lão(bụt) để giúp đỡ anh nông dân

-câu thần chú "khắc nhập ,khắc nhập"có khả năng giúp các đốt tre dính vào nhau.

Câu 4

-những phẩm chất đáng quý của nhân vật anh nông dân là: cần cù, chăm chỉ, thật thà, chất phát, hiền lành.

Câu 5

-ước mơ có sức mạnh thần kỳ để chống lại cái ác, cái bớt công trong cuộc sống

14 tháng 3

C1juggling hữu dụng cho người dùng thì phải có cái gì cũng nên có cái gì cũng nên có cái gì cũng nên có cái gì cũng nên có cái gì cũng nên có cái gì  

Câu1

Truyện cây tre trăm đốt thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu2

Nhân vật thuộc tuyến phản diện trong câu chuyện cây tre trăm đốt là lão nhà giàu

Câu3

Những chi tiết hoang đường,kì ảo có trong văn bản:

-Sự xuất hiện của ông Bụt

-Đọc câu thần chú"Khắc nhập,khắc nhập"làm các cây tre dính vào nhau

-Câu thần chú"Khắc xuất,khắc xuất"để các cây tre tách rời

Tác dụng của các yếu tố hoang đường,kì ảo:

-Giúp cho câu chuyện trở nên cuốn hút và hấp dẫn người đọc,người nghe

-Thể hiện ước mơ công lí và muốn nói cái thiện luôn chiến thắng cái ác

Câu4

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật anh nông dân:

-Chăm chỉ,cần cù:Anh làm việc quần quật cho nhà lão giàu ba năm

-Thật thà,chất phác:Anh bị lão nhà giàu lừa hết lần này đến lần khác mà không hề nghỉ ngờ

Câu5

-Qua câu chuyện,tác giả dân gian muốn gửi tới chúng ta ước mơ:

-Ước mơ về một thế giới toàn người thật thà,lương thiện

-Ước mơ có sức mạnh chống lại cái ác,bảo vệ cho cái thiện và sẽ không bao giờ bị xã hội chèn ép




14 tháng 3

1 truyện cổ tích

2 lão nhà giàu

3 sự xuất hiện của ông lão với đầu tóc bạc phơ da dẻ hồng hào để giúp đỡ anh nông dân khi anh đang khóc vì tuyệt vọng

4 cần cù chăm chỉ anh làm việc quần quân cho ông lão nhà giàu






14 tháng 3

Câu 1:

Truyện cây tre trăm đốt thuộc thể loại truyện cổ tích

câu 2:

Ông lão nhà giàu

Câu 3:

Chi tiết kì ảo là ông bụt,nói khắc nhập khắc xuất là cây tre sẽ tự dựng cho người dính vào và thả người ra

Câu 1 cổ tích

Câu 2 lão nhà giàu

Câu 3 ông lão bụt và câu thần chú

Câu 4 người anh chăm chỉ cần cù làm cho lão nhà giàu

Câu 5 ước có sức mạnh để chống lại sức mạnh bất công của thế giới sã hội

15 tháng 3

Cổ tích

  Chính diện

Cây chế trăm đốt


Câu 1 chuyện cổ tích

Câu 2 nhân vật phản diện là lão thuê

Câu 3 Chi tiết kì ảo là người đàn ông chỉ tay vào 100 cây tre nói khắc nhập,khắc nhập thì 100 cây dính liền vào nhau,chi tiết hoang đường kì ảo làm cho câu văn thêm hay hơn.

Câu 4 Nhân vật anh nông dân có những phẩm chất đáng quý: Chăm chỉ, thật thà, hiền lành. Kiên nhẫn, chịu khó làm việc. Chi tiết thể hiện: Anh làm việc vất vả cho phú ông nhiều năm mà không than phiền, vẫn cố gắng đi tìm cây tre trăm đốt theo lời phú ông

Câu 5Qua câu chuyện, tác giả dân gian muốn gửi gắm ước mơ về công bằng trong cuộc sống. Người hiền lành, chăm chỉ sẽ được giúp đỡ và có hạnh phúc. Ngược lại, những kẻ tham lam, gian dối sẽ bị trừng phạt thích đáng. Câu chuyện cũng khuyên con người nên sống thật thà, lương thiện và chăm chỉ lao động. Em thấy đây là một ước mơ đẹp và rất ý nghĩa của người xưa.

Câu 1 câu chuyện thuộc thể loại truyện cổ tích câu 2 nhân vật ông lão giàu câu 3 ông bụt hiện ra câu 4 anh nông dân làm việc quần quật vất vả câu 5 qua câu chuyện em hiểu được cần phải biết chăm chỉ cần cù mới làm nên được

Câu 1

Truyện cổ tích

Câu 2

Nhân vật thuộc tuyến phản diện trong văn bản cây tre trăm đốt và lão già

Câu 3

15 tháng 3

Cây tre trăm đốt

Câu 1. - Thể loại: truyện cổ tích

Câu 2. Ông lão nhà giàu trong tuyến nhân vật phản diện.

Câu 3. *Những chi tiết hoang đường kỳ ảo là:

-Sự xuất hiện của ông bụt tóc trắng, má hồng.

-Câu thần chú: "khắc nhập, khắc nhập" cho cây tre dính vào với nhau để thành 100 đốt.

-Câu thần chú: "khắc xuất, khắc xuất" để cho cây tre rời ra.

*Tác dụng:

-Giúp cho câu văn trở nên cuốn hút người đọc, người nghe hơn.

-Thể hiện sự công lý về cái thiện, cái ác.

Câu 4. Những phẩm chất của anh nông dân là:

-Cần cù, chăm chỉ.

-Thật thà, chất phác.

Câu 5.

-Ước mơ về một công bằng xã hội.



Câu 1: văn bản thuộc thể loại truyện cổ tích 

Câu 2: nhân vật thuộc tuyến phản diện trong văn bản là lão nhà giàu

Câu 3: những chi tiết hoang đường kì ảo trong văn bản : 

- sự xuất hiện của ông lão (bụt ) với đầu tóc bạc phơ da dẻ hồng hào để giúp đỡ anh nông dân khi đang khóc trong tuyệt vọng  

- câu thần chú "khắc nhập ,khắc nhập "có khả năng làm cho 100 đốt tre dính liền lại với nhau thành 1 cây tre hoàn chỉnh

- câu thần chú khắc xuất khắc xuất có khả năng làm cho cây chia tách rời như cũ   

-tác dụng: giúp câu văn trở lên cuốn hút và hấp dẫn người đọc người nghe hơn

-Thể hiện ước mơ Công Lý về xã hội công bằng mà ở đó cái thiện luôn có chiến thắng cái ác

- thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện giúp giải quyết mâu thuẫn chính của truyện 

Câu 4: những phẩm chất đáng quý của nhân vật anh nông dân  

Cần cù chăm chỉ :anh làm việc quần quật cho nhà lão nhà giàu suốt ba năm không quản nắng mưa sương gió      

Thật thà chất phác: Anh tin lời của lão nhà giàu bị lừa hết lần này đến lần khác không hề nghi ngờ. khi được giao nhiệm vụ vào rừng tìm tre trăm đốt Anh cũng vác dao đi ngay

Câu 5:

- ước mơ về một xã hội công bằng lơ những người lao động hiền lành thật thà không phải chịu bất công lừa dối

-Ước mơ có sức mạnh thần kỳ để chống lại cái ác cái bất công trong xã hội

15 tháng 3

câu 1 cây tre 100 đốt thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu 2 nhân vật phản diện trong truyện cây tre trăm đốt là gã nhà giàu

Câu 3 những chi tiết cơ cấu kỳ ảo là xuất hiện một ông lão tóc trắng bạc phơ để giúp đỡ anh nông dân

Câu 4 Cần cù, chăm chỉ: Anh làm việc quần quật cho lão nhà giàu suốt ba năm, "không quản nắng mưa, sương gió".Thật thà, chất phác: Anh tin lời nói của lão nhà giàu, bị lừa hết lần này đến lần khác mà không hề nghi ngờ. Khi được giao nhiệm vụ vào rừng tìm tre trăm đốt, anh cũng vác dao đi

câu 5 em nghĩ mọi người lừa dối lẫn nhau và sống để cho một giới không có những sự lừa dối


Em mong trên thế giới có nhiều người hiền lành sẽ có nhiều sự may mắn để bới đi nhiều khó khăn

Câu 1 : Văn bản thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu 2 nhân vật phản diện trong truyện là lão nhà giàu ông chủ não là người tham lam xảo quyệt đã lừa gạt anh nông dân hiền lành để quỵt công và không thực hiện lời hứa gả con gái

Câu 3 các chi tiết Kỳ ảo sự xuất hiện của bụt khi anh nông dân khóc câu thần chú khắc nhập khắc nhập làm các đốt tre dính liền thành cây tre trăm đốt và khắc suốt khắc suốt làm các đốt tre rời ra

Vai trò giúp cốt truyện thêm hấp dẫn ly kỳ và lôi cuốn người đọc thể hiện sự giúp đỡ của lực lượng siêu nhiên đối với những người hiền lành lương thiện khi họ gặp bế tắc giúp giải quyết mâu thuẫn xung đột trừng trị kẻ ác và mang lại kết thúc có hậu

Phẩm chất cần cù chịu khó thật thà và hiền lành có phần chất phác tin người chi tiết thể hiện cần cù chịu khó anh làm việc quần quật cho não nhà giàu suốt 3 năm trời không quản ngại nắng mưa vất vả để mong được lấy con gái não thật thả tim người khi não nhà giàu hứa gả con gái với điều kiện tìm được cây tre trăm đốt Anh đã tin lời và lập tức vào rừng thì kiếm mà không hề nghi ngờ sự lừa lọc của lão

Câu 5 ước mơ tác giả dân gian muốn gửi gắm ước mơ về công lý xã hội ở hiền gặp lành ác giả ác báo người nghèo khổ hiền lành sẽ được giúp đỡ và hạnh phúc còn kẻ tham lam gian ác sẽ bị trừng phạt

Đoạn văn tham khảo 5 đến 7 dòng

Ước mơ về sự công bằng ở hiền gặp này trong truyện cây tre trăm đốt là một khát vọng nhân văn sâu sắc của nhân dân lao động xưa qua hình ảnh anh nông dân nhận được sự giúp đỡ của bụt để cưới được vợ em cảm nhận được niềm tin mãnh liệt của ông cha ta vào lẽ phải dù cuộc sống có nhiều bất công và khó khăn nhưng nếu chúng ta giữ vững sự lương thiện và lòng kiên trì điều tốt đẹp chắc chắn sẽ đến ước mơ này không chỉ có giá trị trong quá khứ mà còn là bài học giáo dục đạo đức quý giá cho mỗi chúng ta hôm nay về lối sống trung thực và tử tế


Câu 1 cây tre thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu 2 nhân vật phản diện là lão nhà giàu

Câu 3 thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện giúp giải mâu thuẫn chính của truyện

Câu 4 phẩm chất đáng quý của nhân vật là cần cù Chăm chỉ thật thà chất

Cô Lâm trong câu chuyện tác giảmuốn gửi gắm ước mơ trong câu chuyện là một đất nước công bằng những người làm việc tốt hay việc thiện đều đều được đền đáp còn những người làm việc ác thì sẽ phải trả giá cho việc làm của mình

Câu1

Cây tre trăm đốt thuộc thể loại truyện cổ tích.

Câu2:

Nhân vật thuộc tuyến nhân vật phản diện trong văn bản là lão nhà giàu.

Câu3:

Những chi tiết hoang đường kì ảo trong văn bản:

-sự xuất hiện của ông Bụt.

-các câu thần chú làm tre dính liền và có thể tách ra tùy ý.

Tác dụng của nhũng chi tiết đó:

-giúp trở nên cuốn hút và hấp dẫn.

-thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện.

Câu4:

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật anh nông dân:

-cần cù chăm chỉ,làm việc quần quật suốt 3 năm.

-thật thà,chất phát.

Câu5:

Ước mơ về một xã hội coing bằng,nơi nhũng người lao động thật thà không phải chịu bấy công lừa dối.

15 tháng 3

Câu 1: Cây tre trăm đốt thuộc thể loại Truyện Cổ Tích.

Câu 2: Nhân vật thuộc tuyến Phản diện trong truyện là : "Phú Ông"

Câu 3: " Khắc nhập khắc xuất"

Câu 4: Anh nông dân có những phẩm chất đáng quý: " Chăm chỉ, hiền lành, thật thà và kiên trì.

Câu 5: Qua câu chuyện, tác giả dân gian muốn gửi gắm mơ ước công bằng trong dân gian

16 tháng 3

Qua câu chuyện"cây tre trăm đốt", tác giả dân gian gửi gắn ước mơ về công lí xã hội:"ở hiền gặp lành". câu chuyện thể hiện hát vọng của người lao động nghèo, chăm chỉ, thật thà sẽ chiến thắng kẻ tham lam, độc ác, được giúp đỡ để có hạnh phúc bền vững.

C1 thể loại truyện cổ tích

C2 nhân vật phản diện trong cây tre trăm đốt là lão nhà giàu

16 tháng 3

Thể loại cổ tích

Của lão nhà giàu

Anh khóc vì tuyệt vọng



17 tháng 3

Cậu bé đã rất hối han

20 tháng 3

1 là truyện cổ tích đân gian

2 là lão nhà giàu,con gái

3 ôcác chi hoamg. đưưng kì ảo là:ông bụt hiện nên giúp anh Khoai, caau thần chú, và cây tre trăm đốt tự nối liền vào nhau. Vai trò của câu hoang đường kì ảo là phát triền cốt truyện hiên ươc mơ về công lí trồng trị người tham lam đền đáp cho người hiền lành

4 Nhừng phẩm chất đáng quý của người anh nông đân là:

Câu1 cô tích

Câu2 qhan diêt

Câu3 sụ xuân hiên cua ông lão

Câu4 cân cù xiêng năng thât thà

Câu5 ươc mơ về một xã hội mạnh


22 tháng 3

Câu 1 : Truyện cổ tích

Câu 2: Là phú ông

Câu 3: Về phần kết bài

Câu 4: Cở phẩm chất : Tốt bụng , hiền lành , trung thực , thật thà và trung thành

Câu 5 :Tác giả muốn gửi gắm ước mơ công bằng cho nhân dân


Câu 1

Thể loại truyện cổ tích

Câu 2

Chính diện: anh nông dân

Phản diện: lão nhà giàu

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai. Một đêm kia, dưới...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA

Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai.

Một đêm kia, dưới ánh trăng mờ, ông lão bỗng thấy một cô bé đang hái trộm dưa. Ông lão bèn giữ lại hỏi, mới biết cô gái mồ côi cha mẹ sống lưu lạc ở vùng này. Thấy diện mạo cô bé khác với người thường, lại ở vào hoàn cảnh đáng thương, vợ chồng ông lão đem lòng thương mến và đem về làm con nuôi, thương quý như con đẻ của mình. Vợ chồng ông lão không hay biết rằng: chính cô bé mồ côi ấy là Thiên Y A Na hoá thân.

Đến một ngày kia vùng núi Đại An bị nạn hồng thuỷ, nước sông dâng lên một màu đỏ đục. Đứng trước cảnh tượng ấy, Thiên Y A Na bỗng nhớ tới cảnh tiên cung, mặt mày ủ dột, rồi để tự khuây khoả, Thiên Y A Na đi hái hoa quả trên núi, xếp đặt lại, tạo nên một cảnh núi non giả, ngồi ngắm nghía và đùa nghịch để khỏi bận tâm đến cảnh thuỷ tai đang diễn ra quanh mình. Vì thế, Thiên Y A Na bị ông lão quở trách nặng lời. Hối hận vì mình đã làm cho cha mẹ nuôi phiền lòng, Thiên Y A Na đã dùng phép hoá thân, nhập vào khúc gỗ trầm đang trôi ra biển cả, rồi dạt vào bờ biển Bắc. Nhân dân địa phương thấy khúc gỗ quý, xúm nhau lại, định khiêng về, nhưng lạ thay hàng trăm người ghé vai vào đều khiêng không nổi.

Tin đồn đến tai thái tử miền nọ. Thái tử ra tận bờ biển nhấc thử, thì khúc gỗ được nhấc lên một cách nhẹ nhàng. Cho là điềm lạ, thái tử đem khúc gỗ về cung cất giữ coi như một vật quý hiếm. Một đêm nằm trằn trọc mãi không sao ngủ được, thái tử định sang thư phòng xem sách, khi đi ngang qua vườn thượng uyển, bỗng thấy một cô gái trẻ, đẹp đang dạo chơi ở đó. Nghe tiếng động, cô gái vội vàng chạy về phía hoàng cung rồi biến mất. Nhưng vào một đêm khác, cô gái xuất hiện. Thái tử có ý bí mật theo dõi, dò xét để biết thực hư. Một cuộc giáp mặt diễn ra quá bất ngờ, cô gái không kịp hoá phép ẩn mình vào khúc gỗ, đành phải kể lại lai lịch của mình cho thái tử nghe. Thái tử đem lòng thương yêu cô gái. Tin này liền đến tai vua cha. Nhà vua cho mời thầy đoán quẻ. Thấy có điềm lành, vua liền cho kết duyên vợ chồng.

Sau mấy năm trời chung sống hạnh phúc nơi đất Bắc, Thiên Y A Na vẫn nhớ về vườn dưa, nơi cha mẹ nuôi sống lam lũ, hiu quạnh. Nỗi thương nhớ thôi thúc Thiên Y A Na trốn thái tử, bỏ hoàng cung, cùng hai con biến vào khúc gỗ trầm, theo dòng nước biển trôi về quê hương người Chăm-pa ở cửa biển Cù Huân.

Nhưng khi trở về Đại An, bà mới biết rằng cha mẹ nuôi đã qua đời từ lâu. Thiên Y A Na bèn lập miếu thờ hai ông bà trên núi Đại An. Trong thời gian ngắn ngủi lưu lại ở Đại An, bà đã tạo lập vườn tược nơi đất cũ, bày dân làng cách làm ruộng, cách chữa bệnh và nuôi dạy con cái.

Thái tử bên Bắc, từ khi xa cách vợ con, lòng nhớ thương sầu muộn khôn nguôi, quên ăn, quên ngủ. Thái tử bèn xin cha mẹ cấp cho một đội chiến thuyền, hướng về Nam, giong buồm chạy suốt ngày đêm để tìm tung tích mẹ con Thiên Y A Na. Khi thuyền tới biển Cù Huân, thái tử cho người lên núi hỏi thăm dân chúng về Thiên Y A Na. Nhưng từ lâu lắm, dân chúng đã không thấy tăm tích của Bà đâu nữa.

Nhân dân địa phương nhớ ơn công đức của Thiên Y A Na, tôn xưng là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”. Họ bỏ bao công sức và tâm huyết xây một ngôi tháp thật đẹp và uy nghi trên ngọn núi thiêng, nơi tiếp giáp với cửa sông, gọi là Tháp Bà. Ngôi tháp ấy là để thờ Bà, nhưng cũng để thờ Thái tử, chồng bà (tức thờ Ông), thờ vợ chồng ông lão tiều phu (cha mẹ nuôi), cùng hai con của Bà. Trải qua mưa nắng thời gian, ngôi tháp đó vẫn tồn tại bền vững uy nghi cho đến tận ngày nay.

(Theo Trần Việt Kỉnh, Văn hoá dân gian Khánh Hoà, NXB Văn hoá dân tộc, 2012)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản trên.

Câu 2. (0.5 điểm) Vì sao nhân dân tôn xưng là Thiên Y A Na là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”?

Câu 3. (1.0 điểm) Tìm 02 từ láy có trong văn bản trên và giải thích nghĩa của 02 từ láy đó.

Câu 4. (1.0 điểm) Chỉ ra 01 yếu tố kì ảo trong văn bản trên và nêu tác dụng.

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

3

Câu 1 ngôi kể thứ ba. câu 2 vì họ nhớ đến ơn Đức của bà đã tạo Lập vườn tược nơi đất cũ ,bày dân làng cách chữa bệnh làm ruộng và nuôi dạy con cái. Câu 3 từ láy là nhẹ nhàng giải thích nghĩa là có tính chất nhẹ không gây cảm giác gì ,từ láy là lam lũ có nghĩa vất vả khổ cực trong cảnh thiếu thốn. Câu 5 con người cần biết hiếu thảo kính trọng biết ơn cha mẹ kể cả cha mẹ nuôi phải luôn gắn bó với cội nguồn nhớ về quê hương không quên nơi đã sinh ra nuôi dưỡng mình biết yêu thương giúp đỡ nhân dân đêm kiến thức kinh nghiệm để làm lợi cho cộng đồng.

19 tháng 2

câu 1

câu chuyện được viết theo ngôi kể số 3

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau: NGHE THẦY ĐỌC THƠ     Em nghe thầy đọc bao ngàyTiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà      Mái chèo nghiêng mặt sông xaBâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa      Nghe trăng thở động tàu dừaRào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời     Đêm nay thầy ở đâu rồiNhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe… (Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

NGHE THẦY ĐỌC THƠ

     Em nghe thầy đọc bao ngày

Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà

      Mái chèo nghiêng mặt sông xa

Bâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa

      Nghe trăng thở động tàu dừa

Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời

     Đêm nay thầy ở đâu rồi

Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe…

(Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hoá dân tộc, 1999)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Chỉ ra các tiếng hiệp vần với nhau trong hai dòng thơ sau:

     Đêm nay thầy ở đâu rồi

Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe…

Câu 3. (1.0 điểm) Biện pháp tu từ nhân hoá trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" đem lại tác dụng gì?

Câu 4. (1.0 điểm) Hình ảnh quê hương hiện lên như thế nào khi thầy đọc thơ?

Câu 5. (1.0 điểm) Em thích hình ảnh nào nhất trong bài thơ? Vì sao?

13
24 tháng 12 2025

Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"

Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:

- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.

- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.

- Gợi lên tình cảm thầy trò.

Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.

Câu 1: Thể thơ Lục Bát

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:    Lặng rồi cả tiếng con veCon ve cũng mệt vì hè nắng oi.    Nhà em vẫn tiếng ạ ờiKẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.   Lời ru có gió mùa thuBàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.    Những ngôi sao thức ngoài kiaChẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.     Đêm nay con ngủ giấc trònMẹ là ngọn gió của con suốt đời. (Mẹ, Trần...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

    Lặng rồi cả tiếng con ve

Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.

    Nhà em vẫn tiếng ạ ời

Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.

   Lời ru có gió mùa thu

Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.

    Những ngôi sao thức ngoài kia

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

     Đêm nay con ngủ giấc tròn

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

(Mẹ, Trần Quốc Minh)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. (0.5 điểm) Bên cạnh tiếng ve, những âm thanh nào xuất hiện trong văn bản trên?

Câu 3. (1.0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai dòng thơ sau:

    Những ngôi sao thức ngoài kia

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

Câu 4. (1.0 điểm) Nêu nhận xét của em về hình ảnh người mẹ trong văn bản trên.

Câu 5. (1.0 điểm) Theo em, lời ru của mẹ có vai trò như thế nào trong cuộc sống của mỗi chúng ta?

11
17 tháng 12 2025

Íhdhdhfgfhfhfj

16 tháng 2

CÂU1:Thơ lục bát

CÂU2:BÊN CẠNH TIẾNG VE , NHỮNG ÂM THANH SAU XUẤT HIỆN TRONG VĂN BẢN: TIẾNG VÕNG, TIẾNG MẸ RU..

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:CON VẸT NGHÈO Hằng năm, mỗi khi mùa xuân về, các giống chim và thú vật lại rủ nhau tới rừng mở hội. Nào Voi, Gấu, Hổ, Lợn Lòi… trổ tài thi khoẻ. Nào Khỉ, Vượn, Sóc… đua nhau leo trèo. Còn các giống chim khác thì thi giọng hát. Trong bầy chim muôn hình ngàn vẻ kia, có chú Vẹt áo đen. Chú ta cũng khấp khởi đi thi. Gặp ai, nó cũng khoe mình có...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

CON VẸT NGHÈO

Hằng năm, mỗi khi mùa xuân về, các giống chim và thú vật lại rủ nhau tới rừng mở hội. Nào Voi, Gấu, Hổ, Lợn Lòi… trổ tài thi khoẻ. Nào Khỉ, Vượn, Sóc… đua nhau leo trèo. Còn các giống chim khác thì thi giọng hát.

Trong bầy chim muôn hình ngàn vẻ kia, có chú Vẹt áo đen. Chú ta cũng khấp khởi đi thi. Gặp ai, nó cũng khoe mình có rất nhiều giọng hót. Nhìn thấy Vượn, nó hú tiếng Vượn. Nhác thấy Ếch bì bộp nhảy ra, nó cũng hé mỏ “ộp ộp” luôn. Trên đường đi, gặp Hoạ Mi đang cố luyện giọng, Vẹt tỏ vẻ thương hại. Nó nghĩ: “Việc gì mà phải hót lên hót xuống mãi thế?”. Gặp Sáo líu lo khúc hát đồng quê, Vẹt không thèm lắng nghe. Cậy mình biết hót nhiều giọng còn tuyệt vời hơn thế, nên nó huênh hoang lắm. Gặp ai, nó cũng khoe trước:

– Kì thi này, tôi chiếm giải nhất cho mà xem!

Vào cuộc thi, tất cả đều rất vui và cũng rất lo. Sẽ có và đang có ở đây biết bao nhiêu tài năng, chưa thể rõ ai xuất sắc nhất. Bởi thế, loài chim nào cũng yên lặng đợi chờ. Chỉ có Vẹt là cứ lăng xăng, chạy chỗ nọ chỗ kia, làm như mình sắp đoạt giải đến nơi.

Đã tới giờ thi tài. Giám khảo Chim Khuyên và Ếch mời các bạn trong rừng hãy hăng hái ghi tên biểu diễn. Trong lúc chờ đợi xem ai ra trước, Vẹt nhấp nhổm nhưng chưa dám xung phong. Bỗng nghe “quạc quạc”, Vẹt quay lại. A, Vịt à? Vịt ra trước à? Thấy vậy, Vẹt ta liền nhảy vào hót lên một chuỗi âm thanh líu ríu. Chim Khuyên nhấc bút định chấm cho Vẹt tám điểm, thì Liếu Điếu kêu:

– Đấy là tiếng hót của tôi!

Ban giám khảo bảo Vẹt hót lại. Vẹt liền đập cánh, vươn cổ gáy một hơi dài. Gà Trống lên tiếng:

– Đấy là tiếng hót của tôi!

Vẹt tức mình, huýt một hồi lanh lảnh. Chích Choè đứng bên cạnh nhận ngay đấy là giọng hót của Chích Choè.

Giám khảo Ếch liền bảo Vẹt hãy hót lên tiếng hót của chính mình. Vẹt nhướn cổ, hú rõ to. Ngay lúc đó, Vượn nhào tới túm lấy Vẹt:

– Sao lại hú tiếng của tớ?

Vẹt hoảng hốt bay lên. Nó không làm sao nghĩ ra cho được tiếng hót của mình nữa. Nó ngượng nghịu nhìn các bạn. Từ xưa đến nay, Vẹt chỉ biết bắt chước, hót theo tiếng hót của người khác mà thôi. Nó hót đấy mà nó không hiểu gì cả. Tới lúc này, nó mới biết là nó rất nghèo. Nó không có tiếng hót riêng…

(Theo Phong Thu, NXB Kim Đồng, 2018, tr.149 – 151)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5.

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi kể nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Chỉ ra 02 từ láy trong câu chuyện trên.

Câu 3. (1.0 điểm) Giải thích vì sao câu chuyện trên thuộc thể loại truyện đồng thoại.

Câu 4. (1.0 điểm) Em có đồng tình với hành động bắt chước của Vẹt không? Vì sao?

Câu 5. (1.0 điểm) Từ câu chuyện trên, em rút ra bài học gì cho bản thân?

23
14 tháng 12 2025
Câu 1. Ngôi kể Ngôi thứ ba. Câu 2. Hai từ láy: bắt chướclăng xăng. Câu 3. Đây là truyện đồng thoại vì nhân vật là loài vật (Vẹt) được nhân cách hóa và truyện mang ý nghĩa giáo dục. Câu 4. Em không đồng tình. Vẹt bắt chước mù quáng mà không hiểu gì, thiếu bản sắc riêng. Câu 5. Bài học rút ra: Cần sống độc lậptự tin và phát huy năng khiếu riêng của bản thân.


17 tháng 12 2025

1,kể theo ngôi thứ ba


I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM) Tôi là đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo. Mùa xuân đến, từ trên cánh tay và mái tóc của mẹ, từng nụ hoa dẻ nhú ra như quả cầu xanh có tua gai nhỏ. Rồi hoa lớn dần thành những trái dẻ xù xì gai góc. Anh chị em chúng tôi ra đời như thế đó. Chúng tôi lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông. Những cơn mưa ào đến...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Tôi là đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo.

Mùa xuân đến, từ trên cánh tay và mái tóc của mẹ, từng nụ hoa dẻ nhú ra như quả cầu xanh có tua gai nhỏ. Rồi hoa lớn dần thành những trái dẻ xù xì gai góc. Anh chị em chúng tôi ra đời như thế đó.

Chúng tôi lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông. Những cơn mưa ào đến gội ướt đẫm tóc mẹ và tắm mát cho chúng tôi. Nắng làm bỏng rát cả làn da và mái tóc của mẹ.

Khi thu về, trái dẻ khô đi, lớp áo gai đã chuyển sang màu vàng cháy. Hạt dẻ căng tròn làm nứt bung cả tấm áo gai xù đã quá chật chội. Tôi vẫn nằm im trong lớp áo gai xù, nép vào một cánh tay của mẹ. Tôi chẳng muốn chui khỏi tấm áo ấm áp, an toàn đó chút nào.

Nhưng rồi những ngày thu êm ả cũng trôi qua. Gió lạnh buốt bắt đầu thổi ù ù qua khu rừng. Gió vặn vẹo những cánh tay dẻo dai của mẹ. Gió lay giật tấm thân vững chãi của mẹ. Nhưng mẹ vẫn bền gan đứng trên sườn núi cheo leo.

Khi mùa đông đến, tôi cứ thu mình mãi trong tấm áo gai xù ấm áp của họ nhà dẻ gai và nép mãi vào tay mẹ, tóc mẹ. Tôi sợ phải xa mẹ, sợ phải tự sống một mình. Tôi sợ những gì lạ lẫm trong rừng già. Nhưng tôi nghe tiếng mẹ thì thầm:

– Bé Út của mẹ, con nhỏ nhất nhà so với các anh chị nhưng con cũng đã lớn rồi đấy. Con là một bé dẻ gai rất khoẻ mạnh. Hãy dũng cảm lên nào, con sẽ bay theo gió và sẽ trở thành một cây dẻ cường tráng trong cánh rừng này nhé!

Tôi cố quẫy mình… Tấm áo gai dày và ấm bất chợt bung ra. Và tôi nhìn rõ cả cánh rừng già, cả sườn núi cao, cả bầu trời mây gió lồng lộng ào ạt trôi trên đầu mẹ. Hoá ra tôi là trái dẻ cuối cùng đang nép trên cánh tay vươn cao nhất của mẹ. Mẹ đưa tay theo chiều gió và thì thầm với riêng tôi: “Tạm biệt con yêu quý, hạt dẻ bé bỏng nhất của mẹ. Dù thế nào con cũng sẽ lớn lên, hãy dũng cảm và đón nhận cuộc sống mới nhé!”.

Tôi bỗng thấy mình bay nhẹ theo làn gió, tung mình vào khoảng không bao la rồi rơi êm xuống thảm lá ấm sực của rừng già… “Tạm biệt mẹ! Con yêu mẹ!” – tôi gọi với theo gió trước khi chìm vào giấc ngủ đông ấm áp. Và tôi mơ…

(Theo Phương Thanh Trang, trích Câu chuyện của hạt dẻ gai, tạp chí Văn học và tuổi trẻ, số 12 (465), 2020)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. (0.5 điểm) Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong hoàn cảnh như thế nào?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra 02 từ láy có trong văn bản trên và giải thích nghĩa của các từ vừa tìm được.

Câu 4. (1.0 điểm) Nhân vật “tôi” thể hiện những đặc điểm gì của nhân vật trong truyện đồng thoại?

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ văn bản trên?

15
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.

Câu 2.

Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông (điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt).

Câu 3.

Hai từ láy trong văn bản:

  • xù xì: chỉ bề mặt thô ráp, không nhẵn.
  • chật chội: chật, gây cảm giác bức bối, khó chịu.

Câu 4.

Nhân vật “tôi” (hạt dẻ gai) mang đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại:

  • Vừa mang đặc điểm của loài vật/thực vật (có vỏ xù xì, gai góc).
  • Vừa mang đặc điểm của con người: biết suy nghĩ, cảm xúc, lo sợ, được mẹ an ủi (nhân hoá).

Câu 5.

Bài học rút ra:

Muốn trưởng thành, mỗi người cần dũng cảm rời vòng tay che chở, tin vào bản thân và sẵn sàng đối diện với thử thách trong cuộc sống.


18 tháng 12 2025

Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại

Câu 2: Theo văn bản ,những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa ,mưa dông

Câu 3: Hai từ láy là :"xù xì", "chật chội"

-Nghĩa của từ "chật chội": chật, gây nên cảm giác bức bối khó chịu

- Nghĩa của từ "xù xì": bù xù, gây nên cảm giác khó chịu

Câu 4: Nhân vật tôi ( dẻ gai) là mội loài thực vật , vừa mang đặc điểm của lòa vật vừa mang đặc điểm của con người  (được nhân các hóa)

Câu 5: Qua bài đọc em rút ra được bài học là : Muốn trưởng thành, ta phải dũng cảm bước ra khỏi vòng tay che  chở, tin vào bản thân, sẵn sàng đối diện với thử thách

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi.SỰ TÍCH CÂY NGÔ     Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi.

SỰ TÍCH CÂY NGÔ

     Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng Aưm đã trở thành chỗ dựa của mẹ. Hằng ngày, cậu dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ. Nhưng trời ngày càng hạn hán hơn. Có những lần cậu đi cả ngày mà vẫn không tìm được thứ gì để ăn. Một hôm, vừa đói vừa mệt cậu thiếp đi bên bờ suối. Trong mơ, cậu nhìn thấy một con chim cắp quả gì to bằng bắp tay, phía trên có chùm râu vàng như mái tóc của cậu. Con chim đặt quả lạ vào tay Aưm rồi vỗ cánh bay đi. Tỉnh dậy Aưm thấy quả lạ vẫn ở trên tay. Ngạc nhiên, Aưm lần bóc các lớp vỏ thì thấy phía trong hiện ra những hạt màu vàng nhạt, xếp thành hàng đều tăm tắp. Aưm tỉa một hạt bỏ vào miệng nhai thử thì thấy có vị ngọt, bùi. Mừng quá, Aưm cầm quả lạ chạy một mạch về nhà.

     Mẹ của cậu vẫn nằm thiêm thiếp trên giường. Thương mẹ mấy ngày nay đã đói lả, Aưm vội tỉa những hạt lạ đó mang giã và nấu lên mời mẹ ăn. Người mẹ dần dần tỉnh lại, âu yếm nhìn đứa con hiếu thảo. Còn lại ít hạt, Aưm đem gieo vào mảnh đất trước sân nhà. Hằng ngày, cậu ra sức chăm bón cho cây lạ. Nhiều hôm phải đi cả ngày mới tìm được nước uống nhưng Aưm vẫn dành một gáo nước để tưới cho cây. Được chăm sóc tốt nên cây lớn rất nhanh, vươn những lá dài xanh mướt. Chẳng bao lâu, cây đã trổ hoa, kết quả.

     Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ. Aưm hái những quả lạ có râu vàng hoe như mái tóc của cậu biếu bà con để làm hạt giống. Quý tấm lòng thơm thảo của Aưm, dân bản lấy tên cậu bé đặt tên cho cây có quả lạ đó là cây Aưm, hay còn gọi là cây ngô. Nhờ có cây ngô mà từ đó, những người dân Pako không còn lo thiếu đói nữa.

(Theo truyencotich.vn)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. (0.5 điểm) Aưm có hoàn cảnh như thế nào?

Câu 3. (1.0 điểm) Tìm 01 từ láy có trong câu chuyện và đặt 01 câu với từ láy đó.

Câu 4. (1.0 điểm) Chi tiết "Hằng ngày, Aưm dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ." đã chứng minh Aưm là người thế nào?

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

22

Câu 1:
Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ ba

Câu 2:
Aưm sống trong hoàn cảnh nghèo khó, mồ côi cha, mẹ thì đau ốm liên miên, bản làng lại bị hạn hán, đói khát

Câu 3:

- từ láy: thiêm thiếp

- đặt câu: Bé ngủ thiêm thiếp trong vòng tay mẹ.

Câu 4: chi tiết đó chứng minh Aưm là một cậu bé hiếu thảo, chăm chỉ, yêu thương và hết lòng lo lắng cho mẹ

Câu 5:
Bài học em rút ra từ câu chuyện:cần biết yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ, sống biết sẻ chia, giúp đỡ người khác, đồng thời phải chăm chỉ, kiên trì và biết vượt qua khó khăn trong cuộc sống

25 tháng 9 2025

hay quá

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc bài thơ sau:        TÓC CỦA MẸ TÔI     Mẹ tôi hong tóc buổi chiềuQuay quay bụi nước bay theo gió đồng     Tóc dài mẹ xoã sau lưngBao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.     Tóc sâu của mẹ tôi tìmNgón tay lần giữ ấm mềm yêu thương     Bao nhiêu sợi bạc màu sươngBấy nhiêu lần mẹ lo buồn vì tôi.    Con ngoan rồi đấy mẹ ơiƯớc gì tóc mẹ bạc...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc bài thơ sau:

        TÓC CỦA MẸ TÔI

     Mẹ tôi hong tóc buổi chiều
Quay quay bụi nước bay theo gió đồng
     Tóc dài mẹ xoã sau lưng
Bao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.

     Tóc sâu của mẹ tôi tìm
Ngón tay lần giữ ấm mềm yêu thương
     Bao nhiêu sợi bạc màu sương
Bấy nhiêu lần mẹ lo buồn vì tôi.

    Con ngoan rồi đấy mẹ ơi
Ước gì tóc mẹ bạc rồi lại xanh.

  (Phan Thị Thanh Nhàn, Con muốn mặc áo đỏ đi chơi, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Bài thơ trên là lời của ai viết cho ai?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó:

Tóc dài mẹ xoã sau lưng
Bao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.

Câu 4. (1.0 điểm) Em hiểu như thế nào về hai dòng thơ sau?

         Con ngoan rồi đấy mẹ ơi
  Ước gì tóc mẹ bạc rồi lại xanh.

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ bài thơ trên?

4
29 tháng 10 2025

ky thuat ki m tra chc nang

25 tháng 12 2025

−ω−

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:HƯƠNG HOA HOÀNG LAN Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

HƯƠNG HOA HOÀNG LAN

Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn cây hoàng lan, nó như một cậu anh cả trong vườn, to lớn, vững chắc…

– Bà ơi, cây hoàng lan này có lâu chưa bà?

Bà cười, tay bà vẫn cẩn thận gài những nhành cây nhót phủ đầy hoa trắng ngà vào hàng rào:

– Nó có từ lâu lắm, hồi bằng các cháu, bà đã thấy nó to và cao như thế này rồi. Bao năm trôi qua, cứ tưởng nó sẽ già đi, nhưng không, mỗi mùa xuân tới nó lại trẻ trung như hồi nào.

– Bà ơi, thế bà có biết ai trồng nó không hả bà? Bà lắc đầu:

– Hồi trước, bà cũng hỏi như cháu ấy, nhưng chẳng ai biết.

Hà đến bên cây hoàng lan, thân nó mốc thếch và nứt nẻ. Những chú kiến đen hối hả leo cây. Từ trên cành cây cao, đôi chim sâu chuyền cành tíu tít.

– Cháu biết không, cứ mỗi dịp cây hoàng lan ra hoa thì cả vùng này thơm nức…

– Bà ơi, bên kia sông có ngửi thấy hương của cây hoàng lan này không? – Hà tò mò hỏi.

– Có chứ! Hương hoa lan còn bay xa hơn nữa cháu ạ.

– Xa nữa cơ ạ? Con sông rộng thế mà gió cũng đưa nó qua sông được bà nhỉ…

Bà dừng tay, đôi mắt nhìn xa xôi:

– Hồi ông đi bộ đội, thư nào về ông cũng hỏi cây hoàng lan. Ông nhớ nó lắm. Rồi ông bảo bà gửi cho ông mấy cánh hoa vàng của cây hoàng lan này.

– Bà có gửi cho ông không? – Hà chăm chú. Bà gật đầu rồi dắt Hà vào nhà. Bà lần mở cái rương mây nhỏ trên đầu giường và lấy ra mấy cánh hoa đã héo quắt queo và đen sẫm lại.

– Những cánh hoa này đấy cháu ạ. Các chiến sĩ trong đơn vị đã tìm thấy nó ở dưới đáy ba lô của ông… Hà run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà. Cô bé ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ. Hà thấy bà cũng nhìn theo… Bây giờ thì cô bé đã hiểu vì sao bà yêu quý cây hoàng lan và mảnh vườn này đến thế. Những cánh hoa hoàng lan đã đen sậm trên tay Hà như vẫn còn phảng phất hương thơm.

(Hương hoa hoàng lan, Nguyễn Phan Khuê, NXB Kim Đồng)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. (0.5 điểm) Theo câu chuyện trên, ai là người trồng cây hoàng lan?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nhân hoá được sử dụng trong câu sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó:

     Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà.

Câu 4. (1.0 điểm) Theo em, vì sao Hà “run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà” và “ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ”?

Câu 5. (1.0 điểm) Từ câu chuyện về cây hoàng lan, em hãy viết một đoạn văn khoảng 3 –5 câu trình bày suy nghĩ của em về vai trò của gia đình đối với cuộc sống của mỗi người.

69
27 tháng 10 2025

gia đình là chụ cột tinh thần của chúng ta và cũng là nơi sưởi ấm trái tim ta

5 tháng 11 2025

manager là gì


21 tháng 9 2025

Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống


Dàn ý:

  1. Mở bài:
    • Giới thiệu khái quát về thói quen bắt chước. Bắt chước có thể là một phần tự nhiên của quá trình học hỏi, nhưng bắt chước mù quáng lại là một thói quen tiêu cực.
    • Nêu vấn đề chính: Thói bắt chước mù quáng mang lại nhiều tác hại nghiêm trọng cho con người.
  2. Thân bài:
    • Làm mất đi bản sắc và cá tính: Khi bắt chước, con người không còn là chính mình. Họ sống theo khuôn mẫu của người khác, dần dần đánh mất những nét riêng, sở thích và giá trị cá nhân. Đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin và hèn nhát trong việc thể hiện bản thân.
    • Gây ra sự thất bại: Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Bắt chước cách làm của người khác mà không có sự cân nhắc, sáng tạo sẽ rất dễ dẫn đến thất bại. Chẳng hạn, một người khởi nghiệp bắt chước mô hình kinh doanh của một công ty lớn mà không xem xét thị trường, vốn và năng lực của mình sẽ khó thành công.
    • Gây cản trở sự phát triển: Khi chỉ biết bắt chước, con người sẽ không còn động lực để tư duy, sáng tạo và tìm tòi cái mới. Xã hội sẽ dậm chân tại chỗ nếu ai cũng đi theo lối mòn cũ.
    • Mất đi sự tôn trọng của người khác: Một người chỉ biết bắt chước thường không được đánh giá cao, vì họ không có ý kiến độc lập và không thể tự đưa ra quyết định.
  3. Kết bài:
    • Khẳng định lại vấn đề: Thói bắt chước mù quáng là một rào cản lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội.
    • Nêu giải pháp: Mỗi người cần học cách sống là chính mình, biết lắng nghe, học hỏi nhưng phải có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên dấu ấn riêng.


Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em


Dàn ý:

  1. Mở bài:
    • Giới thiệu về trải nghiệm đó. Nêu cảm nhận ban đầu của bạn về nó. Ví dụ: "Trong cuộc đời mỗi người, có những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc..." hoặc "Đó là một buổi chiều mưa, nhưng lại là lúc tôi nhận ra giá trị của lòng nhân ái..."
  2. Thân bài:
    • Bối cảnh: Kể lại bối cảnh xảy ra câu chuyện: thời gian, địa điểm, những nhân vật liên quan.
    • Diễn biến:
      • Tường thuật lại toàn bộ câu chuyện theo trình tự thời gian.
      • Tập trung vào những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng mạnh. Dùng các từ ngữ miêu tả sinh động để người đọc cảm nhận được cảm xúc của bạn khi đó (vui, buồn, thất vọng, bất ngờ...).
      • Điểm mấu chốt: Sự kiện nào đã làm thay đổi suy nghĩ, cảm xúc của bạn?
    • Ý nghĩa: Phân tích sâu sắc ý nghĩa của trải nghiệm đó.
      • Bạn đã học được điều gì từ câu chuyện? (ví dụ: sự kiên trì, lòng biết ơn, tình yêu thương, sự tha thứ...)
      • Trải nghiệm đó đã thay đổi bạn như thế nào? (ví dụ: giúp bạn tự tin hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn, thay đổi cách nhìn về một vấn đề nào đó...).
  3. Kết bài:
    • Tổng kết lại giá trị của trải nghiệm.
    • Khẳng định lại rằng trải nghiệm đó sẽ mãi là một bài học quý giá, một kỷ niệm không thể quên.
25 tháng 12 2025

Bài làm

Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau

Trong kho tàng truyền thuyết phong phú của Việt Nam, câu chuyện về Sự Tích Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm luôn chiếm một vị trí đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa lịch sử mà còn vì vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của nó. Truyền thuyết này gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV

Truyền thuyết kể rằng, khi đất nước đang chìm trong ách đô hộ của giặc Minh, lòng người căm phẫn và khao khát độc lập. Thấu hiểu ý trời và lòng dân, Đức Long Quân đã quyết định trao cho Lê Lợi một bảo vật thiêng liêng để giúp ông hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc: đó là Thanh Gươm Thần. Thanh gươm không được trao trực tiếp. Lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy dưới đáy sông, còn chuôi gươm nạm ngọc lại được tìm thấy trên ngọn cây, tỏa ánh sáng rực rỡ, tất cả đều do người của Lê Lợi tình cờ nhặt được

khi lưỡi và chuôi hợp lại, thanh gươm trở nên hoàn chỉnh, mang sức mạnh phi thường. Nhờ có Thanh Gươm Thần, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, liên tiếp giành thắng lợi vang dội, cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước. Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên nhà Hậu Lê, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị

Saukhi đất nước yên bình, tong một lần nhà vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) dạo chơi trên chiếc thuyền rồng ở hồ Tả Vọng (tên cũ của Hồ Gươm), một Con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước. Rùa Thần tiến đến gần thuyền vua, cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hoàn trả lại gươm cho Long Quân!” Nhà vua hiểu ra rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành. Vua bèn rút gươm trao cho Rùa Vàng.Rùa Thần đón lấy gươm, ngậm vào miệng rồi lặn xuống đáy hồ. Kể từ đó, hồTả Vọng được đổi tên thành Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm) minh chứng cho lòng nhân ái, hòa bình của dân tộc và sự đồng lòng giữa Trời – Đất – Người trong công cuộc cứu nước

Truyền thuyết này không chỉ là một câu chuyện thần kỳ mà còn thể hiện tinh thần thượng võ và yêu chuộng hòa bình của người Việt, nhắc nhở các thế hệ về công lao của cha ông và ý nghĩa thiêng liêng của độc lập, tự do

26 tháng 9 2025

Trong số các truyền thuyết cổ xưa của dân tộc Việt Nam, câu chuyện về Sơn Tinh và Thủy Tinh không chỉ là một huyền thoại giải thích hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người Việt trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai.

Truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Hùng thứ 18, có một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Vua Hùng muốn kén cho con gái một người chồng xứng đáng nên đã mở hội thi tuyển rể. Từ khắp nơi, nhiều chàng trai tài giỏi tìm đến, nhưng nổi bật nhất là hai vị thần: Sơn Tinh và Thủy Tinh.

Sơn Tinh là một chàng trai khôi ngô, có tài lạ: chỉ cần vẫy tay, núi đồi trùng điệp sẽ mọc lên, cây cối xanh tươi. Thủy Tinh cũng không kém cạnh, chàng có khả năng hô mưa gọi gió, làm cho biển cả và sông ngòi cuộn trào. Cả hai đều tài giỏi ngang sức ngang tài, khiến Vua Hùng khó lòng lựa chọn.

Cuối cùng, Vua Hùng đặt ra điều kiện thách cưới: "Sáng sớm hôm sau, ai mang đến sính lễ gồm một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao đến trước, người đó sẽ được cưới Mị Nương."

Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng, Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến trước. Vua Hùng giữ lời hứa, gả Mị Nương cho Sơn Tinh. Thần Núi rước vợ về núi Tản Viên.

Khi Thủy Tinh đến nơi, thấy Mị Nương đã theo chồng, chàng vô cùng giận dữ. Cảm thấy bị sỉ nhục, Thủy Tinh đã nổi cơn lôi đình, dốc toàn lực để báo thù. Thần Nước hô mưa, gọi gió, làm nước biển dâng cao, dìm chìm đồng bằng, muốn nhấn chìm núi Tản Viên để cướp lại Mị Nương.

Trước sức mạnh kinh hoàng của nước, Sơn Tinh không hề nao núng. Thần Núi dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên bao nhiêu, Sơn Tinh đắp đất, nâng núi cao lên bấy nhiêu. Cuộc chiến kéo dài ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng, sức Thủy Tinh kiệt dần, đành phải rút lui.

Tuy nhiên, mối thù này không bao giờ dứt. Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh để đòi Mị Nương, gây ra cảnh lũ lụt khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và năm nào cũng vậy, Sơn Tinh vẫn chiến thắng, giữ vững bờ cõi và bảo vệ cuộc sống của người dân.