Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, không có câu chuyện nào lại gắn bó sâu sắc với Thủ đô Hà Nội và tinh thần yêu nước hơn Truyền thuyết Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm). Truyền thuyết này không chỉ giải thích nguồn gốc của một di tích lịch sử mà còn tôn vinh chiến thắng vĩ đại và phẩm chất cao đẹp của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi.
Câu chuyện bắt đầu vào thời kỳ đất nước chìm trong ách đô hộ của giặc Minh. Khi đó, thủ lĩnh Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đang gặp vô vàn khó khăn, thiếu vũ khí và lương thực. Long Quân (Vua Rồng), cảm thương trước cảnh lầm than và thấy được ý chí quật cường của Lê Lợi, đã quyết định trao tặng một thanh gươm thần để giúp ông đánh đuổi quân xâm lược.
Thanh gươm thần này không được trao trực tiếp. Thay vào đó, một lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy trong lưới của ngư dân Lê Thận. Sau đó, một chuôi gươm nạm ngọc lại được chính Lê Lợi tìm thấy dưới gốc cây đa. Khi tra vào, lưỡi gươm và chuôi gươm khớp nhau một cách kỳ diệu, tạo thành thanh gươm báu mang tên ''Thuận Thiên''. Từ khi có gươm thần, nghĩa quân Lam Sơn như được tiếp thêm sức mạnh, liên tục giành thắng lợi và cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.
Sau khi đất nước thái bình, Lê Lợi lên ngôi vua (Lê Thái Tổ). Một hôm, nhà vua đang đi thuyền dạo chơi trên chiếc hồ lớn ở kinh thành. Bỗng nhiên, một con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước, tiến về phía thuyền Rồng. Rùa Vàng cất tiếng nói rõ ràng: "Xin bệ hạ hoàn trả gươm thần cho Long Quân!".
Nhà vua hiểu rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành, chiến tranh đã kết thúc, và lòng nhân ái mới là thứ cần thiết để xây dựng đất nước. Vua Lê Lợi liền rút gươm trao trả cho Rùa Vàng. Rùa Vàng ngậm thanh gươm báu rồi lặn xuống đáy hồ và biến mất. Kể từ đó, chiếc hồ được đặt tên là Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm), còn được gọi là Hồ Gươm.
Truyền thuyết Hồ Gươm là một câu chuyện đẹp không chỉ về lòng dũng cảm chiến đấu mà còn về tinh thần hòa bình. Nó khẳng định rằng, vũ khí thần thánh chỉ cần thiết khi đất nước bị xâm lăng. Khi độc lập đã được thiết lập, thanh gươm phải được trao trả, biểu tượng cho việc dân tộc ta gác lại chiến tranh, tập trung vào xây dựng cuộc sống thái bình. Hồ Gươm và tháp Rùa vẫn đứng đó giữa lòng Hà Nội, như một lời nhắc nhở vĩnh cửu về truyền thống yêu nước, giữ gìn hòa bình và sự kết nối thiêng liêng giữa con người với đất trời.
Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện đặc sắc. Truyện dân gian đã làm giàu trí tưởng tượng của chúng ta và là kho báu tình thần vô giá mà cha ông ta để lại. Trong đó , có những câu chuyện truyện truyền vừa mang những chi tiết kì ảo, hoang đường vừ gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Một trong số đó, em ấn tượng nhất với câu chuyện Thánh Gióng. Thuở xưa, vào đời Hùng Vương thứ VI, ở làng Gióng có hai vợ chồng già nổi tiếng là chăm chỉ làm ăn và có phúc đức. Nhưng hai vợ chồng lại muộn con. Một ngày nọ, bà lão đi làm đồng thì thấy một vết chân khổng lồ. Bà liền ướm thử xem hơn kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai. Mười hai tháng sau bà sinh ra một cậu bé, mặt mũi khôi ngô, sáng sủa. Nhưng điều kì lạ là đến khi lên ba tuổi, cậu bé vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, đặt đâu thì nằm đấy. Bấy giờ, giặc Ân muốn xâm chiếm bờ cõi nước ta. Thấy giặc mạnh, vua Hùng lo sợ nên hạ lệnh đi tìm người tài giỏi cứu nước. Gióng nghe thấy tiếng sứ giả rao bèn cất tiếng nói đầu tiên: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây." Khi sứ giả bước vào, cậu bé nói:"Ông về hãy tâu với vua rằng làm cho ta một bộ áo giáp sắt, một chiếc roi sắt và một con ngựa sắt. Ta sẽ đánh tan lũ giặc này." Sứ giả vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ vội chạy về tâu với vua. Vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật mà chú bé dặn. Sau hôm gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc mà đã đứt chỉ. Cha mẹ làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con đành phải chạy nhờ bà con, làng xóm. Ai cũng vui lòng gom góp gạo nuôi cậu bé vì ai cũng đều muốn cậu bé đánh đuổi lũ giặc này để cho mọi người được sống trong sự bình yên, hạnh phúc. Bấy giờ, giặc đã đến chân núi Trâu, sứ giả vội vàng đem những vật mà chú bé đã dặn đến. Gióng vươn vai một cái đã biến thành một tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Chàng khoác trên mình bộ áo giáp sắt, tay cầm rồi sắt nhảy lên lưng ngựa. Ngựa hí vang dội mấy tiếng rồi chạy đến nơi có giặc, đón đầu chúng. Gióng đánh hết lớp giặc này đến lớp giặc khác. Giặc chết như ngả rạ. Đang đánh thì rồi sắt gãy, Gióng nhanh trí nhổ những bụi tre ở bên đường quật vào giặc. Đám tàn quân còn xót lại chạy đè lên nhau. Gióng đuổi bọn chúng đến chân núi Sóc. Đến đó, Gióng cởi bộ giáp sắt, rồi một mình một ngựa từ từ bay lên trời. Vua nhớ công ơn nên phong là Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng và lập đền thờ ngay tại quê nhà. Truyện truyền thuyết Tháng Gióng không chỉ là một câu chuyện bình thường mà là một bản hùng ca về sự dũng cảm, lòng nhân hậu và tình yêu nước tha thiết. Quả thật, truyện truyền thuyết không chỉ làm giàu trí tưởng tượng mà còn gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Trong thời đại hôm này, tinh thần Thánh Gióng vẫn vẹn nguyên giá trị. Nó nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta phải học tập rèn luyện để bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh.
Kể lại câu chuyện cổ tích "Cô bé quàng khăn đỏ"
Ngày xưa, có một cô bé rất ngoan và xinh xắn, mọi người gọi em là Cô bé quàng khăn đỏ vì em luôn đội chiếc khăn đỏ xinh xắn do bà ngoại tặng. Một hôm, mẹ cô bé nhờ em mang giỏ bánh và bình sữa sang cho bà ngoại đang ốm nằm một mình trong rừng.
Trên đường đi, cô bé quàng khăn đỏ gặp một con sói gian ác. Con sói nảy ra kế hoạch bắt bà và cô bé. Nó đi trước đến nhà bà, ăn thịt bà và giả làm bà nằm trên giường đợi cô bé. Khi cô bé đến, cô cảm thấy có gì đó lạ, nhưng chưa kịp phản ứng thì con sói định ăn thịt cô.
May mắn thay, một người thợ săn đi qua nghe tiếng kêu của cô bé, đã chạy đến cứu cô và bà ngoại. Người thợ săn giết con sói hung dữ, cứu cả hai bà cháu an toàn. Từ đó, cô bé quàng khăn đỏ luôn nhớ lời mẹ dặn là không được nói chuyện hay đi lối khác khi qua rừng.
Câu chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ” dạy chúng ta bài học quý giá về sự cảnh giác và vâng lời người lớn để giữ an toàn cho bản thân. Em rất thích câu chuyện này vì nó vừa hấp dẫn vừa có ý nghĩa sâu sắc.
- "Chim ơi, nhà tôi chỉ có cây khế này là tài sản quý giá nhất. Chim ăn hết khế, tôi lấy gì mà sống?"
- "Ăn một quả, trả một cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng."
Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về thói quen bắt chước. Bắt chước có thể là một phần tự nhiên của quá trình học hỏi, nhưng bắt chước mù quáng lại là một thói quen tiêu cực.
- Nêu vấn đề chính: Thói bắt chước mù quáng mang lại nhiều tác hại nghiêm trọng cho con người.
- Thân bài:
- Làm mất đi bản sắc và cá tính: Khi bắt chước, con người không còn là chính mình. Họ sống theo khuôn mẫu của người khác, dần dần đánh mất những nét riêng, sở thích và giá trị cá nhân. Đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin và hèn nhát trong việc thể hiện bản thân.
- Gây ra sự thất bại: Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Bắt chước cách làm của người khác mà không có sự cân nhắc, sáng tạo sẽ rất dễ dẫn đến thất bại. Chẳng hạn, một người khởi nghiệp bắt chước mô hình kinh doanh của một công ty lớn mà không xem xét thị trường, vốn và năng lực của mình sẽ khó thành công.
- Gây cản trở sự phát triển: Khi chỉ biết bắt chước, con người sẽ không còn động lực để tư duy, sáng tạo và tìm tòi cái mới. Xã hội sẽ dậm chân tại chỗ nếu ai cũng đi theo lối mòn cũ.
- Mất đi sự tôn trọng của người khác: Một người chỉ biết bắt chước thường không được đánh giá cao, vì họ không có ý kiến độc lập và không thể tự đưa ra quyết định.
- Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề: Thói bắt chước mù quáng là một rào cản lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội.
- Nêu giải pháp: Mỗi người cần học cách sống là chính mình, biết lắng nghe, học hỏi nhưng phải có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên dấu ấn riêng.
Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu về trải nghiệm đó. Nêu cảm nhận ban đầu của bạn về nó. Ví dụ: "Trong cuộc đời mỗi người, có những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc..." hoặc "Đó là một buổi chiều mưa, nhưng lại là lúc tôi nhận ra giá trị của lòng nhân ái..."
- Thân bài:
- Bối cảnh: Kể lại bối cảnh xảy ra câu chuyện: thời gian, địa điểm, những nhân vật liên quan.
- Diễn biến:
- Tường thuật lại toàn bộ câu chuyện theo trình tự thời gian.
- Tập trung vào những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng mạnh. Dùng các từ ngữ miêu tả sinh động để người đọc cảm nhận được cảm xúc của bạn khi đó (vui, buồn, thất vọng, bất ngờ...).
- Điểm mấu chốt: Sự kiện nào đã làm thay đổi suy nghĩ, cảm xúc của bạn?
- Ý nghĩa: Phân tích sâu sắc ý nghĩa của trải nghiệm đó.
- Bạn đã học được điều gì từ câu chuyện? (ví dụ: sự kiên trì, lòng biết ơn, tình yêu thương, sự tha thứ...)
- Trải nghiệm đó đã thay đổi bạn như thế nào? (ví dụ: giúp bạn tự tin hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn, thay đổi cách nhìn về một vấn đề nào đó...).
- Kết bài:
- Tổng kết lại giá trị của trải nghiệm.
- Khẳng định lại rằng trải nghiệm đó sẽ mãi là một bài học quý giá, một kỷ niệm không thể quên.
Bài làm
Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau
Trong kho tàng truyền thuyết phong phú của Việt Nam, câu chuyện về Sự Tích Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm luôn chiếm một vị trí đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa lịch sử mà còn vì vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của nó. Truyền thuyết này gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV
Truyền thuyết kể rằng, khi đất nước đang chìm trong ách đô hộ của giặc Minh, lòng người căm phẫn và khao khát độc lập. Thấu hiểu ý trời và lòng dân, Đức Long Quân đã quyết định trao cho Lê Lợi một bảo vật thiêng liêng để giúp ông hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc: đó là Thanh Gươm Thần. Thanh gươm không được trao trực tiếp. Lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy dưới đáy sông, còn chuôi gươm nạm ngọc lại được tìm thấy trên ngọn cây, tỏa ánh sáng rực rỡ, tất cả đều do người của Lê Lợi tình cờ nhặt được
khi lưỡi và chuôi hợp lại, thanh gươm trở nên hoàn chỉnh, mang sức mạnh phi thường. Nhờ có Thanh Gươm Thần, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, liên tiếp giành thắng lợi vang dội, cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước. Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên nhà Hậu Lê, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị
Saukhi đất nước yên bình, tong một lần nhà vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) dạo chơi trên chiếc thuyền rồng ở hồ Tả Vọng (tên cũ của Hồ Gươm), một Con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước. Rùa Thần tiến đến gần thuyền vua, cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hoàn trả lại gươm cho Long Quân!” Nhà vua hiểu ra rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành. Vua bèn rút gươm trao cho Rùa Vàng.Rùa Thần đón lấy gươm, ngậm vào miệng rồi lặn xuống đáy hồ. Kể từ đó, hồTả Vọng được đổi tên thành Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm) minh chứng cho lòng nhân ái, hòa bình của dân tộc và sự đồng lòng giữa Trời – Đất – Người trong công cuộc cứu nước
Truyền thuyết này không chỉ là một câu chuyện thần kỳ mà còn thể hiện tinh thần thượng võ và yêu chuộng hòa bình của người Việt, nhắc nhở các thế hệ về công lao của cha ông và ý nghĩa thiêng liêng của độc lập, tự do
Trong số các truyền thuyết cổ xưa của dân tộc Việt Nam, câu chuyện về Sơn Tinh và Thủy Tinh không chỉ là một huyền thoại giải thích hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người Việt trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai.
Truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Hùng thứ 18, có một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Vua Hùng muốn kén cho con gái một người chồng xứng đáng nên đã mở hội thi tuyển rể. Từ khắp nơi, nhiều chàng trai tài giỏi tìm đến, nhưng nổi bật nhất là hai vị thần: Sơn Tinh và Thủy Tinh.
Sơn Tinh là một chàng trai khôi ngô, có tài lạ: chỉ cần vẫy tay, núi đồi trùng điệp sẽ mọc lên, cây cối xanh tươi. Thủy Tinh cũng không kém cạnh, chàng có khả năng hô mưa gọi gió, làm cho biển cả và sông ngòi cuộn trào. Cả hai đều tài giỏi ngang sức ngang tài, khiến Vua Hùng khó lòng lựa chọn.
Cuối cùng, Vua Hùng đặt ra điều kiện thách cưới: "Sáng sớm hôm sau, ai mang đến sính lễ gồm một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao đến trước, người đó sẽ được cưới Mị Nương."
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng, Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến trước. Vua Hùng giữ lời hứa, gả Mị Nương cho Sơn Tinh. Thần Núi rước vợ về núi Tản Viên.
Khi Thủy Tinh đến nơi, thấy Mị Nương đã theo chồng, chàng vô cùng giận dữ. Cảm thấy bị sỉ nhục, Thủy Tinh đã nổi cơn lôi đình, dốc toàn lực để báo thù. Thần Nước hô mưa, gọi gió, làm nước biển dâng cao, dìm chìm đồng bằng, muốn nhấn chìm núi Tản Viên để cướp lại Mị Nương.
Trước sức mạnh kinh hoàng của nước, Sơn Tinh không hề nao núng. Thần Núi dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên bao nhiêu, Sơn Tinh đắp đất, nâng núi cao lên bấy nhiêu. Cuộc chiến kéo dài ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng, sức Thủy Tinh kiệt dần, đành phải rút lui.
Tuy nhiên, mối thù này không bao giờ dứt. Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh để đòi Mị Nương, gây ra cảnh lũ lụt khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và năm nào cũng vậy, Sơn Tinh vẫn chiến thắng, giữ vững bờ cõi và bảo vệ cuộc sống của người dân.
Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"
Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:
- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.
- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.
- Gợi lên tình cảm thầy trò.
Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.
Những năm tháng Tiểu học luôn là quãng thời gian hồn nhiên và đáng nhớ nhất trong cuộc đời em. Trong rất nhiều kỷ niệm đẹp ấy, em nhớ nhất là lần đầu tiên em được tham gia Hội thi “Kể chuyện Bác Hồ” của trường vào năm lớp 4.
Hôm đó, khi cô giáo chủ nhiệm thông báo em được chọn đại diện lớp đi thi, em vừa vui mừng vừa lo lắng. Em sợ mình nói sai hoặc quên bài trước đông người. Thế nhưng cô giáo luôn động viên, giúp em luyện tập mỗi ngày sau giờ học. Cô còn chỉ cho em cách đứng thẳng, mỉm cười, và nói thật tự nhiên để tạo thiện cảm với khán giả. Em chọn kể câu chuyện “Chiếc áo ấm tặng Bác” – một câu chuyện cảm động nói về tấm lòng nhân hậu của Bác Hồ đối với các cháu thiếu nhi.
Đến ngày thi, sân trường rợp cờ hoa, các lớp ngồi ngay ngắn cổ vũ. Khi bước lên sân khấu, em run lắm, tim đập nhanh đến mức tưởng như ai cũng nghe thấy. Nhưng khi nhìn thấy cô giáo đang mỉm cười động viên dưới hàng ghế khán giả, em bỗng cảm thấy bình tĩnh hơn. Em bắt đầu kể, giọng nói dần rõ ràng, truyền cảm, và em cố gắng thể hiện cảm xúc bằng cả trái tim. Khi em vừa dứt lời, mọi người vỗ tay vang dội, khiến em xúc động đến suýt rơi nước mắt.
Kết quả, em đạt giải Nhì toàn trường. Cô giáo ôm em và khen em rất dũng cảm. Ba mẹ cũng tự hào và thưởng cho em một quyển truyện mới. Từ lần đó, em hiểu rằng: nếu mình tin tưởng vào bản thân và chăm chỉ luyện tập, nhất định sẽ thành công.
Kỷ niệm ấy mãi là một trải nghiệm đáng nhớ trong tuổi thơ học trò của em — nơi em học được sự tự tin, lòng kiên trì và niềm vui khi vượt qua chính mình.
Trong những năm tháng học Tiểu học, em có rất nhiều kỉ niệm đẹp, nhưng trải nghiệm khiến em nhớ mãi là lần đầu tiên em tham gia hội thi văn nghệ của trường. Đó là một kỉ niệm vừa hồi hộp, vừa vui sướng mà em không bao giờ quên.
Hôm đó, lớp em được chọn biểu diễn múa trong buổi chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam. Ngay từ những buổi tập đầu tiên, em đã cảm thấy rất lo lắng vì sợ mình làm sai động tác, ảnh hưởng đến cả đội. Tan học, em cùng các bạn ở lại tập luyện cùng cô giáo. Có hôm chân đau, người mệt nhưng em vẫn cố gắng vì không muốn bỏ cuộc. Cô giáo luôn nhẹ nhàng động viên chúng em, nhờ vậy em cảm thấy tự tin hơn rất nhiều.
Đến ngày biểu diễn, khi đứng sau cánh gà nhìn xuống sân trường đông kín người, tim em đập rất nhanh. Em hồi hộp đến mức hai tay run lên. Nhưng khi tiếng nhạc vang lên, em nhớ lại lời cô dặn và bắt đầu thực hiện từng động tác. Mọi lo lắng dần tan biến, em cảm thấy mình đang hòa vào bài múa. Khi tiết mục kết thúc, em nghe thấy những tràng pháo tay vang lên khắp sân trường và lòng em tràn ngập niềm vui.
Từ trải nghiệm ấy, em rút ra bài học cho bản thân rằng: chỉ cần cố gắng, kiên trì và tin vào chính mình thì em sẽ vượt qua được nỗi sợ hãi. Kỉ niệm này đã giúp em trưởng thành hơn và trở thành một trải nghiệm đáng nhớ trong những năm tháng học Tiểu học của em.
đóng vai nv người anh trong câu chuyện cây khế
Cha mẹ mất sớm, tôi sống cùng với em trai. Hai anh em tôi chăm chỉ làm ăn. Rồi tôi và em trai cũng đến tuổi lấy vợ. Từ đó, tình cảm giữa hai chúng tôi không còn mặn mà như xưa nữa.
Hai vợ chồng tôi tính đến chuyện ở riêng cho hai vợ chồng người em. Tôi bàn với vợ, lấy tài sản và chia cho em trai căn nhà tranh lụp xụp trước nhà có một cây khế. Tuy vậy, hai vợ chồng cậu em không phàn nàn một lời, vẫn chịu khó làm ăn. Cho đến một hôm nghe người ta nói chuyện hiện nay vợ chồng người em đã rất giàu có thì tôi lấy làm tò mò liền sang gặp gỡ hỏi thăm. Em trai tôi thật thà nên đã kể lại mọi chuyện cho tôi nghe.
Hằng ngày, vợ chồng nó vẫn chăm sóc cho cây khế. Đến mùa, cây khế ra hoa kết trái và thu hoạch, em tôi mang ra chợ bán. Bỗng một hôm, có con chim lạ bay đến ăn khế của em. Nó ăn rất nhiều khế trên cây, ăn những quả thơm ngon nhất, cứ như thế suốt gần tháng trời.
Em tôi liền nói với chim, thì nó trả lời thế này:
- Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng.
Vợ chồng nó làm theo lời chim. Sáng hôm sau, như đã hẹn chim bay đến đưa em tôi đi lấy vàng. Đặt chân lên đảo, có biết bao thứ đá quý, bạc vàng. Nhưng đứa em dại dột của tôi chỉ lấy một ít vàng và kim cương rồi ra về. Từ đấy, cuộc sống của nó trở nên khá giả.
Biết rõ câu chuyện, tôi bàn mưu cùng vợ, gạ đổi hết tài sản của mình để lấy túp lều tranh và cây khế. Thế là từ đó, tôi chỉ có một việc là trông mong chim lạ bay đến ăn khế. Lâu dần, con chim cũng xuất hiện. Không thể kiên nhẫn ợi lâu hơn nữa, khi chim thần vừa ăn được vài quả tôi đã chạy ra hỏi như những gì em tôi đã nói. Và tôi cũng được chim lạ trả lời y hệt. Chỉ chờ có thế, vợ chồng tôi hí hửng, vội vàng may túi. Nhưng không phải túi ba gang như cậu em ngốc nghếch, tôi may hẳn một túi sáu gang.
Sáng hôm sau, chim thần cũng bay đến đưa tôi đến đảo vàng. Vừa đặt chân lên đảo tôi đã hoa mắt trước bao nhiêu vàng và đá quý. Càng vào sâu bên trong, tôi càng choáng ngợp. Quên hết mọi mệt nhọc, tôi ra sức nhét thật nhiều vàng vào cái túi sáu gang đã chuẩn bị. Dường như thấy vẫn chưa đủ, tôi còn cố nhét thêm vào ông tay áo và ống quần, rồi buộc chặt lại. Chim thần đợi tôi lâu quá nên thúc giục ra về. Nằm trên lưng chim, tôi vui mừng, tưởng tượng về cuộc sống giàu sang sắp tới của mình. Đang mơ màng sung sướng, bỗng một cơn gió thổi mạnh. Thì ra chim thần đã bay tới biển. Rồi bỗng nhiên, chim thần đâm bổ xuống biển. Sóng cuốn hết tất cả vàng bạc tôi vừa lấy được. Tôi kêu cứu, nhưng chim thần đã bay lên trời. Tôi vùng vẫy giữa nước biển mênh mông, hối hận vì lòng tham của mình.
Tôi là Lý Thông, một người chuyên bán rượu. Trong một lần đi bán rượu ở xã Cao Bình, ngồi nghỉ chân tại một quán nước gần gốc đa, tôi thấy một người vác về một đống củi to. Tôi nghĩ bụng đây chắc chắn là một người có sức khỏe phi thường, liền lấn lá làm quen. Cậu ta tên là Thạch Sanh, từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, của cải chẳng có gì ngoài chiếc búa cha để lại. Tôi biết tên này thật thà, dễ lợi dụng nên đã quyết định kết nghĩa anh em với Thạch Sanh, rồi bảo cậu ta về ở cùng với mình và mẹ già.
Từ ngày có Thạch Sanh, mẹ con tôi đỡ vất vả đi nhiều. Bấy giờ, trong vùng có một con chằn tinh rất hung ác, phép thuật vô song, thường xuyên bắt người ăn thịt. Để yên ổn, dân làng tình nguyện nộp người cho nó để nó ăn thịt, không quấy phá dân làng nữa. Lần đó, đến lượt tôi, tôi bèn nghĩ ra cách là nhờ Thạch Sanh đi thay mình. Tối đó, tôi mời Thạch Sanh ăn uống no say, rồi cất lời nhờ cậy đi trông miếu thay. Thạch Sanh không nghĩ ngợi nhiều liền nhận lời ngay. Tôi và mẹ vui mừng lắm.
Đêm hôm đó, tôi đang ngủ say thì bỗng có tiếng gọi của Thạch Sanh. Mẹ con tôi nghĩ Thạch Sanh về đòi mạng, van xin khẩn thiết. Thạch Sanh mới kể lại chuyện giết chằn tinh, bây giờ mẹ con tôi mới an tâm. Tôi còn nghĩ ra một kế lừa Thạch Sanh rằng đó là con vật nhà vua nuôi, không giết được và bảo Thạch Sanh về lại gốc đa cũ đi. Thạch Sạch tin lời ngay. Sau khi lừa được Thạch Sanh, tôi liền mang đầu chằn tinh lên quan lĩnh thưởng. Tôi được vua khen ngợi và phong làm đô đốc.
Năm đó, nhà vua có một người con gái đến tuổi lấy chồng nhưng chưa chọn được ai thích hợp. Vua cha bèn nghĩ ra cách ném cầu kén rể, ai bắt được cầu sẽ được làm phò mã. Nhưng khi công chúa vừa lên lầu chuẩn bị ném cầu thì bị một con đại bàng cắp đi mất. Tôi được vua cha giao cho nhiệm vụ đi tìm công chúa. Tình cờ, tôi gặp được Thạch Sanh. Tôi kể cho cậu ta nghe về việc đang đi tìm công chúa. Thạch Sanh nói rằng mình biết hang của đại bàng và đề nghị được đi cùng. Cậu ta dẫn tôi cùng quân lính đến hang của đại bàng. Tôi buộc dây vào thắt lưng hắn, dặn rằng khi vào cứu được công chúa thì hãy lấy dây để kéo công chua lên, sau đó sẽ thả dây xuống để cứu em. Khi Thạch Sanh cứu được công chúa, tôi sai người lấp cửa hang lại.
Năm ấy, tôi dừng chân tại một khu vườn nhỏ chỉ có duy nhất một cây khế già. Chủ nhân của nó là một đôi vợ chồng nghèo nhưng rất hiền lành. Khi tôi đang mải mê thưởng thức những trái khế ngọt lịm, người vợ bỗng than thở rằng cây khế là tài sản duy nhất của họ, nếu tôi ăn hết họ sẽ chẳng còn gì để sống. Cảm động trước tấm lòng của họ, tôi đã cất tiếng nói: Mấy ngày sau, tôi quay lại đón người em ra đảo lấy vàng. Đúng như lời dặn, anh ta chỉ mang theo chiếc túi ba gang nhỏ nhắn. Tôi cõng anh trên lưng, bay qua bao đại dương xanh thẳm. Tại đảo vàng, anh chỉ nhặt đủ số vàng đầy túi rồi cùng tôi trở về. Từ đó, cuộc sống của vợ chồng người em trở nên sung túc, họ còn đem tiền bạc giúp đỡ người nghèo trong vùng. 2. Sự xuất hiện của người anh tham lam
Tin tức về sự giàu có của người em đến tai người anh trai. Hắn ta lập tức tìm đến, đòi đổi cả gia tài để lấy cây khế. Tôi vẫn đến ăn khế như mọi khi và lại nhắc lại lời hứa cũ. Nhưng khác với người em, người anh này lại bộc lộ bản tính tham lam vô độ. Hắn không may túi ba gang mà lại may một chiếc túi lớn tận mười hai gang. 3. Sự trừng phạt cho lòng tham
Ngày đưa người anh ra đảo, tôi đã thấy mệt mỏi khi hắn cố nhét vàng đầy vào chiếc túi khổng lồ, thậm chí còn nhét thêm vào cả ống tay áo, ống quần. Lúc bay trở về, một cơn gió lớn ập đến. Sức nặng của vàng cộng với sự mệt mỏi khiến đôi cánh tôi trĩu xuống. Tôi đã cố gắng dặn hắn vứt bớt vàng đi để nhẹ bớt, nhưng hắn vẫn khư khư ôm chặt lấy túi vàng. Cuối cùng, một luồng gió mạnh thổi tới, tôi không còn giữ vững được thăng bằng. Người anh cùng túi vàng nặng trĩu đã rơi xuống biển sâu. Đó là cái giá đắt mà hắn phải trả cho lòng tham không đáy của mình. Kết bài: Bài học rút ra Chuyến bay ấy kết thúc trong sự tĩnh lặng của biển cả. Tôi bay về tổ mà lòng trĩu nặng suy nghĩ. Câu chuyện về hai anh em và cây khế mãi là một bài học sâu sắc: Người hiền lành, biết đủ sẽ nhận được phúc báo; kẻ tham lam, ích kỷ cuối cùng sẽ tự rước lấy họa vào thân.
Một lần, tôi thấy Tấm ngồi bên bờ giếng khóc nức nở vì bị Cám lừa lấy hết giỏ cá. Nhìn Tấm hiền lành, chăm chỉ mà bị đối xử bất công, tôi rất thương. Tôi liền hiện lên hỏi han và giúp Tấm tìm lại niềm vui. Tôi bảo Tấm giữ lại con cá bống và nuôi nó trong giếng.
Sau này, khi mẹ con Cám bắt Tấm nhặt thóc trộn lẫn gạo, tôi lại giúp Tấm bằng cách gọi đàn chim sẻ xuống nhặt hộ. Đến ngày hội làng, Tấm không có quần áo đẹp để đi chơi. Tôi lại giúp Tấm có quần áo và giày đẹp để đi dự hội.
Nhờ sự chăm chỉ và hiền lành, cuối cùng Tấm đã gặp được nhà vua và trở thành hoàng hậu. Tôi rất vui vì người tốt như Tấm cuối cùng cũng được hạnh phúc.
Câu chuyện khiến tôi tin rằng ở đời người hiền lành, chăm chỉ sẽ luôn được giúp đỡ và gặp điều tốt đẹp.
Ccvc
B/G
xin chào mọi người tôi là lý thông đây , vào một ngày đẹp trời ta gặp chàng trai cao to lực lưỡng đang vác một đông củi rất to mang về
G