Đọc văn bản sau:

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản sau:

HAI VỢ CHỒNG NGƯỜI THẦY BÓI

Chẳng may cho hai vợ chồng người thầy bói nọ: chồng đui mà vợ thì điếc. Một hôm đi đường, gặp một đám ma, vợ nói với chồng:

– Ôi chao, cái đám ma to quá! Bao nhiêu là cờ phướn.

Chồng liền mắng ngay:

– Cờ phướn đâu? Chỉ có trống kèn inh ỏi.

Vợ cãi:

– Trống, kèn đâu? Cờ nhan nhản ra kia, không trông thấy lại còn nói láo.

Chồng tức giận quát:

– Mặc xác cờ phướn của mày. Tao nghe thấy trống kèn thì đám ma chỉ có trống kèn thôi.

Lời qua tiếng lại, hai vợ chồng cãi nhau ầm ĩ cả đường. Có người vào can, hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện, cười và bảo hai vợ chồng người thầy bói:

– Thôi xin hai bác bình tĩnh. Bác trai đui, cho nên không trông thấy cờ. Bác gái điếc, cho nên không nghe thấy trống. Đám ma có cả cờ và trống. Người sáng mắt, sáng tai, ai cũng vừa trông, vừa nghe thấy cả. Thôi hai bác vào chợ mà kiếm ăn, đứng đây cãi nhau vì đám ma làm gì?

(Tinh hoa văn học dân gian người Việt, Truyện ngụ ngôn Quyển 1, NXB Khoa học xã hội, tr. 192)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Thời gian trong truyện có đặc điểm gì?

Câu 2. Sự kiện chính trong truyện là gì?

Câu 3. Nêu điểm chung của hai nhân vật chính trong truyện.

Câu 4. Xác định đề tài của truyện và trình bày căn cứ xác định.

Câu 5. Em có đồng ý với ý kiến: "Muốn hiểu đúng sự việc, cần biết lắng nghe và tôn trọng góc nhìn của người khác." không? Hãy viết đoạn văn khoảng 5 – 7 dòng giải thích và nêu ví dụ minh hoạ.

72
7 tháng 4

C1: Từ ngữ chỉ thời gian là một hôm => thời gian của văn bản không cụ thể

C2: đặc điểm chung của 2 nhân vật chính là đều bảo thủ với quan điểm của mình

C3: sự kiện chính trong truyện: 2 vợ chồng thầy bói tranh cãi về 1 đám ma, trong khi người vợ chỉ nhìn thấy cờ phướn còn người chồng chỉ nghe thấy tiếng kèn

C4:

- đề tài: bài học về cách nhìn nhận trong cuộc sống

- Căn cứ: nội dung chính là về vợ chồng thấy bói cãi nhau vì mỗi người chỉ thấy được một phần của sự thật

Câu 1: Thời gian trong truyện có đặc điểm: Thời gian phiếm chỉ (không xác định cụ thể, thường dùng cụm từ "Một hôm" để bắt đầu sự việc). Câu 2: Điểm chung của hai nhân vật chính: Cả hai đều có khuyết tật cơ thể (chồng đùi/mù, vợ điếc) và đều rất bảo thủ, cố chấp, chỉ tin vào cảm nhận phiến diện của mình mà không lắng nghe người khác. Câu 3: Sự kiện chính: Hai vợ chồng đi đường gặp đám ma, vì người mù người điếc nên cãi nhau gay gắt về việc đám ma có "cờ" hay có "trống kèn", cuối cùng được người qua đường phân xử. Câu 4: • Đề tài: Phê phán sự cố chấp, chủ quan của con người. • Căn cứ: Dựa vào hành động cãi vã vô lý của hai nhân vật và lời khuyên mang tính bài học của người qua đường ở cuối truyện. Câu 5: Viết đoạn văn (5-7 dòng) Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến trên. Mỗi người có một hoàn cảnh và cách tiếp nhận thông tin khác nhau, giống như hai vợ chồng thầy bói trong truyện, vì khiếm khuyết mà mỗi người chỉ thấy được một phần sự thật. Nếu chúng ta chỉ khăng khăng bảo vệ cái tôi của mình mà thiếu đi sự lắng nghe, tôn trọng góc nhìn của người khác, chúng ta sẽ trở nên phiến diện và gây ra những mâu thuẫn không đáng có. Ví dụ, khi cùng nhìn vào một con số 6 nằm dưới đất, người đứng đối diện sẽ thấy đó là số 9; nếu không đặt mình vào vị trí của nhau, cuộc tranh cãi sẽ không bao giờ kết thúc. Lắng nghe chính là chìa khóa để thấu hiểu sự việc một cách trọn vẹn nhất.

7 tháng 4

Câu 1: Thời gian trong truyện có đặc điểm: Thời gian phiếm chỉ (không xác định cụ thể, thường dùng cụm từ "Một hôm" để bắt đầu sự việc).

Câu 2: Điểm chung của hai nhân vật chính: Cả hai đều có khuyết tật cơ thể (chồng đùi/mù, vợ điếc) và đều rất bảo thủ, cố chấp, chỉ tin vào cảm nhận phiến diện của mình mà không lắng nghe người khác.

Câu 3: Sự kiện chính: Hai vợ chồng đi đường gặp đám ma, vì người mù người điếc nên cãi nhau gay gắt về việc đám ma có "cờ" hay có "trống kèn", cuối cùng được người qua đường phân xử.

Câu 4:

Đề tài: Phê phán sự cố chấp, chủ quan của con người.

Căn cứ: Dựa vào hành động cãi vã vô lý của hai nhân vật và lời khuyên mang tính bài học của người qua đường ở cuối truyện.

Câu 5: Viết đoạn văn (5-7 dòng)

Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến trên. Mỗi người có một hoàn cảnh và cách tiếp nhận thông tin khác nhau, giống như hai vợ chồng thầy bói trong truyện, vì khiếm khuyết mà mỗi người chỉ thấy được một phần sự thật. Nếu chúng ta chỉ khăng khăng bảo vệ cái tôi của mình mà thiếu đi sự lắng nghe, tôn trọng góc nhìn của người khác, chúng ta sẽ trở nên phiến diện và gây ra những mâu thuẫn không đáng có. Ví dụ, khi cùng nhìn vào một con số 6 nằm dưới đất, người đứng đối diện sẽ thấy đó là số 9; nếu không đặt mình vào vị trí của nhau, cuộc tranh cãi sẽ không bao giờ kết thúc. Lắng nghe chính là chìa khóa để thấu hiểu sự việc một cách trọn vẹn nhất.

13 tháng 4

Câu 1. ​Thời gian trong truyện mang đặc điểm của thời gian nghệ thuật trong truyện ngụ ngôn/truyện dân gian: không xác định cụ thể ngày tháng năm, thường bắt đầu bằng các cụm từ ước lệ như "Một hôm". Điều này giúp câu chuyện mang tính khái quát, có thể xảy ra ở bất cứ đâu và vào bất cứ lúc nào để rút ra bài học nhân sinh. ​Câu 2. ​Điểm chung của hai vợ chồng người thầy bói là: ​Về thể chất: Cả hai đều có khiếm khuyết về giác quan (chồng bị mù/đui, vợ bị điếc). ​Về nhận thức: Cả hai đều chỉ tin vào những gì hạn hẹp mà mình cảm nhận được, có cái nhìn phiến diện, chủ quan. ​Về tính cách: Cả hai đều bảo thủ, nóng nảy, thích khẳng định mình đúng và sẵn sàng cãi vã, mắng nhiếc đối phương dù bản thân không có cái nhìn toàn diện. ​Câu 3. ​Sự kiện chính là cuộc tranh cãi gay gắt giữa người chồng (nghe thấy tiếng trống kèn nhưng không thấy cờ) và người vợ (nhìn thấy cờ nhưng không nghe thấy tiếng trống kèn) khi gặp một đám ma trên đường. Sự việc kết thúc khi có người ngoài vào giải thích cho họ hiểu sự thật khách quan. ​Câu 4. ​Đề tài: Nhận thức của con người về thực tế khách quan và sự bảo thủ trong cách nhìn nhận. ​Căn cứ xác định: * Dựa vào nội dung câu chuyện xoay quanh việc hai người có khiếm khuyết tranh cãi về cùng một sự việc dựa trên góc nhìn hạn hẹp của cá nhân. ​Dựa vào thể loại: Đây là truyện ngụ ngôn (trích từ Truyện ngụ ngôn Quyển 1), mục đích chính là để phê phán thói chủ quan, thiển cận. ​Câu 5. Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến: "Muốn hiểu đúng sự việc, cần biết lắng nghe và tôn trọng góc nhìn của người khác." Mỗi người có một hoàn cảnh, trải nghiệm và vị trí quan sát khác nhau, giống như hai vợ chồng thầy bói trong truyện, nếu chỉ nhìn từ một phía sẽ dẫn đến sai lệch. Việc biết lắng nghe giúp ta thu thập thêm thông tin, lấp đầy những "điểm mù" trong nhận thức của chính mình. Ví dụ, khi cùng nhìn vào một con số 6 nằm dưới đất, người đứng ở trên sẽ thấy số 6 nhưng người đứng đối diện lại thấy số 9; nếu không lắng nghe đối phương, cả hai sẽ mãi mãi tranh cãi vô ích. Chỉ khi tôn trọng sự khác biệt, chúng ta mới có được cái nhìn toàn diện, thấu đáo và xây dựng được những mối quan hệ hòa hợp.

5 tháng 7

Hai vợ chồng người thầy bói trong văn bản là hình tượng ngụ ngôn đặc sắc phê phán thói bảo thủ, chủ quan và cái nhìn phiến diện. Dù bị mù (nhân vật ẩn dụ cho sự khiếm khuyết trong nhận thức) nhưng cả hai lại tự tin phán về hình thù con voi chỉ qua việc sờ một bộ phận, dẫn đến những kết luận sai lệch hoàn toàn. Sự hài hước và mỉa mai nằm ở chỗ: họ không chỉ sờ được một phần mà còn "khăng khăng cho rằng mình đúng", coi nhẹ quan điểm của người khác. Kết cục xô xát, toác đầu, chảy máu là bài học đắt giá về phương pháp nhìn nhận vấn đề: không nên nhìn sự vật một phía, thiếu cơ sở mà lại bảo thủ, cố chấp. Truyện qua đó phê phán thói lí sự cùn, thiếu trí tuệ trong xã hội, khuyên con người cần lắng nghe, toàn diện và khiêm tốn. 


Câu 2: Trong kỷ nguyên số, mạng xã hội (MXH) như Facebook, TikTok trở thành một phần không thể thiếu. Thế nhưng, đằng sau hàng nghìn bạn bè ảo và những lượt "like", một thực trạng đáng buồn đang diễn ra: con người ngày càng cô đơn hơn. Tôi hoàn toàn tán thành với quan điểm này. Thứ nhất, MXH tạo ra ảo giác về sự kết nối. Chúng ta dễ dàng "kết bạn" với hàng trăm người, nhưng những mối quan hệ đó thường hời hợt, chỉ dừng lại ở màn hình điện thoại. Con người dành thời gian "lướt" tin tức, ngắm nhìn cuộc sống của người khác thay vì đối thoại trực tiếp. Sự tương tác ảo này không thể thay thế những cái ôm, ánh mắt hay những cuộc trò chuyện thực tế, khiến cảm giác trống rỗng trong tâm hồn ngày càng lớn.  Thứ hai, MXH khiến con người cô đơn ngay trong không gian gia đình. Không khó để bắt gặp cảnh một gia đình cùng ngồi trong phòng khách nhưng mỗi người ôm một điện thoại. Chúng ta đang hiện diện về vật chất nhưng lại vắng mặt về tinh thần. Sự kết nối với thế giới bên ngoài quá lớn làm đứt gãy kết nối với những người thân yêu nhất.  Cuối cùng, việc so sánh bản thân với "cuộc sống hoàn hảo" của người khác trên mạng tạo ra tâm lí tự ti và xa lánh xã hội. Khi thấy người khác đi chơi sang chảnh, thành công, ta cảm thấy cuộc sống mình kém cỏi, từ đó khép kín và cô độc.  Tóm lại, mạng xã hội là công cụ, không phải cuộc sống. Để không trở thành kẻ cô đơn trong thời đại số, chúng ta cần chủ động giảm thời gian ảo, trân trọng những giá trị kết nối thực tế và học cách lắng nghe chính mình.

15 tháng 4

Câu 1: một hôm

Câu 2: bảo thủ với quan điểm của mình

Câu3: cả 2 vợ chồng đi qua đám ma , người chồng thì chỉ nghe tiếng trống , người vợ thì chir thấy cờ phướn

Câu4: Học về cách nhìn nhận trong đời sống

Câu 5: nếu có ai khuyên ta nên sử dụng tài liệu trong thi cử , ta nên làm lơ những lời đó và kiên định với ý kiến đúng

Câu 1

Trả lời

Thời gian trong truyện không xác định cụ thể diễn ra trong một buổi đi đường (mang tính phiếm chỉ)

Câu 2

Trả lời

Điểm chung của hai nhân vật chính Hai vợ chồng đều nóng nảy thiếu bình tĩnh dễ hiểu lầm và không chịu lắng nghe nhau

Câu 3

Trả lời

Sự kiện chính: hai vợ chồng gặp đám ma, vì hiểu lầm nói ''trống kèn'' hay "đám ma'' nên cãi nhau ầm ĩ giữa đường.

Câu 4

Trả lời

Đề tài: phê phán thói nóng nảy, không chịu lắng nghe, thiếu hiểu biết dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống.

Câu 5

Trả lời

Em đồng ý với ý kiến. Muốn hiểu đúng sự việc cần biết lắng nghe và tôn trọng. Trong truyện, hai vợ chồng vì không chịu nghe nhau nên mấy cãi nhau vô lý. Trong cuộc sống, nếu biết bình tĩnh và lắng nghe, ta sẽ tránh được hiểu lầm và giữ được mối quan hệ tốt đẹp.

câu 1 Thời gian trong truyện là thời gian phiếm chỉ, mang tính ước lệ (ví dụ: "Một hôm đi đường"). Đây là đặc điểm thường thấy trong truyện dân gian, không xác định cụ thể ngày tháng năm nào, giúp câu chuyện có tính khái quát và bài học bền vững với thời gian.

câu 2 Cả hai vợ chồng đều có đặc điểm chung là bị mù. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý nhất là họ rất bảo thủ, chủ quan và nóng nảy. Dù không nhìn thấy bằng mắt, họ lại quá tin vào cảm giác mơ hồ của mình rồi khăng khăng cho là đúng, dẫn đến việc cãi nhau vô lí giữa đường.

Câu 3 Sự kiện chính là việc hai vợ chồng người thầy bói đi đường, nghe thấy tiếng đám ma nhưng mỗi người lại khẳng định đó là một sự việc khác nhau (người vợ nói là đám ma to, người chồng nói là tiếng trống kèn). Sau đó, họ cãi nhau kịch liệt cho đến khi có một người đi đường vào phân xử và chỉ ra cái sai của cả hai.

câu 4 Đề tài: Truyện cười (phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội).

Căn cứ: * Sử dụng yếu tố gây cười (hai người mù cãi nhau về thứ mình không thấy rõ).

• Tình huống mâu thuẫn nảy sinh từ sự hiểu biết hạn hẹp nhưng lại thích khẳng định.

• Kết thúc bằng một lời nhận xét mỉa mai, châm biếm của người thứ ba để làm bật lên tiếng cười và bài học.

câu 5 Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến: "Muốn hiểu đúng sự việc, cần biết lắng nghe và tôn trọng góc nhìn của người khác." Mỗi người chúng ta đều có những hạn chế riêng về nhận thức, giống như hai vợ chồng người thầy bói trong câu chuyện, nếu chỉ khăng khăng giữ cái tôi cá nhân, ta sẽ dễ dẫn đến những sai lầm nực cười. Lắng nghe không chỉ giúp ta thu thập thêm thông tin mà còn giúp ta thấu hiểu cảm xúc của đối phương. Ví dụ, khi làm việc nhóm, nếu bạn đưa ra ý kiến khác mình, thay vì bác bỏ ngay, em nên lắng nghe lý do của bạn; có thể góc nhìn của bạn sẽ giúp hoàn thiện những thiếu sót mà em chưa thấy. Tôn trọng sự khác biệt chính là chìa khóa để chúng ta cùng tiến bộ và tránh được sự mù quáng, bảo thủ.

Câu 1.

Thời gian trong truyện không xác định cụ thể, mang tính chung chung (chỉ nói “một hôm”).

Câu 2.

Điểm chung của hai nhân vật:

  • Đều có khiếm khuyết (chồng đui, vợ điếc)
  • Bảo thủ, cho mình là đúng, không chịu nghe người khác.

Câu 3.

Sự kiện chính:

→ Hai vợ chồng gặp đám ma, do mỗi người chỉ nhận biết một phần (vợ thấy cờ, chồng nghe trống kèn) nên cãi nhau ầm ĩ.


Câu 4.

  • Đề tài: Phê phán thói chủ quan, không chịu lắng nghe người khác.
  • Căn cứ: Hai vợ chồng mỗi người chỉ thấy/nghe một phần nhưng vẫn khăng khăng mình đúng → dẫn đến cãi vã vô lý.

Câu 5. (đoạn 5–7 dòng tham khảo)

Em đồng ý với ý kiến trên. Trong cuộc sống, mỗi người có một góc nhìn khác nhau nên nếu không biết lắng nghe sẽ dễ hiểu sai sự việc. Việc tôn trọng ý kiến của người khác giúp ta nhìn nhận vấn đề đầy đủ và chính xác hơn. Nếu chỉ khăng khăng theo suy nghĩ của mình, ta có thể dẫn đến mâu thuẫn không đáng có. Ví dụ, khi làm việc nhóm, nếu các thành viên biết lắng nghe nhau thì sẽ đưa ra giải pháp tốt hơn. Ngược lại, nếu ai cũng cho mình đúng thì công việc khó thành công. Vì vậy, lắng nghe là rất cần thiết.


15 tháng 4

Câu 1 Thời gian trong truyện mang tính phiếm chỉ, không xác định cụ thể (thể hiện qua cụm từ "Một hôm"). Đây là đặc điểm điển hình của truyện ngụ ngôn hoặc truyện dân gian, giúp bài học có giá trị ở mọi thời điểm.       

Câu 2 Về hoàn cảnh: Cả hai đều làm nghề thầy bói và đều có khiếm khuyết về cơ thể (chồng bị mù/dui, vợ bị điếc).

Về tính cách: Cả hai đều chủ quan, bảo thủ, chỉ tin vào những gì mình nhận thức được mà không biết lắng nghe người khác, dẫn đến tranh cãi vô lý.

Câu 3 Sự kiện chính là việc hai vợ chồng thầy bói gặp một đám ma trên đường. Người vợ thấy cờ nhưng không nghe thấy tiếng trống, người chồng nghe thấy tiếng trống nhưng không thấy cờ, dẫn đến việc cả hai cãi nhau nảy lửa giữa đường.

Câu 4 Đề tài: Sự phiến diện, chủ quan trong nhận thức và cách ứng xử của con người.

Căn cứ xác định: Dựa vào cốt truyện và các chi tiết gây cười. Câu chuyện xây dựng tình huống hai người chỉ nhìn thấy/nghe thấy một phần của sự việc nhưng đã vội vàng khẳng định toàn bộ sự thật và bác bỏ ý kiến của người khác.

Câu 5

Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến: "Muốn hiểu đúng sự việc, cần biết lắng nghe và tôn trọng góc nhìn của người khác." Mỗi cá nhân đều có những hạn chế riêng về nhận thức hoặc góc quan sát, giống như người chồng chỉ nghe thấy tiếng trống còn người vợ chỉ thấy cờ phướn trong câu chuyện. Nếu chúng ta chỉ khăng khăng bảo vệ cái tôi của mình, chúng ta sẽ trở nên phiến diện và dễ dẫn đến sai lầm.

Ví dụ: Khi làm việc nhóm, nếu bạn chỉ nhìn vào lỗi sai của người khác mà không lắng nghe giải thích về khó khăn họ gặp phải, công việc sẽ không bao giờ đạt kết quả tốt nhất. Biết lắng nghe giúp ta có cái nhìn toàn diện và xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp hơn.






15 tháng 4

Câu1 Từ ngữ chỉ thời gian là một hôm.Từ đó cho thấy thời gian tiêu biểu trong truyện ngụ ngôn

Câu2

Điểm chung của hai nhân vật là bảo thủ với quan điểm của mình

Câu 3

Sự kiện chính trong truyện hai vợ chồng người thầy bói tranh cãi về một đám ma trong khi người chồng thì chỉ nghe được âm thanh kèn còn người vợ chỉ thấy đc cờ phướn

Câu 4

Đề tài bài học về cách nhìn nhận vấn đề trong cuộc sống

Căn cứ xác định

Nhân vật chính trong truyện hai vợ chồng người thầy bói

Nội dung chính của văn bản là hai vợ chồng người thầy bói cãi nhau vì một đám tang

Câu 5

Về hình thức đảm bảo đúng dung lượng ko mắc lỗi diễn đạt chính tả

Về nội dung nêu quan điểm kèm nội dung giải thích và ví dụ minh hoạ đối với ý kiến

Học sinh nêu quan điểm đồng tình hay ko đồng tình với ý kiến

Học sinh nêu giải thích và ví dụ


15 tháng 4

Câu 1:

Thời gian trong truyện mang đặc điểm của truyện ngụ ngôn: thời gian phiếm chỉ, không xác định cụ thể (được mở đầu bằng cụm từ "Một hôm").

Câu 2:

Điểm chung là: Đều bị khiếm khuyết về cơ thể (chồng mù, vợ điếc).

Đều có tính cách bảo thủ, chủ quan, chỉ tin vào những gì mình cảm nhận được và cho rằng mình luôn đúng

Câu3:

Hai vợ chồng người thầy bói gặp một đám ma trên đường; người vợ nhìn thấy cờ phướn nhưng không nghe thấy tiếng trống, người chồng nghe thấy tiếng trống nhưng không nhìn thấy cờ, dẫn đến việc cãi nhau gay gắt.

CÂU 4

Đề tài: Phê phán những người có cái nhìn phiến diện, chủ quan trong cuộc sống. Căn cứ: Dựa vào tình huống truyện (hai người cãi nhau dựa trên những hiểu biết không đầy đủ của bản thân) và lời của người can ngăn ở cuối truyện (giải thích rằng sự thật bao gồm cả cái họ thấy và cái họ nghe).

Câu 5

Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến trên. Trong cuộc sống, mỗi người có một vị trí và hoàn cảnh khác nhau, giống như người vợ điếc và người chồng mù trong truyện, nên cái nhìn về sự vật thường chỉ mang tính phiến diện. Nếu chúng ta chỉ khăng khăng bảo vệ cái tôi cá nhân mà thiếu đi sự lắng nghe, ta sẽ dễ rơi vào sai lầm và gây ra những tranh cãi vô ích. Ví dụ, khi cùng nhìn vào con số 6 nằm dưới đất, người đứng đối diện sẽ thấy đó là số 9; chỉ khi biết đặt mình vào vị trí của nhau, chúng ta mới có được cái nhìn toàn diện và thấu đáo nhất về sự thật.



Câu 1 : thời gian trong truyện không xác định cư thể chỉ nói chung chung như một hôm

Câu 2 : cả 2 đều bị khiếm khuyết(chồng đui vợ điếc) và đều bảo thủ và chủ quan ai cũbg cho rằng mình đúng

Câu 3 : sự kiện chính: hai vợ chồng tranh cãi về đám ma : vợ thấy cờ phớn, chồng nghe trống kèn nên không ai chịu ai

Câu 4: đề tài: phê phán cách nhìn nhận phiến diện, chủ quan của con người

Căn cứ: hai nhân vật mỗi người chỉ dựa vào một phía(nhìn hoặc nghe) nên hiểu sai sự việc và cãi nhau

 

17 tháng 4

Câu 1: Thời gian không cụ thể (phiếm chỉ). Câu 2: - Giống nhau: bị khiếm khuyết, bảo thủ, không nghe nhau. Câu 3: → Gặp đám ma → mỗi người cảm nhận khác → cãi nhau. Câu 4: - Đề tài: Phê phán sự chủ quan, không lắng nghe. - Căn cứ: Hai vợ chồng ai cũng cho mình đúng. Câu 5:

Em đồng ý. Vì mỗi người có góc nhìn khác nhau, cần lắng nghe để hiểu đúng. Nếu không sẽ dễ tranh cãi. Ví dụ làm việc nhóm, biết nghe nhau thì kết quả tốt hơn.

19 tháng 4

Câu 1

Thoeif tgian chỉ ở văn bản trên là một hôm

Câu 2


19 tháng 4

Từ ngữ chỉ "một hôm"

19 tháng 4

Câu 1. Thời gian trong truyện có đặc điểm gì?

Thời gian phiếm chỉ, không xác định cụ thể (thể hiện qua cụm từ "Một hôm"), đây là đặc điểm điển hình của truyện ngụ ngôn và truyện dân gian.

​Câu 2. Nêu điểm chung của hai nhân vật chính trong truyện.

Cả hai đều là người khiếm khuyết (chồng mù, vợ điếc) và đều bảo thủ, chỉ tin vào giác quan hạn hẹp của mình mà phủ nhận ý kiến của người khác.

​Câu 3. Sự kiện chính trong truyện là gì?

Hai vợ chồng người thầy bói tranh cãi gay gắt về việc đám ma có "cờ" hay "trống kèn" dựa trên những gì họ thấy/nghe được, cho đến khi có người vào can ngăn và giải thích.

​Câu 4. Xác định đề tài của truyện và trình bày căn cứ xác định.

​Đề tài: Phê phán thói bảo thủ, chủ quan, "thầy bói xem voi" (nhìn nhận sự việc phiến diện).

​Căn cứ: Dựa vào tình huống truyện (hai người cùng sai nhưng đều cho mình đúng) và lời giải thích của người can ngăn (khẳng định sự việc có cả hai nhưng mỗi người chỉ nhận biết được một phần).

​Câu 5. Viết đoạn văn (5 – 7 dòng) về việc lắng nghe và tôn trọng góc nhìn người khác.

Bài làm

Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến trên. Mỗi người có hoàn cảnh và giới hạn nhận thức riêng, giống như người chồng chỉ nghe thấy tiếng trống còn người vợ chỉ nhìn thấy lá cờ. Nếu không biết lắng nghe, chúng ta sẽ trở nên phiến diện và dễ dẫn đến mâu thuẫn vô ích. Việc tôn trọng góc nhìn của người khác giúp ta có cái nhìn toàn diện, khách quan hơn về cuộc sống.

Ví dụ: Khi cùng nhìn vào con số 6 nằm dưới đất, người đứng ở trên nhìn thấy số 6, nhưng người đứng đối diện lại thấy số 9; nếu không đặt mình vào vị trí của nhau, cả hai sẽ mãi tranh cãi mà không biết rằng cả hai đều đúng ở góc độ của mình.

20 tháng 4

câu 1 :

không xác định cụ thể

câu 2:

Điểm chung của hai nhân vật chính

  • Đều bị khiếm khuyết giác quan
  • Đều chỉ dựa vào cảm nhận của bản thân nên hiểu sai sự việc.

câu 3:

Sự kiện chính:
→ Hai người gặp đám ma, người mù không thấy cờ, người điếc không nghe trống, nên cãi nhau về việc có đám ma hay không, cuối cùng được người khác giải thích.

câu 4 :

Đề tài: phê phán những người chủ quan, phiến diện, không chịu lắng nghe ý kiến người khác nên hiểu sai sự việc.
Căn cứ: Hai nhân vật mỗi người chỉ tin vào điều mình cảm nhận, không tiếp thu ý kiến đối phương, dẫn đến tranh cãi vô lý.

câu 5:

Em đồng ý với ý kiến trên. Trong cuộc sống, mỗi người có một góc nhìn riêng nên nếu chỉ tin vào bản thân mà không lắng nghe người khác thì rất dễ hiểu sai sự việc. Việc biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác giúp ta có cái nhìn toàn diện hơn. Nhờ đó, ta có thể đưa ra nhận định đúng đắn và tránh những tranh cãi không cần thiết. Ví dụ, khi làm việc nhóm, nếu biết tiếp thu ý kiến của bạn bè, kết quả sẽ tốt hơn. Ngược lại, nếu bảo thủ, chỉ làm theo ý mình thì dễ thất bại. Vì vậy, lắng nghe là rất quan trọng.


25 tháng 4

Câu 1:

Thời gian không xác định cụ thể.

Câu 2:

Hai vợ chồng đều có điểm chung là bảo thủ với quần điểm của mình.

Câu 3:

Sự kiện chính trong truyện :2 vợ chồng và người thầy bói (vợ điếc chồng đui) tranh cãi về 1 đám tang trong khi đó người vợ chỉ thấy cờ phướm còn người chồng thì chỉ nghe thấy được âm thanh kèn trống.

Câu 4:

- Đề tài :cách nhìn nhận trong cuộc sống.

-Căn cứ xác định:

+) Nhân vật chính :2 vợ chồng và người thầy bói.

+) Nội dung chính của văn bản: hai vợ chồng và người thầy bói -chồng thì đui, vợ thì điếc-cãi nhau vì hai người chỉ cảm nhận được một phần của sự thật (chồng chỉ nghe thấy tiếng chống kèn, vợ thì chỉ thấy cờ phướm).

Câu 5

- Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến trên. Về lắng nghe và tôn trọng góc nhìn của người khác không chỉ thể hiện sự tử tế mà còn là chìa khóa để phá vỡ giới hạn tư duy cá nhân. Mỗi người đứng ở vị trí khác nhau sẽ nhìn thấy những khía cạnh mà ta bỏ lỡ, giúp bức tranh toàn cảnh về sự việc trở lên đầy đủ và khách quan hơn.Trái lại, nếu chỉ khăng khăng giữ lấy cái tôi, chúng ta sẽ dễ rơi vào những định kiến và những quyết định sai lầm hơn.

- Ví dụ minh họa: nếu trong một dự án nhóm, bạn cho rằng kế hoạch của mình là hoàn hảo nhưng đồng nghiệp lại chỉ ra rủi ro chi phí, thay vì bát bỏ, Việc lắng nghe sẽ giúp bạn điều chỉnh để kế hoạch thực tế và thành công hơn.

Có vì vợ chồng

22 tháng 4

1

Từ chỉ thời gian là"một hôm ",thời gian đó không được xác định cụ thể.

2

Cãi nhau khi chỉ nhìn nhận vấn đề từ một chiều.

3

Sự kiện chính trong truyện là:hai vợ chồng người thầy bói "vợ thì bị điếc con chồng thì bị đui" hai vợ chồng tranh cãi về một đám tang trong khi người chồng bị đui chỉ nghe được tiếng của trống kèn còn cười vợ bị điếc chỉ thấy được cờ phướn.

4

Đề tài :bài học về cách nhìn nhận vấn đề trong cuộc sống .

Căn cư sác định là :nhân vật chính và nội dung của bài

23 tháng 4

Câu 1: Thời gian trong câu chuyện không xác định được vì chỉ miêu tả là “một hôm” câu 2 : mỗi nhân vật trên điều lên tiếng để bảo vệ quan điểm của mình Câu 3

25 tháng 4

Câu 1: Từ ngữ chỉ thời gian là một hôm từ đó cho thấy thời gian tiêu biểu trong truyện ngụ ngôn không xác định cụ thể

Câu 1: thời giam : phiếm chỉ

C2: đều khiem khuyết ( mù , điếc)và rất bảo thủ , phiến diện

C3: hai vợ chồng cai Nhau vì mỗi ng chỉ thấy 1 phần của đám ma

C4: đề tài : nhận thức su vật

Căn cứ: nhân vật chỉ tin vào giác quan hạn hẹp của mình để phan xét toàn thể

26 tháng 4

Câu 1:

- Đặc điểm thời gian trong truyện không thể xác định vì đây làđặc điểm dien hình của chuyện ngụ ngôn .

Câu 2

Điểm chung của hai nhân vật chính là ca hai vợ chồng đều bị khiếm thị và cùng làm nghề thầy bói

Về tính cách ho quá chủ qua tu tin

Câu 3:

Sự kiện chính trong câu chuyện là cuộc trang cai gay gắt giữa ha vo chồng

Câu 4

Đề tài và can cứ xác định của Câu chuyện trên là

Đề tài: cách nhìn nhận và đánh giá sự vật và hiện tuong trong cuộc sống

Can cứ xác định: dua vào câu chuyện trên nhan vật trong câu chuyện và nội dung hoàn cảnh của văn bản

Câu 5

Em hoàn toàn đồng ý với ý kien “Muốn hiểu đúng sự việc , cần biết lắng nghe và tôn trọng góc nhìn của người khác ”. Bởi vì mỗi ca nhan thường quan sát về một phía sự việc trên trai nghiệm hạn hẹp của bản thân dan đen chu quan , việc lang nghe giúp chúng ta thu nhập thêm thông tin từ do nhìn rõ đc ban chất vấn đề.



26 tháng 4

Câu 1: từ ngữ chỉ thời gian : một hôm.cho thấy thời gian trong truyện không xác định cụ thể

Câu 2: điểm chung của 2 nhân vật chính: bảo thủ với quan điểm của mình

Câu 3: hai vợ chồng thầy bói tranh cãi về đám tang , trong khi người chỉ nghe đc âm thanh, còn người kia chỉ nhìn đc cờ phướn

Câu 4: bài học về cách nhìn nhận trong cuộc sống

Trong câu chuyện 2 vợ chồng thầy bói cãi nhau chỉ vì mỗi người nhìn được 1 phần sự thật

Câu 5: mỗi người đều có góc nhìn khác nhau , nếu nhìn vào mỗi chính kiến của mình thì không thể nhận ra được vấn đề đang gặp hoặc mắc phải

26 tháng 4

C1: thời gian không xác định cụ thể

C2:đều khiếm khuyết giác quan, bảo thủ,ai cũng cho mình đúng

C3:hai vợ chồng gặp đám ma rồi cãi nhau vì người nói có cờ, người nói có trống kèn

C4:đề tài:phê phán thói chủ quan,cố chấp, vì hai người chỉ tin mình nên cãi nhau

C5:em đồng ý.Muốn hiểu đúng sự việc cần biết lắng nghe người khác.Mỗi người chỉ thấy một phần vấn đề.Biết tôn trọng ý kiến khác sẽ tránh hiểu lầm và giải quyết việc tốt hơn

Câu 1 : từ ngu chỉ thời gian , cho thấy thoi gian tiêu biểu trong truyện ngụ ngôn : không xác định cụ thể

Câu 2 : điểm chung của 2 nhân vật chính : bảo thủ với quan tâm đến quan điểm của mình

Câu 3 sự kiện chính trong chuyện là 2 vợ chồng người thầy bói chồng đui vợ điếc tranh cãi về 1 đám tang trong khi người chồng chỉ nghe được âm thanh của trống kèn còn người vợ chỉ thấy được cờ phất

Câu 4 :- đề tài : bài học về cách nhìn nhận vấn đề trong cuộc sống

- căn cứ xác định

+ nhân vật chính trong câu chuyện : Hai vợ chồng người thầy bói

+ nội dung chính : hai vợ chồng người thầu bói -chồng đui vợ điếc - cãi nhau vì mỗi người chrir cảm nhận được 1 phần của sự thật ( người chồng nghe thấy kèn - người vợ ngchir thấy cờ phớt )

C

27 tháng 4

Câu 1.
Thời gian trong truyện không xác định cụ thể, mang tính phiếm chỉ (kiểu “một hôm”, “ngày nọ”), thường gặp trong truyện dân gian.

Câu 2.
Điểm chung của hai nhân vật chính (hai vợ chồng thầy bói): đều mê tín, tin vào bói toán và có phần chủ quan, thiếu suy xét.

Câu 3.
Sự kiện chính: hai vợ chồng thầy bói đoán mò sự việc (dựa vào suy diễn chủ quan) rồi tin là đúng, từ đó dẫn đến những tình huống hiểu sai hoặc gây cười.

Câu 4.

  • Đề tài: phê phán thói mê tín, tin vào bói toán mù quáng.
  • Căn cứ: truyện xây dựng hình ảnh hai vợ chồng thầy bói đoán bừa nhưng vẫn tin là đúng, qua đó châm biếm những người nhẹ dạ, thiếu suy nghĩ.

Câu 5
Em đồng ý với ý kiến rằng muốn hiểu đúng sự việc, cần biết lắng nghe và tôn trọng góc nhìn của người khác. Mỗi người có hoàn cảnh và cách nhìn nhận riêng, nếu chỉ dựa vào suy đoán của bản thân thì rất dễ hiểu sai. Khi lắng nghe, ta có thêm thông tin để đánh giá khách quan hơn. Điều này giúp tránh những mâu thuẫn không đáng có và đưa ra quyết định đúng đắn. Ví dụ, trong lớp học, khi xảy ra tranh cãi, nếu các bạn chịu lắng nghe nhau thì sẽ nhanh chóng tìm được cách giải quyết hợp lý. Vì vậy, lắng nghe và tôn trọng là rất cần thiết.

I. ĐỌC – HIỂU      Tôi muốn kể với các em về thầy giáo dạy vẽ của tôi. Thầy dạy chúng tôi cách đây mười bảy năm, khi đó chúng tôi mới học lớp Năm mà thầy thì mái tóc đã bạc phơ…        […] Chẳng hiểu vì thầy không có tài hay không gặp may, tuy thầy rất yêu hội hoạ, dành hết sức lực và tiền bạc cho nó. Vợ con thầy đều đã mất từ lâu, thầy bảo: “Giờ đây, nguồn...
Đọc tiếp

I. ĐỌC – HIỂU

     Tôi muốn kể với các em về thầy giáo dạy vẽ của tôi. Thầy dạy chúng tôi cách đây mười bảy năm, khi đó chúng tôi mới học lớp Năm mà thầy thì mái tóc đã bạc phơ… 

      […] Chẳng hiểu vì thầy không có tài hay không gặp may, tuy thầy rất yêu hội hoạ, dành hết sức lực và tiền bạc cho nó. Vợ con thầy đều đã mất từ lâu, thầy bảo: “Giờ đây, nguồn vui của thầy chỉ là công việc và các em học sinh.”. Chúng tôi đều rất quý và thương thầy. Có lần, thầy đến lớp, vẻ nghiêm trang, xúc động, thầy nói với chúng tôi: 

     – Ở triển lãm mĩ thuật thành phố người ta có bày một cái tranh của tôi... 

     Thầy mỉm cười rụt rè, khẽ nói thêm: “Các em đến xem thử…”. 

     Chiều hôm ấy, mấy đứa chúng tôi trong đó có Châu và Hiển – rủ nhau đến phòng triển lãm. Trong gian phòng chan hoà ánh sáng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc. So với những bức tranh to lớn trang trọng khác, bức tranh của thầy thật bé nhỏ, trong một chiếc khung cũ. Bởi tranh vẽ rất cẩn thận một lọ hoa cúc, mấy quả cam, những cánh hoa vàng rơi trên mặt bàn… Mọi người đi lướt qua, chẳng ai để ý tới bức tranh của thầy. Chúng tôi ngồi xuống cạnh bàn ghi cảm tưởng của người xem: chẳng thấy ý kiến nào khen ngợi hoặc nhắc đến bức tĩnh vật của thầy giáo chúng tôi. Lúc ấy, chúng tôi thấy thầy Bản cũng đến, thầy đi lại trong phòng triển lãm, nhìn người xem rồi lại nhìn về cái tranh của mình, bồn chồn, hồi hộp. Rồi sau cảm thấy đứng mãi ở đấy không tiện, thầy lại lóc cóc ra lấy xe đạp, đạp đi. 

     Càng thương thầy, chúng tôi càng giận những người xem vô cùng. Nảy ra một ý, chúng tôi bàn khẽ với nhau, rồi mở quyển sổ ghi cảm tưởng, chúng tôi thay nhau viết:

      “Trong phòng triển lãm này, chúng tôi rất thích bức tranh của hoạ sĩ Nguyễn Thừa Bản!”. “Bức tranh tĩnh vật của hoạ sĩ Nguyễn Thừa Bản rất đẹp. Hoạ sĩ là một người có tài năng và cần cù lao động. Kính chúc hoạ sĩ mạnh khoẻ…” 

      Rồi chúng tôi kí những cái tên giả dưới các ý kiến đó. Ngoài mấy đứa chúng tôi, không ai biết việc này. 

      Vài hôm sau, thầy Bản đến lớp. Bối rối vì cảm động, thầy báo tin: 

     – Các em ạ… bức tranh ở triển lãm của tôi... cũng được một số người thích... họ có ghi cảm tưởng... Ban tổ chức có đưa cho tôi đọc… tôi có ghi lại…

      Thầy húng hắng ho rồi nói thêm vẻ ân hận: 

      – Bức tranh ấy tôi vẽ chưa được vừa ý… Nếu vẽ lại, tôi sẽ sửa chữa nhiều... 

      Thương thầy quá, chúng tôi suýt oà lên khóc. […] 

     Có lẽ đến phút cuối cuộc đời, thầy cũng không biết rằng: chính chúng tôi – những học trò nhỏ của thầy – đã viết vào quyển sổ cảm tưởng trong kì triển lãm ấy. Bây giờ thầy Bản không còn nữa! 

     Tối ấy, ngồi với nhau, chúng tôi nhắc nhiều và nhớ nhiều đến thầy... 

     “Thưa thầy giáo dạy vẽ kính yêu! 

     Viết những dòng này, chúng em muốn xin thầy tha lỗi cho chúng em, và muốn một lần nữa được thưa với thầy rằng: chúng em biết ơn thầy, mãi mãi biết ơn thầy...”. 

(Xuân Quỳnh, Thầy giáo dạy vẽ của tôi)

Câu 9: So sánh cặp câu dưới đây và nêu tác dụng của việc mở rộng thành phần trạng ngữ, vị ngữ trong câu.

a.

(1)  Trong gian phòng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.

(2)  Trong gian phòng chan hoà ánh sáng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.

b.

(1) Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản đẹp.

(2) Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản rất đẹp. 

Câu 10: Nêu một bài học, thông điệp mà em rút ra sau khi đọc câu chuyện trên.

3
3 tháng 11 2025

Câu 9: So sánh và nêu tác dụng

a.

  • Câu (1): “Trong gian phòng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”
  • Câu (2): “Trong gian phòng chan hoà ánh sáng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”

👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần trạng ngữ được mở rộng bằng cụm từ “chan hoà ánh sáng”, giúp miêu tả rõ hơn không gian của gian phòng triển lãm.

👉 Tác dụng:
Việc mở rộng thành phần trạng ngữ làm cho không gian bức tranh trở nên sinh động, có sức gợi hình, gợi cảm hơn, đồng thời giúp người đọc cảm nhận được vẻ trang trọng, sáng sủa của phòng triển lãm – nơi bức tranh của thầy được trưng bày.


b.

  • Câu (1): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản đẹp.”
  • Câu (2): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản rất đẹp.”

👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần vị ngữ được mở rộng nhờ thêm từ “rất”, làm tăng mức độ biểu cảm cho tính từ “đẹp”.

👉 Tác dụng:
Việc mở rộng vị ngữ giúp nhấn mạnh cảm xúc ngưỡng mộ, yêu thích của người viết đối với bức tranh, đồng thời thể hiện rõ hơn tình cảm trân trọng và tự hào dành cho người thầy họa sĩ.


Câu 10: Bài học hoặc thông điệp rút ra

Câu chuyện gửi gắm một bài học sâu sắc về lòng biết ơn và tình yêu thương giữa thầy và trò.
Ta hiểu rằng: đôi khi sự quan tâm, động viên chân thành dù nhỏ bé cũng có thể trở thành niềm an ủi lớn lao cho người khác. Câu chuyện cũng nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng, ghi nhớ công lao của thầy cô, bởi chính họ là những người âm thầm gieo hạt, nuôi dưỡng ước mơ và tâm hồn của học trò.

22 tháng 12 2025

Câu 9

A,

(1) trạng ngữ"trong gian phòng" đơn thuần nêu không gian

(2) trạng ngữ mở rộng thành "trong gian phòng chan hoà ánh sáng" bổ sung thêm chi tiết ánh sáng

Tác dụng:cụ thể ,sing động hơn

B,

(1) vị ngữ đẹp chỉ mức độ bình thường

(2)vị ngữ được mở rộng bằng từ "rất"-> rất đẹp

Tác dụng:trân trọng, ngưỡng mộ

Câu 10

Em rút ra bài học sâu sắc về lòng biết ơn và lòng trân trọng với thầy cô giáo



(6.0 ĐIỂM) Đọc văn bản sau:    CHIỀU ĐỒNG NỘI Những giọt thu trong veo Rắc ngang qua đồng nội Cánh chim bay xuống chiều Nâng nắng lên kẻo mỏi Buổi chiều thu mướt xanh Cỏ thơm cùng hoa dại Cánh cò trôi nhanh nhanh Đàn trâu về chậm rãi Cánh đồng chiều thật êm Nhấp nhô đều sóng lúa Mùa thu như tay mềm Chạm lên từng thảm lụa Buổi chiều thu đồng nội Hương thơm từng dấu...
Đọc tiếp

(6.0 ĐIỂM) Đọc văn bản sau:

    CHIỀU ĐỒNG NỘI

Những giọt thu trong veo
Rắc ngang qua đồng nội
Cánh chim bay xuống chiều
Nâng nắng lên kẻo mỏi

Buổi chiều thu mướt xanh
Cỏ thơm cùng hoa dại
Cánh cò trôi nhanh nhanh
Đàn trâu về chậm rãi

Cánh đồng chiều thật êm
Nhấp nhô đều sóng lúa
Mùa thu như tay mềm
Chạm lên từng thảm lụa

Buổi chiều thu đồng nội
Hương thơm từng dấu chân
Bếp nhà ai toả khói
Gọi trăng thu xuống gần.

(Nguyễn Lãm Thắng, in trong tập Giấc mơ buổi sáng, 2017)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0,5 điểm) Ghi lại ít nhất 03 chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên xuất hiện trong bài thơ.

Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra 01 từ láy trong hai khổ thơ cuối. Nêu tác dụng của từ láy đó trong việc thể hiện nội dung.

Câu 4 (1,0 điểm) Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa nào? Nhận xét về bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong bài thơ.   

Câu 5. (1,5 điểm) Chỉ ra và phân tích tác dụng của 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ sau:

Bếp nhà ai toả khói

Gọi trăng thu xuống gần.

Câu 6. (1,5 điểm) Khi đọc bài thơ, em nhớ về kỉ niệm nào với quê hương. Kỉ niệm đó đã giúp em hiểu thêm điều gì về thông điệp tác giả muốn truyền tải? (Trình bày khoảng 05 – 07 dòng)

6
30 tháng 9 2025

Câu 1.

Văn bản trên được viết theo thể thơ 4 chữ.


Câu 2.

Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:


“Cánh chim bay xuống chiều”


“Buổi chiều thu mướt xanh”


“Nhấp nhô đều sóng lúa”


Câu 3.


Từ láy: chậm rãi


Tác dụng: Gợi tả sự thong thả, yên bình của cảnh vật và nhịp sống ở đồng quê, góp phần tạo nên không khí êm đềm, nhẹ nhàng cho bức tranh chiều thu nơi đồng nội.


Câu 4.


Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.


Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả rất trong trẻo, dịu dàng và nên thơ với màu sắc nhẹ nhàng, hương thơm của cỏ hoa, hình ảnh sống động của chim, cò, trâu và làn khói bếp – tất cả gợi nên vẻ đẹp thanh bình, gần gũi của làng quê Việt Nam.


Câu 5.


Biện pháp tu từ: Nhân hóa (“Gọi trăng thu xuống gần”)


Tác dụng: Làm cho hình ảnh làn khói bếp trở nên có hồn, như có thể trò chuyện với thiên nhiên. Qua đó thể hiện sự giao hòa giữa con người và vạn vật, tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và nên thơ của làng quê lúc chiều thu.


Câu 6.

Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều cùng bà đi chăn trâu trên cánh đồng quê, ngắm hoàng hôn buông xuống và hít hà mùi thơm của rơm rạ. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng: tác giả muốn truyền tải vẻ đẹp bình dị, thanh bình và đầy yêu thương của quê hương, nơi luôn lưu giữ những ký ức trong trẻo và gắn bó với tuổi thơ mỗi người.

24 tháng 12 2025

Caau1

Văn bản được viết theo thể thơ 5 chứ

8 tháng 12 2023

Tham khảo

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện cổ tích hay, để lại nhiều bài học sâu sắc và ý nghĩa. Truyện Tấm Cám là một trong số những tác phẩm như thế, nhân vật cô Tấm là điển hình cho vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam, vừa đẹp người lại đẹp nết, dù sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn giữ được tính cách nhân hậu, đảm đang, chính vì thế nàng đã có được hạnh phúc sau cùng.

Xây dựng lên Tấm là một cô gái mồ côi cha mẹ, phải sống với mẹ con dì ghẻ. Tấm bị bắt làm việc vất vả, nặng nhọc và bị đối xử bất công. Có thể nhận thấy được chính với hoàn cảnh Tấm tiêu biểu cho hoàn cảnh của người con riêng trong chuyện cổ tích. Thế nhưng Tấm lại có phẩm chất hiền lành, chăm chỉ chịu thương chịu khó. Tấm chính là hiện thân cho cái thiện, cái đẹp ở người lao động. Hình ảnh cô Tấm hiền lành chăm chỉ là thế nhưng phải chịu đựng, cam chịu sự đày đọa bất công của mẹ con Cám. Tấm đã phải làm việc vất vả còn Cám thì được nuông chiều. Giỏ tép do chính Tấm bắt cực nhọc lại bị Cám cướp mất, chính Cám đã cướp đi thành quả lao động của Tấm. Cho đến khi cả khi làng mở hội thì Tấm cũng ngoan ngoãn làm theo lời dì dặn mà không cãi lại cũng không dám chốn đi. Lúc này đây thì Tấm lại khóc và con người hiền lành ấy cũng được bụt giúp đỡ, khi Tấm đã trở thành hoàng hậu thì Tấm vẫn bị mẹ con Cám hãm hại hết lần này đến lần khác. Với ngôi vị hoàng hậu và cuộc sống giàu sang cũng chưa đủ để cứu Tấm khỏi âm mưu hãm hại của dì ghẻ. Thế rồi không chỉ thế Tấm đã rất nhiều lần chết đi sống lại và hóa thân vào nhiều thứ từ hóa thân thành chim vàng anh, rồi thành cây xoan đào, hay cũng là hiện hình vào khung cửi rồi vào quả thị và trở thành người. Cô Tấm luôn luôn phản kháng quyết liệt hóa thân và hồi sinh để đấu tranh giành sự sống và hạnh phúc.

Hình ảnh đẹp của Tấm mà giúp chúng ta hiểu hơn phần nào cuộc sống của người lao động trong xã hội cũ. Những con người này thấp cổ bé họng và bỗng nhiên bị trà đạp bất công và không có quyền nói lên tiếng nói của mình. Chính vì thế mà họ gửi những ước mơ của mình, niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn vào trong cổ tích bình chứa ước mơ của dân gian xưa.

15 tháng 1 2024

loading... loading... loading... 

30 tháng 9 2025

300 từ còn dc chứ 400 từ thì chịu


(5,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: Người đã cho cậu bé miền Nam cái tem thư hôm trước là người bạn mà tôi thích hơn hết. Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng, năm nay gần 14 tuổi, tên gọi Ga-ro-nê. Cậu rất tử tế, coi miệng cười thì biết. Ngoài Ga-ro-nê tôi còn quen nhiều bạn nữa. Người tử tế hơn hết, thông minh hơn hết, người chắc chắn sẽ được phần thưởng thứ nhất, ai cũng...
Đọc tiếp

(5,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

Người đã cho cậu bé miền Nam cái tem thư hôm trước là người bạn mà tôi thích hơn hết. Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng, năm nay gần 14 tuổi, tên gọi Ga-ro-nê. Cậu rất tử tế, coi miệng cười thì biết. Ngoài Ga-ro-nê tôi còn quen nhiều bạn nữa. Người tử tế hơn hết, thông minh hơn hết, người chắc chắn sẽ được phần thưởng thứ nhất, ai cũng biết được là Đe-ro-xi. Còn Pe-co-xi – con người thợ khoá, thực là một người học trò đáng thương. Theo lời người ta nói thì cậu thường bị cha đánh đập, đến nỗi cậu ấy thành ra người nhút nhát, mỗi khi hỏi ai hay lỡ chạm phải ai là cậu "xin lỗi" luôn miệng và nhìn người ta bằng đôi mắt hiền lành, buồn bã. Trong ngần ấy người bạn, theo ý tôi, thì Ga-ro-nê là người tốt hơn cả.

Chúng tôi chỉ được nghỉ có hai ngày. Ấy thế mà tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận không được gặp Ga-ro-nê. Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu. Cả lớp tôi đều có thiện cảm với cậu, trừ những đứa độc ác vì Ga-ro-nê chống lại những hành động độc ác của chúng: mỗi khi có một đứa lớn định trêu ghẹo hay hà hiếp một đứa bé, mà đứa bé gọi Ga-ro-nê đến thì đứa lớn kia buộc phải đứng yên ngay.

Bố Ga-ro-nê là thợ máy xe lửa. Vì bị ốm liền hai năm nên Ga-ro-nê đi học hơi chậm. Nhưng nay cậu là người lớn và khoẻ nhất lớp; cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi... Khoẻ vậy, mà lại tốt nữa... Ai hỏi bất cứ cái gì: cây bút, cái tẩy, tờ giấy, cậu vui vẻ cho mượn hoặc cho hẳn ngay. Thứ Bảy, cậu đã cho một học sinh lớp Một hai xu. Bởi vì cậu này để ai lấy mất tiền, không có gì để mua cuốn vở. Giờ Ga-ro-nê đang bận viết một bức thư dài tám trang trên một loại giấy có nền hoa to màu rực rỡ, để mừng sinh nhật của mẹ. Bà mẹ của Ga-ro-nê, một người cao, béo, rất dễ mến, thường hay đến trường đón con.

Trong giờ học, cậu không bao giờ nói chuyện, cũng không bao giờ gây ra một tiếng ồn. Luôn luôn ngồi im trên ghế, chiếc ghế quá hẹp đối với cậu, cậu phải cúi xuống, lưng khom khom và đầu rụt ngang vai. Mỗi khi tôi nhìn cậu thì cậu cũng nhìn tôi với đôi mắt tươi cười như muốn nói: “Chúng mình là bạn thân, phải không En-ri-cô à!”.

Tất nhiên, tôi yêu bạn Ga-ro-nê lắm! Tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình. Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không ngại liều mình để cứu một người, cậu sẽ đem hết sức mình để che chở cho bạn: cứ nhìn vào đôi mắt của Ga-ro-nê thì thấy rõ điều đó! Giọng nói của cậu tuy hơi cộc, nhưng người ta cảm thấy rằng đó là tiếng vọng của một tấm lòng cao thượng và hào hiệp.

(Trích Những lấm lòng cao cả, Edmondo De Amicis, NXB Văn học, Hà Nội, 2016)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.   

Câu 2. (0,5 điểm) Ghi lại 2 chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật Ga-ro-nê trong văn bản.

Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra 3 chi tiết thể hiện tình cảm của nhân vật “tôi” đối với Ga-ro-nê. Từ đó, em hãy rút ra nhận xét về tình cảm của “tôi” với nhân vật.  

Câu 4. (1,5 điểm) Vì sao mặc dù cả lớp đều yêu quý Ga-ro-nê nhưng vẫn có một số người không có thiện cảm với cậu? Qua đó, em có cảm nhận gì về nhân vật này?

Câu 5. (1,5 điểm) Qua văn bản, em rút ra được bài học gì cho bản thân về cách ứng xử với bạn bè? (Trình bày khoảng 5 – 7 dòng)

10
3 tháng 11 2025

Câu 1 (0,5 điểm):

Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.

👉 Tác dụng: giúp câu chuyện trở nên chân thật, gần gũi và thể hiện trực tiếp tình cảm, cảm xúc của người kể với nhân vật Ga-ro-nê.


Câu 2 (0,5 điểm):

Hai chi tiết miêu tả ngoại hình của Ga-ro-nê:

  • “Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng.”
  • “Cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi.”
    (hoặc: “Lưng khom khom và đầu rụt ngang vai.” – cũng được chấp nhận)

Câu 3 (1,0 điểm):

Ba chi tiết thể hiện tình cảm của “tôi” đối với Ga-ro-nê:

  • “Tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận không được gặp Ga-ro-nê.”
  • “Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu.”
  • “Tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình.”

Nhận xét:
→ “Tôi” có tình cảm yêu mến, kính phục và trân trọng đối với Ga-ro-nê – một người bạn tốt bụng, mạnh mẽ và cao thượng.


Câu 4 (1,5 điểm):

Vì sao có một số người không có thiện cảm với Ga-ro-nê:
→ Bởi vì Ga-ro-nê luôn chống lại những hành động độc ác của họ, bảo vệ những bạn nhỏ yếu hơn, nên những kẻ xấu trong lớp ghét và ganh tị với cậu.

Cảm nhận về nhân vật:
→ Ga-ro-nê là người dũng cảm, chính trực, nhân hậu và sẵn sàng bảo vệ lẽ phải. Cậu xứng đáng là tấm gương sáng về lòng tốt và tinh thần nghĩa hiệp.


Câu 5 (1,5 điểm):

Bài học rút ra (5–7 dòng):

Qua văn bản, em học được rằng trong tình bạn, chúng ta cần biết yêu thương, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau. Cần cư xử chân thành, dũng cảm đứng về phía điều đúng, không thờ ơ hay đồng lõa với cái xấu. Hãy giống như Ga-ro-nê – luôn sống nhân hậu, sẵn sàng chia sẻ và quan tâm đến người khác. Khi biết nghĩ cho bạn bè, ta không chỉ làm người khác vui mà còn khiến bản thân trở nên tốt đẹp hơn.

19 tháng 12 2025

Câu1:ngôi kể thứ nhất

Câu2 hai chi tiết miêu tả ngoại hình của Nhân ga _ro_nê là

_cậu ấy lớn nhất lớp đầu to vai rộng

_lưng khom khom và đầu rụt ngang vai

câu3 Hà nêu được 3 trong sồ các chi tiết thể hiện tình cảm của nhân vật tôi với ga _ro_nê sau+người đã cho cậu bé miền Nam cả tem

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có biết bao sự kiện hào hùng gắn với những con người kiên cường. Một trong những sự kiện mà em ấn tượng nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” gắn liền với tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đầu năm 1954, thực dân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ở vùng Tây Bắc, hòng cắt đứt đường liên lạc của ta và biến nơi đây thành “pháo đài bất khả xâm phạm”. Trước tình thế đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Ban đầu, kế hoạch là “đánh nhanh, thắng nhanh”, nhưng khi thấy tình hình chưa thật thuận lợi, Đại tướng đã can đảm ra quyết định chuyển phương châm sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định ấy đã thể hiện tầm nhìn sáng suốt và bản lĩnh vững vàng của vị Tổng tư lệnh.

Suốt 56 ngày đêm, quân và dân ta đã kiên cường chiến đấu. Những chiếc xe kéo pháo qua đèo dốc, những đoàn dân công gùi gạo, gùi đạn vượt núi rừng hiểm trở là hình ảnh không thể nào quên. Ngày 7/5/1954, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries – tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn sụp đổ. Chiến thắng này buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.

Sự kiện Điện Biên Phủ không chỉ là mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc ta mà còn là niềm tự hào của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Qua chiến thắng này, em càng khâm phục Đại tướng Võ Nguyên Giáp – một vị tướng tài ba, đồng thời là người học trò xuất sắc của Bác Hồ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ để lại cho em bài học quý giá: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nếu có lòng dũng cảm, sự kiên trì và niềm tin vào chính nghĩa, chúng ta nhất định sẽ giành thắng lợi. Em tự nhủ phải cố gắng học tập, rèn luyện để xứng đáng với thế hệ cha ông đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

3 tháng 11 2025

Bài làm

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, có nhiều tấm gương thiếu niên dũng cảm đã hy sinh vì Tổ quốc. Trong số đó, em rất khâm phục anh Kim Đồng, người đội viên đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1929, người dân tộc Nùng, quê ở xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Khi Cách mạng Việt Nam còn hoạt động bí mật, anh được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho cán bộ Việt Minh. Dù tuổi còn nhỏ, Kim Đồng luôn tỏ ra nhanh nhẹn, mưu trí và rất dũng cảm. Anh thường vượt qua những con đường rừng hiểm trở, mang thư, chuyển tin, đưa đón cán bộ cách mạng an toàn.

Một lần, khi đang làm nhiệm vụ, Kim Đồng bất ngờ bị lính Pháp phát hiện. Để bảo vệ đồng đội, anh đã nhanh trí chạy hướng khác, đánh lạc hướng địch. Khi bọn lính nổ súng truy đuổi, anh vẫn kiên cường chạy đến nơi an toàn để báo tin. Nhưng do bị trúng đạn, Kim Đồng đã anh dũng hy sinh khi mới 14 tuổi. Sự hi sinh của anh khiến ai cũng thương tiếc và khâm phục.

Hình ảnh Kim Đồng mãi là biểu tượng đẹp của lòng dũng cảm, trung thành và tinh thần yêu nước. Mỗi lần nghe kể về anh, em cảm thấy vô cùng xúc động và tự hào. Em tự nhủ sẽ noi gương Kim Đồng – luôn chăm học, biết giúp đỡ bạn bè, và sống có trách nhiệm với Tổ quốc.

2 tháng 9 2025

Câu 1:

  • Thể thơ: Thơ lục bát.
  • Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.

Câu 2: Đoạn trích thể hiện tình cảm yêu thương, kính trọng, nhớ thương và lòng biết ơn tha thiết của người con đối với mẹ. Tác giả bày tỏ nỗi xót xa khi không còn mẹ bên đời, đồng thời khẳng định dù trưởng thành hay già đi thì vẫn luôn cần có mẹ.

Câu 3: (Đoạn văn 3-5 câu)
Thông điệp em tâm đắc nhất là: Dù ở bất cứ lứa tuổi nào, con người vẫn luôn cần có mẹ. Bởi mẹ là điểm tựa tinh thần vững chắc, là nguồn yêu thương vô điều kiện nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người. Khi đọc đoạn thơ, em càng thêm trân trọng công lao, tình yêu thương của mẹ và tự nhắc nhở bản thân phải biết yêu thương, hiếu kính với mẹ khi còn có thể.

Câu 1: Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính

  • Thể thơ: Đoạn trích được viết theo thể thơ bốn câu (tứ tuyệt), mỗi câu 7 chữ, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
  • Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, thể hiện tình cảm sâu sắc của người con đối với mẹ.

Câu 2: Tình cảm của tác giả đối với mẹ được thể hiện như thế nào?

  • Tác giả thể hiện tình cảm thương yêu, nhớ nhung và sự cô đơn khi mẹ vắng mặt.
  • Có cảm giác nuối tiếc, đau xót khi mẹ đã “xa” (mất đi), câu thơ “lỏng chỏng giữa nhà mồ côi” gợi lên sự trống trải, cô đơn.
  • Dù đã lớn tuổi, tác giả vẫn khẳng định “Con vẫn cần mẹ như thời trẻ thơ” – tình cảm gắn bó và tôn trọng mẹ suốt cuộc đời.

Câu 3: Thông điệp em tâm đắc nhất qua văn bản là gì? Nêu lí do chọn thông điệp đó.

Đoạn văn mẫu:
Thông điệp mà em tâm đắc nhất là tình mẫu tử thiêng liêng và sự cần thiết của mẹ trong cuộc đời mỗi người. Dù con người có lớn lên, trưởng thành hay trải qua bao nhiêu khó khăn, thì sự hiện diện và tình yêu thương của mẹ vẫn luôn là điều không thể thiếu. Em chọn thông điệp này vì nó giúp em hiểu rõ hơn về giá trị của gia đình và lòng biết ơn đối với công lao của mẹ.

Bài 1. Đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi: '” Vào đêm trước ngày khai trường của con, mẹ không ngủ được. Một ngày kia, còn xa lắm, ngày đó con sẽ biết thế nào là  không ngủ được. Còn bây giờ giấc ngủ đến với con nhẹ nhàng  như uống một ly sữa, ăn một cái kẹo. Gương mặt thanh thoát  của em tựa nghiêng trên gối mềm. Đôi môi hé mở thỉnh  thoảng chúm lại như đang mút...
Đọc tiếp

Bài 1. 

Đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi: 

'” Vào đêm trước ngày khai trường của con, mẹ không ngủ được. Một ngày kia, còn xa lắm, ngày đó con sẽ biết thế nào là  không ngủ được. Còn bây giờ giấc ngủ đến với con nhẹ nhàng  như uống một ly sữa, ăn một cái kẹo. Gương mặt thanh thoát  của em tựa nghiêng trên gối mềm. Đôi môi hé mở thỉnh  thoảng chúm lại như đang mút kẹo". 

Câu 1: Đoạn trích trên trich trong văn bản nào? Của tác giả nào? 

Câu 2: Nêu ngắn gọn nội dung chính của đoạn trích trên 

Câu 3: Xác định trạng ngữ có trong đoạn văn trên. Các trạng  ngữ vừa tìm bổ sung cho nòng cốt câu về ý nghĩa gì? 

Câu 4:Tìm từ láy, từ ghép có trong đoạn văn trên? 

Câu 5: Trong đoạn văn tâm trạng của người mẹ và người con  có gì khác nhau ? 

 
2
26 tháng 9 2021

Câu 1:Đoạn trích trên trong văn bản"Cổng trường mở ra"của Tác giả Lý Lan!

Câu 2:+Hình thức tự bộc bạch như nhật kí của mẹ nói với người con!

           +Sử dụng ngôn ngữ biểu cảm!

Câu 3:Trạng ngữ là"Vào đêm trước ngày khai trường của con"!!.Nhằm ám chỉ một ngày rất quan trọng với con mình!

Câu 4:Từ láy:Thanh thoát,nhẹ nhàng,thỉnh thoảng,đôi môi!

           Từ ghép:Khai trường.....

Câu 5:Người con:

          +Mẹ chỉ dỗ một lát là ngủ!!

         Người mẹ:Trằn trọc ko ngủ được!

9 tháng 4 2024

văn bản cổng trường mở ra- Lý Lan 

7 tháng 10 2025

lớp mấy z mom

7 tháng 10 2025

7 ạ


Phải biết sống có ý tứ. Phải sống khôn ngoan. Phải biết ứng xử một cách văn minh. lịch sự, sống có nhân cách văn hóa. Muốn thế thì phải “học”: “Học ăn, học nói, học gói, học mở’. Có nhiều điểu phải “học”, nhưng điều trước hết là học cách ăn nói trong giao tiếp, ứng xử, phải biết “liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau”. “Học ăn, học nói, học gói, học mở’’ để tránh thô lỗ, tục tằn trong ứng xử. Vì thế mới có câu ví, câu ca:

“Đất tốt trồng cây rườm rà,

Những người thanh lịch nói ra dịu dàng.

Đất xấu trồng cây khẳng khiu,

Những người thô tục nói điều phàm phu ”

26 tháng 4 2021

Học ăn, học nói, học gói, học mở là câu tục ngữ nói về những điều cơ bản trong cuộc sống mà con người ta phải học để có được cách ăn ở, giao tiếp, cách đối nhân xử thế sao cho lịch sự, tế nhị, văn minh.