Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu hỏi :
Dịch nghĩa từ : гэрийн нохойг уншаарай
Trả lời :
Đọc chó về nhà
P/S : Mk cx ko chắc nx , nhưng bn nên cho bt từ đó là tiếng nước nào chứ !!!!
sai rồi phải là
ĐỌC LÀ CON CHÓ
đó là tiếng MÔNG CỔ
Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.
Dịch ra tiếng việt:
Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.
Dịch ra tiếng anh:
What am I Dressing up the feathers with a long feather. I usually have hot and wet wires working in the environment. At work, I work forward, pushing forward, I hit the white. Usually work 1-3 times a day, but unfortunately sometimes I can not use it.
1. tất cả các tháng có 28 ngày
2. mày chết rồi à ,.....................
3. chọn phòng thứ 3 là an toàn
1.Tất cả các tháng có 28 ngày
2.Mày chết rồi à ......................
3.Ba = Bố , Bố . n Bốn
4. Chọn phòng số 3 an toàn vì con sư tử kia chết rồi
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
Tham khảo ạ !!
Con người ta sinh ra và lớn lên, ai lại không một lần ước mơ, dù là ước mơ thật bình thường, thật đơn giản và ai cũng có những khát vọng, có niềm tin và có lý tưởng để sống nhất là đối với tuổi trẻ của chúng ta, lứa tuổi người ta cho là đẹp nhất thì ước mơ và lý tưởng lại bộc lộ rõ nét, có lúc lại đan xen với nhau, có lúc lại là một cuộc đấu tranh dằn vặt. Ai cũng biết, tuổi trẻ bao giờ cũng vươn tới cái hay nhất, cái đẹp nhất. Đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời biết bao điều mới lạ đặt ra đòi hỏi phải nhận thức và xử lý. Đâu sẽ là sống đẹp, sống có ích? Tiền đề tươi sáng? Thế nào là hạnh phúc, là ước mơ cao đẹp?
“Sống đẹp” không phải là một cái gì to lớn lắm, nó rất gần gũi với chúng ta, đó không phải là những lý lẽ, những lời nói suông, nhưng phương châm trên giấy, sách vở … mà đó là những việc làm, những hành động cụ thể diễn ra hàng ngày trong đời sống của chúng ta. Ðịnh nghĩa về “Sống đẹp” sẽ có rất nhiều cách khác nhau; Đó là sống có đạo đức trong sáng và bản lĩnh vững vàng, có lý tưởng và sống hết mình vì lý tưởng, chỉ khi xác định được điều đó ta mới sống và làm việc thật sự có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
Có thể hiểu “Sống đẹp” là sống có ích, là sống có lý tưởng, có bản lĩnh vững vàng, có mục tiêu phấn đấu rõ ràng, trong sáng. Chỉ khi xác định được điều đó ta mới sống và làm việc thật sự có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Bản thân tôi nghĩ rằng bản thân mỗi người nên cố gắng hoàn thành tốt công việc mình đang làm cũng là sống đẹp
Trong thực tế, rất có thể có một số bạn trẻ nghĩ “Sống đẹp” là một khái niệm xa vời, khó thực hiện; tuy nhiên, nếu nhìn thẳng và sâu vào vấn đề này trong thời kỳ đất nước đổi mới tiến vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa ta thấy điều đó thật sự không có gì xa lạ, khó thực hiện; mà trái lại nó tồn tại ngay trong cách nghĩ, cách làm hay nói gần hơn là trong cách ăn nói, ứng xử trong lao động, công tác, học tập và đời sống thường nhật của mỗi con người. Nếu như trong chiến tranh, lớp lớp cha anh ta đã sống và cống hiến quên mình cho nền độc lập dân tộc, tính mạng con người và cuộc sống hạnh phúc cá nhân là rất qúy giá, nhưng tất cả đều được tình nguyện gác lại, tình nguyện hy sinh, họ sẵn sàng đánh đổi những gì là riêng tư nhất để đổi lấy nền độc lập dân tộc. Họ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” khi tuổi đời còn rất trẻ và cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp chung của Tổ quốc. Khi Tổ quốc cần, họ đã tự nguyện ra đi, chiến đấu và hy sinh anh dũng. Đó là sự dấn thân, cống hiến hoàn toàn tự nguyện khi bản thân đã hiểu thế nào là lẽ sống của mộ t con người và lý tưởng của Người Cộng sản. Họ đã có niềm tin tuyệt đối vào độc lập tự do, có lý tưởng cao cả vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vô tư dâng hiến tuổi trẻ và cuộc đời cho đất nước. Niềm tin và lý tưởng ấy được bồi đắp và khích lệ mạnh mẽ bởi sự hy sinh lớn lao và nhân cách cao cả của bộ máy lãnh đạo mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Biết bao nhiêu anh hùng, liệt sĩ đã nghĩ và hành động như vậy. Ngày hôm nay, sống giữa đất trời hoà bình,
khi chiến tranh đã lùi xa, phần lớn mọi sự so sánh giữa thời chiến tranh với thời hiện tại đều có rất nhiều sự khác biệt, nhưng có một điểm chung rất thống nhất trong tình cảm và lí trí của thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay chính là: lý tưởng cách mạng và khát vọng sống, cống hiến cho quê hương, đất nước. Bởi tôi nghĩ, ở mỗi con người nhu cầu khẳng định mình là rất lớn; nhất là ở tuổi trẻ, bởi dù trong bất cứ hoàn cảnh nào các bạn trẻ cũng luôn luôn khát khao được thực hiện những ước mơ và khát vọng của bản thân. Nếu như những ước mơ, khát vọng, niềm tin và lý tưởng ấy được quan tâm, chăm sóc, giáo dục và khơi dậy sẽ biến nó thành sức mạnh to lớn để phát triển đất nước và sẽ là những đoá hoa thơm có ích giữa cuộc đời như lời Bác đã khẳng định khi tham dự Đại hội Đoàn lần thứ III năm 1961 “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”.
“Sống đẹp” là chúng ta phải biết dung hoà mọi mặt: môi trường sống và làm việc, quan hệ xã hội, gia đình … Một hành động giúp đỡ người già cả, tàn tật, người gặp khó khăn hoạn nạn; một phong trào cứu trợ đồng bào bị thiên tai; một phong trào đền ơn đáp nghĩa rộng khắp; những lớp học tình thương đem ánh sáng văn hoá đến với trẻ em nghèo … tất cả những việc làm ấy là kết quả của một cách sống coi trọng nhân nghĩa. Chúng ta thật sự cảm động khi bắt gặp rất nhiều
Cuộc sống của con người thật đa dạng và mỗi người đều có một quan điểm riêng của mình về cuộc sống. Có người chỉ biết sống cho riêng mình, cho hiện tại mà chẳng cần biết đến kẻ khác, chẳng biết ngày mai sẽ ra sao. Nhưng cũng có rất nhiều người luôn suy nghĩ, trăn trở về cuộc sống làm thế nào để có một cuộc sống đẹp theo đúng ý nghĩa của nó.
Cuộc sống của con người thật đa dạng và mỗi người đều có một quan điểm riêng của mình về cuộc sống. Có người chỉ biết sống cho riêng mình, cho hiện tại mà chẳng cần biết đến kẻ khác, chẳng biết ngày mai sẽ ra sao. Nhưng cũng có rất nhiều người luôn suy nghĩ, trăn trở về cuộc sống làm thế nào để có một cuộc sống đẹp theo đúng ý nghĩa của nó. Nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ Một khúc ca xuân cũng đã từng bâng khuâng: “Ôi sống đẹp đẹp là thế nào hỡi bạn”.
“Sống đẹp” là cách sống không phải chỉ biết sống cho riêng mình, sống theo lối sống cá nhân, ích kỉ, đi ngược lại đạo lí làm người… mà “sống đẹp” là một cách sống biết hi sinh, vị tha, biết đấu tranh cho hạnh phúc của người khác, tức là phải luôn luôn sống theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “mình vì mọi người, mọi người vì mình”.
“Sống đẹp ” còn là cách sống luôn hướng về một mục đích, một lí tưởng cao đẹp, luôn gắn bó cuộc đời mình với đất nước với nhân dân. Cách sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một minh chứng hùng hồn cho cách sống đẹp. Vì thiết tha với đất nước, với nhân dân nên cả cuộc đời Bác phải trải qua biết bao nhiêu hi sinh, gian khổ để đấu tranh cho nền độc lập, tự do của đất nước, cho hạnh phúc của nhân dân: “Chỉ biết quên mình cho hết thảy – Như dòng sông chảy nặng phù sa" như nhà thơ Tố Hữu đã nói.
Người có cách sống đẹp là người có tâm hồn, tình cảm lành mạnh, có ước mơ trong sáng, có niềm tin và nghị lực vượt qua bao sóng gió của cuộc đời để vươn đến một tương lai tươi sáng. Qua bao kì thi tuyển sinh vào Đại học ta đã thấy có nhiều học sinh con nhà nghèo thiếu sách vở, thiếu thời gian vì còn phải làm việc để phụ giúp gia đình nhưng nhờ có tinh thần hiếu học, luôn nỗ lực trong cuộc sống và học tập nên đã trở thành thủ khoa trong những kì thi tuyển sinh đại học ấy.
“Sống đẹp” sẽ đem lại cho chúng ta một cuộc sống thật vô cùng ý nghĩa. “Sống đẹp" sẽ làm cho cuộc sống của chúng ta trong sáng, thanh cao hơn, góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn, đẩy lùi cái xấu, phát huy cái tốt, làm cho người gần người hơn, đời sống tinh thần ngày càng phong phú văn minh hơn.
Người học sinh sống đẹp là phải biết chăm chỉ học tập, có đạo đức tót, hiếu thảo với cha mẹ, lễ phép với thầy cô, thân ái, hòa nhã với bạn bè, biết nghe theo những lời hay, lẽ phải mà cha mẹ và thầy cô thường dạy bảo. Hơn nữa một người học sinh sống đẹp là người học sinh ấy phải trung thực trong học tập, không quay cóp trong khi làm bài, không xả rác trong lớp học và nơi công cộng, phải biết yêu thương, trân trọng, giúp đỡ những người nghèo khổ, tàn tật, phải biết bênh vực và đấu tranh cho lẽ phải, không tham gia vào các vụ bạo lực học đường.
Hơn nữa, khi chúng ta sống đẹp, được mọi người thương yêu, trân trọng thì khi chúng ta gặp rủi ro, hoạn nạn, chúng ta sẽ được mọi người cứu giúp, cưu mang, đùm bọc để chúng ta vượt qua những rủi ro hoạn nạn ấy.
Tóm lại, “Sống đẹp” là biểu hiện cách sống của một con người có văn hóa. Sống đẹp: làm cho nhân cách của chúng la ngày càng hoàn thiện hơn, góp phần làm cho cuộc sống xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Muốn sống đẹp chúng ta phải luôn đấu tranh với cái ác, cái xấu, tư tưởng cá nhân ích kỉ, tầm thường, nhỏ hẹp; phát huy cái tốt, cái thiện và phải biết trân trọng cái đẹp.
Khó tiêu,đầy hơi
Nhớ tích cho mình nha🥰🥰
câu 1.
-văn bản thuộc thể loại truyền kì (truyện truyền kì trung đại).
Câu 2:
- Truyện viết về đề tài người phụ nữ trong xã hội phong kiến
Câu 3
-yếu tố kì ảo: linh hồn đinh hoàn hiện về gặp phu nhân; ông về chầu thiên đình, trông coi việc bút nghiên nơi thiên tào; sự giao hòa giữa cõi sống và cõi chết.
-tác dụng: +)làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện; thể hiện khát vọng đoàn tụ và tình nghĩa vợ chồng vượt qua ranh giới sinh tử
+)góp phần làm nổi bật vẻ đẹp thủy chung, trinh liệt của người phụ nữ.
Câu 4
-Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố: làm cho văn bản mang tính trang trọng, bác học; giúp khắc họa sâu sắc phẩm chất đạo đức của nhân vật; đặt câu chuyện trong hệ thống giá trị văn hóa quen thuộc của văn học trung đại.
-Điển tích gây ấn tượng: ngưu lang – chức nữ, vì điển tích này thể hiện rõ nỗi chia lìa và khát vọng đoàn tụ của những người yêu nhau, phù hợp với bi kịch và tâm trạng của phu nhân.
Câu 5
-Sự kết hợp các cõi: cõi trần gian (đời sống gia đình, lễ tiểu tường), cõi âm (linh hồn đinh hoàn hiện về), cõi thiên giới (thiên đình, thiên tào).
-Tác dụng: mở rộng không gian nghệ thuật, làm mờ ranh giới giữa sự sống và cái chết; nhấn mạnh sự bền vững của tình nghĩa vợ chồng; tăng tính linh thiêng cho câu chuyện và làm cơ sở cho việc phu nhân được phong tặng, lập đền thờ.
Câu 1: Thể loại:Truyện truyền kì
Câu 2:Đề tài: Người phụ nữ
CÂU 3: Yếu tố kì ảo:
+Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ,trò chuyện với phu nhân ở trong mộng
+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng
- Tác dụng:
+Làm tăng sức hấp dẫn li kì cho câu chuyện
+Thể hiện sự tôn vinh,lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh,trân trọng. Chính vì thế,sự linh ứng cho thấy niền tin tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà
Câu 4:
Câu 1: thể loại truyện truyền kì
Câu 2: đề tài người phụ nữ
Câu 3:yếu tố kì ảo
+ Hồn Đinh Hoàng hiện về gặp gỡ trò chuyện với phu nhân ở trong mộng và người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng
-Tác dụng:
+Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.
+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà.
Câu 4.
-Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.
*Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Định Hoàn, dù "chặt vai" hay "khoét mắt" thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thể đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.
Câu 5.
- Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng. Cụ thể:
+ Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.
+ Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.
Tác dụng của việc xây dựng không gian: Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng:
+ Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.
+ Khắc hoạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này – rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khẳng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.,
câu 1: văn bản thuộc thể loại: Truyện truyền kì
câu 2: Đề tài : Người phụ nữ
câu 3: -Yếu tố kì ảo:
+Hồn Đinh Hoàn hiện vêc gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng
+ Người dân cầu đảo tại điền thờ phu nhân đều có linh ứng
Tác dụng:
- tạo sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện
- thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về Đức Hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hóa mà nhân dân dành cho bà
câu 4: Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.
Câu 1 Thể loại: Truyện truyền kì. Câu 2. Để tài: Người phụ nữ.
Câu 1 : Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì
Câu 2: Đề tài : Người phụ nữ
Câu 3 : Yếu tố kì ảo :
+ Hồn Đinh Tiên Hoàng hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân trong mộng
+Người dân cầu đảo tạo đền thờ Phu nhân đều thấy có linh ứng
-Tác dụng :
+Làm tăng sức hấp dẫn , li kì cho câu chuyện
+ thể hiện sự tôn vinh , lý tưởng hoá nhân vật phu nhân ; Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh , được người đời tôn vinh , trọng vọng . Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hóa mà nhân dân dành cho bà
Câu 4 : -Tác dụng của việc sử dụng điên tích điển cố trong văn bản : Gia tăng tính hàm súc, uyên bác , trang nhã cho văn bản , đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú , giàu cảm xúc
Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng
Câu 1 : thể loại truyền kì
Câu 2 : đề tài người phụ nữ
Câu 3. (1,0 điểm) – Yếu tố kì ảo: + Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng. + Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng – Tác dụng: + Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện. +Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà.
Câu 4. – Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản. • Khắc họa sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này – rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khẳng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.
– Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng. Cụ thể: • Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ. • Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân. – Tác dụng của việc xây dựng không gian: Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng: • Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện. • Khắc họa sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này – rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khẳng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.
câu 1 : truyện truyền kì
câu 2 : đề tài người phụ nữ
Câu 1: Truyện truyền kì
Câu 2: Đề tài: người phụ nữ
Câu 3: -yếu tố kì ảo:
+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân trong mộng
+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng
- Tác dụng:
+ Làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu văn
+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tươngr hoá nhân vật phu nhân
Câu 4: -Tác dụng của việc sử dụng điển tích điển cố trong văn bản: gia tăng tính hàm súc, uyên bác; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú
-Em ấn tượng với điển tích “chặt vai” vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Đối với vai phu nhân của Định Hoàn, dù “chặt vai” hay “khoét mắt” thì thân xác, sự sống vẫn còn. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành của phu nhân dành cho Đinh Hoàn
Câu5: - Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên. Cụ thể:
+ Không gian cõi trần: đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ
+ không gian cõi tiên: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân
- Tác dụng của việc xây dựng không gian: sự kết hợp giữa cõi trần và cõi tiên có tác dụng:
+ góp phần làm tăng tính kì ảo, huyền bí, tăng sức hấp dẫn
+ khắc hoạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện. Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi tiên, không gian ấy tô đậm thêm tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật, từ đó thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này-rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động
Câu 1 :
Câu 1 Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kỳ
Câu 2 Văn bản trên viết về đề tài : Người phụ nữ
Câu 3 – Yếu tố kì ảo:
+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.
+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng .
Tác dụng:
+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.
+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà.
Câu 4 -Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.
-Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình.Song, đối với phu nhân của Định Hoàn, dù "chặt vai" hay "khoét mắt" thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thể đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.
Lau 1. thể loại
Thể loại: Truyện truyền kì.
Câu 2. (0,5 điểm)
Đề tài: Người phụ nữ.
Câu 3. (1,0 điểm)
- Yếu tố kì ảo:
+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.
+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.
- Tác dụng:
+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.
+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự
Linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tướng hoa mà nhân dân dành cho bà.
Câu 4
Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Định Hoàn, dù "chặt vai" hay "khoét mắt" thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thế đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.
Câu 5.
Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng.
+ Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.
+ Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên
Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.
- Tác dụng của việc xây dựng không gian:
Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng:
+ Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.
+ Khắc họạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này - rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố găng đế được tái hợp với phu quân, khăng định sự thuy chung, trinh liệt của người phụ nữ.
Câu 1. (0,5 điểm) Thể loại: Truyện truyền kì. Câu 2. (0,5 điểm) Đề tài: Người phụ nữ. Câu 3. (1,0 điểm) Yếu tố kì ảo: + Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng. + Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng. Tác dụng: + Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện. + Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà. Câu 4. (1,0 điểm) - Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc. – HS chỉ ra điển tích, điển cố mà HS ấn tượng và đưa ra kiến giải phù hợp. Ví dụ: Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai"
câu 1
thể loại truyện truyền kì
câu 2:
đề tài : người phụ nữ
câu 3
-Yếu tố kì ảo:
+ Hồn Đing Hoàn hiện về gặp gỡ trò chuyện với phu nhân ở trong mộng
+ Người dân cầu đaor tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng
- Tác dụng :
Làm tăng sức gợi hình gợi cảm hấp dẫn li kì cho câu chuyện
+ Thể hiện sự tôn vinh lý tưởng hoá nhân vật phu nhân bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh được người tôn vinh trọng vọng chính vì thế sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tươngr hoá mà nhân dân dành cho bà
câu 4
-Tác dụng của việc sử dụng điển tích điển cố trong văn bản gia
Câu 1. Thể loại: Truyện truyền kì. Câu 2.Đề tài: Người phụ nữ. Câu 3.Yếu tố kì ảo: + Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng. + Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng. Tác dụng: + Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện. + Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà. Câu 4. Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc. Câu 5 Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng. Cụ thể: Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thụ có gió vàng tiếng ve trời đất chỉ có
câu 1
Thể loại truyện truyền kì
câu 2
đề tài người phụ nữ
câu 3
yếu tố kì ảo: + Hồn đinh hoàng hiện về gặp gỡ trò chuyện với phu nhân ở trong mộng
Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng
Tác dụng: làm tăng sức hấp dẫn li kì trong câu chuyện
Thể hiện sự tôn vinh lys tưởng hoá nhân vật phu nhân: bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh được người đời tôn vinh trọng vọng. Chính vì thế sự linh ứng cho thấy niềm tin và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà
Câu 4
Tác dụng của việc sử dụng điển tích điển cố trong văn bản: gia tăng tính hàm súc uyên bác trang nhã cho văn bản đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú giàu cảm xúc
Em ấn tượng nhất với điển tích chặt vai vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Định Hoàn, dù “chặt vai” hay “k
Câu 1
Thể loại: Truyện truyền kì
Câu2
Đề tài: Người phụ nữ
Câu 3
-Yêú tố kì ảo:
+ Hồn đinh Hoàn hiện về gặp gỡ,trò chuyện với phụ nhân ở trong mộng.
+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.
-Tác dụng :
Làm tăng sức hấp dẫn ,lí kì cho câu chuyện
+ Thể hiện sự tôn vinh,trọng vọng .Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sưh lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà.
Câu 4
-Tác dụng của việc sử dụng điển tích,điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc,uyên bác,trang nhã cho văn bản ; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phóng phú , giàu cảm súc.
Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vải" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình yêu thương sâu sắc.Do đó điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yên chân thành,mạnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn
Câu 5:
-không gian cõi trần : Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn;không gian mùa thu có gió vàng tiếng về trời đất chỉ có sưong mù ,trăng mờ.
+Không gian cõi tiên/cõi mộng :Thiên Đình ,noie thiên tào nhiều công việc;không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phụ nhân.
-Tác dụng của việc xây dựng không gian :Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng :
+Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo ,huyền bí cho không gian nghên thuật ,làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện
+Khắc hoạ sâu sắc đề tài ,chủ đề của truyện:Qua cuộc gặp gỡ của Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/cõi tiên,không gian ấy tô đậm hơn tình yêu nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó ,thúc đẩy cốt truyện ,hợp thức hóa cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này -rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động,cố gắng định sự thủy chung,trinh liệt của người phụ nữ
Câu 1. (0,5 điểm) Thể loại: Truyện truyền kì. Câu 2. (0,5 điểm) Đề tài: Người phụ nữ. Câu 3. (1,0 điểm) – Yếu tố kì ảo: + Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng. + Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng. Tác dụng: + Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện. + Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà. Câu 4. (1,0 điểm) Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.
Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Định Hoàn, dù "chặt vai" hay "khoét mắt" thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thể đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn. Câu 5. (1,0 điểm) Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng. Cụ thể: + Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ. + Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân. – Tác dụng của việc xây dựng không gian: Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng: + Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì (văn xuôi tự sự trung đại, có yếu tố kì ảo).
Câu 2.
Văn bản viết về đề tài tình nghĩa vợ chồng và phẩm hạnh người phụ nữ, đồng thời ca ngợi kẻ sĩ trung quân ái quốc, hết lòng vì việc nước.
Câu 3.
Yếu tố kì ảo trong văn bản được thể hiện qua chi tiết:
Phu nhân mộng gặp hồn Đinh Hoàn – người chồng đã mất – từ cõi Thiên Đình trở về trò chuyện, an ủi vợ.
Tác dụng:
Tạo nên màu sắc huyền ảo, li kì đặc trưng của truyện truyền kì.Thể hiện sâu sắc nỗi đau, sự nhớ thương và tinh cảm thủy chung của phu nhân.
Làm cho câu văn trở nên sinh động và hấp dẫn, logic hơn
Góp phần làm nổi bật tư tưởng: tình nghĩa vợ chồng vượt qua ranh giới sống – chết, trần gian – cõi khác.
Câu 4.
Văn bản sử dụng nhiều điển tích, điển cố như: Lục Châu, người trinh nữ (Vọng phu), Thuấn phi, Chức nữ, Vi Ngọc Tiên, Dương Thái Chân…
Tác dụng:
Tăng tính trang trọng, cổ kính, giàu giá trị văn hóa cho tác phẩm.Giúp nhân vật bộc lộ tâm trạng, quan niệm sống một cách hàm súc, sâu sắc.Khẳng định lý tưởng thủy chung, trung trinh theo quan niệm đạo đức phong kiến.
Làm cho câu văn trở nên sinh động và hấp dẫn hơn
Điển tích gây ấn tượng: Chức nữ – Ngưu Lang, vì gợi niềm hy vọng đoàn tụ, làm nổi bật khát vọng được gặp lại chồng của phu nhân, dù chỉ trong mộng.
Câu 5.
Không gian nghệ thuật trong văn bản là sự kết hợp giữa cõi trần gian và cõi siêu nhiên:
Trần gian: cảnh sinh hoạt gia đình, lễ tiểu tường, nỗi đau mất chồng.
Siêu nhiên: Thiên Đình, hồn Đinh Hoàn hiện về trong giấc mộng.
Tác dụng:
Mở rộng chiều sâu không gian nghệ thuật.Thể hiện quan niệm truyền thống về sự giao hòa giữa âm – dương.
Tăng sức biểu cảm cho bi kịch tình yêu và sự thủy chung son sắt của nhân vật phu nhân.
Câu 1.Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì (truyền kì trung đại)
Câu 2.
Văn bản viết về đề tài ca ngợi người phụ nữ tiết hạnh, thủy chung, đồng thời thể hiện tinh thần ngợi ca đạo nghĩa, tình nghĩa vợ chồng trong xã hội phong kiến
Câu 3.Yếu tố kì ảo trong văn bản:
Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp vợ.
Sau khi mất, phu nhân được triều đình lập đền thờ, cầu đảo đều linh ứng
Tác dụng:
Làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, li kì. Góp phần thể hiện rõ vẻ đẹp phẩm hạnh, sự thủy chung của người liệt nữ.
Thể hiện quan niệm “ở hiền gặp lành”, công – tội được đánh giá vượt ra ngoài cõi trần gian.
Câu 4.Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố:
Tăng tính trang trọng, cổ kính cho văn bản.
So sánh, khẳng định đức hạnh và tình nghĩa của phu nhân ngang với những tấm gương tiết liệt nổi tiếng trong lịch sử.
Thể hiện vốn hiểu biết uyên bác của tác giả.
Điển tích/điển cố ấn tượng: Nàng Lục Châu, Chức Nữ
→ Vì các điển tích này đều gắn với hình ảnh người phụ nữ chung tình, sẵn sàng hi sinh vì tình nghĩa, rất phù hợp để làm nổi bật nhân vật phu nhân.
Câu 5.Sự kết hợp các cõi trong không gian nghệ thuật:
Cõi trần: cuộc sống của phu nhân sau khi chồng mất.
Cõi âm – cõi siêu nhiên: hồn Đinh Hoàn hiện về, sự linh ứng của đền thờ.
Chi tiết thể hiện:
Cuộc gặp gỡ giữa phu nhân và hồn chồng.
Việc phu nhân qua đời và được phong làm “Trinh liệt”
câu 1.
-Thể loại truyền kì (truyện truyền kì trung đại).
Câu 2:
- Truyện viết về đề tài người phụ nữ trong xã hội phong kiến
Câu 3
-yếu tố kì ảo: linh hồn đinh hoàn hiện về gặp phu nhân; ông về chầu thiên đình, trông coi việc bút nghiên nơi thiên tào; sự giao hòa giữa cõi sống và cõi chết.
-Tác dụng: +)Làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện; thể hiện khát vọng đoàn tụ và tình nghĩa vợ chồng vượt qua ranh giới sinh tử
+)Góp phần làm nổi bật vẻ đẹp thủy chung, trinh liệt của người phụ nữ, thể hiện sự tôn vinh, lí tưởng hoá của nhân vật phu nhân.
Câu 4:
-Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố: làm cho văn bản mang tính trang trọng, bác học, tăng tính hàm súc, trang trọng; giúp khắc họa sâu sắc phẩm chất đạo đức của nhân vật; đặt câu chuyện trong hệ thống giá trị văn hóa quen thuộc của văn học trung đại.
-Điển tích gây ấn tượng: ngưu lang – chức nữ, vì điển tích này thể hiện rõ nỗi chia lìa và khát vọng đoàn tụ của những người yêu nhau, phù hợp với bi kịch và tâm trạng của phu nhân.
Câu 5
-Sự kết hợp các cõi: cõi trần gian (đời sống gia đình, lễ tiểu tường), cõi âm (linh hồn đinh hoàn hiện về), cõi thiên giới (thiên đình, thiên tào).
-Tác dụng:
+ Góp phần tăng tính kì ảo, huyền bí, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.
+ Mở rộng không gian nghệ thuật, làm mờ ranh giới giữa sự sống và cái chết; nhấn mạnh sự bền vững của tình nghĩa vợ chồng; tăng tính linh thiêng cho câu chuyện và làm cơ sở cho việc phu nhân được phong tặng, lập đền thờ.
Câu 1 : thể loại truyền kì
Câu 2 : đề tài người phụ nữ trong thời kì phong kiến
Câu 3.
– Yếu tố kì ảo:
+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.
+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng
– Tác dụng:
+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.
+Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà.
Câu 4. – Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản:
+ Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản.
+ Khắc họa sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này – rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khẳng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.
Câu 5:
– Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng.
Cụ thể: • Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.
• Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.
– Tác dụng của việc xây dựng không gian: Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng: • Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.
• Khắc họa sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này – rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khẳng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.
Câu 1: truyện truyền kì
Câu 2: đề tài Người phụ nữ
Câu 3: - Yếu tô kì ảo: + Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng. + Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng. - Tác dụng: + Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện. + Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hóá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hóá mà nhân dân dành cho bà. Câu 4. Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giữ cảm xúc Câu 5. - Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng. Cụ thể: + Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ. + Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân. - Tác dụng cúa việc xây dựng không gian: Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng: + Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện. + Khắc hoa sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hóá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này - răng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khẳng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kỳ. Thể loại này thường kết hợp yếu tố lịch sử và yếu tố kỳ ảo, hư cấu.
Câu 2. Văn bản trên viết về đề tài tình yêu và sự tái sinh, với yếu tố kỳ ảo về những mối duyên tiền định.
Câu 3. Yếu tố kì ảo trong văn bản là việc Cao gặp một ca sĩ tên Ngọc Tiên có diện mạo giống hệt nàng Ngọc Tiên ngày trước, và chi tiết về Dương Quý Phi tái sinh rồi kết hôn lại với Đường Minh Hoàng.
Tác dụng của yếu tố kì ảo:Tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn cho câu chuyện, kích thích trí tưởng tượng của người đọc.Thể hiện quan niệm về duyên tiền định, số phận con người.Góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm, làm nổi bật những khát vọng, ước mơ của con người về một tình yêu vĩnh cửu, vượt qua cả không gian và thời gian.
Câu 4. Việc sử dụng điển tích, điển cố (ví dụ như "Dương Thái Chân" - Dương Quý Phi) có tác dụng:Làm tăng tính hàm súc, gợi hình cho văn bản.Tạo sự liên kết giữa câu chuyện với những sự kiện, nhân vật lịch sử có thật, tăng tính chân thực và thuyết phục.Thể hiện sự am hiểu về lịch sử, văn hóa của tác giả.Tôi ấn tượng với điển tích về Dương Quý Phi vì nó gợi nhớ đến một câu chuyện tình yêu nổi tiếng trong lịch sử, đồng thời tạo ra sự liên tưởng thú vị về sự tái sinh và duyên phận.
Câu 5. Không gian nghệ thuật trong văn bản có sự kết hợp giữa cõi trần (nơi Cao làm Tiết độ sứ) và cõi tiên (thể hiện qua sự tái sinh của Dương Quý Phi và hình ảnh Ngọc Tiên).
Việc Cao gặp một ca sĩ có diện mạo giống hệt Ngọc Tiên ngày trước gợi ý về sự tồn tại của một thế giới khác, nơi những linh hồn có thể tái sinh.Chi tiết về Dương Quý Phi tái sinh và kết hôn lại với Đường Minh Hoàng khẳng định sự giao thoa giữa cõi trần và cõi tiên.Tác dụng của việc xây dựng không gian nghệ thuật ấy:Tạo ra một thế giới huyền ảo, nơi những điều không thể xảy ra trong thực tế vẫn có thể xảy ra.Thể hiện quan niệm về sự luân hồi, tái sinh của con người.
Góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm, làm nổi bật những khát vọng, ước mơ của con người về một cuộc sống tốt đẹp hơn, vượt qua những giới hạn của không gian và thời gian.
Câu 1.Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì
Câu 2.Văn bản viết về đề tài người phụ nữ thủy chung, trinh liệt, ca ngợi phẩm hạnh, lòng chung tình son sắt của người vợ đối với chồng trong xã hội phong kiến.
Câu 3.
Yếu tố kì ảo:
→ Điển tích này gây ấn tượng vì vừa quen thuộc vừa giàu cảm xúc, thể hiện rõ bi kịch chia lìa của nhân vật.
Câu 1 : Văn bản trên thuộc thể loại " Truyền kỳ Mạn Lục"
Câu 2: Truyện viết về đề tài : Cả ngợi phẩm giá và tấm lòng son sắt, chân thành của người phụ nữ , một đức tính cao đẹp
Câu 3 :
Chi tiết kỳ ảo: " Nói xong một trận thanh phong. Không biết ông biến đi đâu. Phu nhân thương khóc chợt tỉnh dậy"...
Tác dụng yếu tố Kỳ ảo: tạo sự li kì cho câu chuyện, tăng tính hấp dẫ cho người đọc
Nhấn mạnh vẻ đẹp của nhân vật
Câu 4 : tác dụng của điển cố tăng tính hàm xúc , uyên bác cho văn bản
Câu 5:
Không gian nghệ thuật giữa cõi trần và cõi ảo
Không gian cõi trần là đường đi gian nan của Đinh Hoàn
Không gian cõi ảo là Đinh Hoàn về gặp phu nhân
Tác dụng là tạo sự li kì, kết hợp giữa cõi thực và ảo
Giúp tô đậm tình nghĩa phu thê của 2 nhân vật
câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kìcâu 2: Văn bản viết về đề tài ca ngợi người phụ nữ tiết hạnh, thủy chung, nghĩa tình, qua hình tượng người liệt nữ ở An Ấp; đồng thời thể hiện quan niệm đạo đức Nho giáo và khát vọng công lí của con người thời trung đại.câu 3: Yếu tố kì ảo: hồn người chết hiện về, sự gặp gỡ giữa người sống và người đã khuất, linh ứng sau khi mất, được triều đình sắc phong.
-Tác dụng:
Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, huyền bí.-Tôn vinh vẻ đẹp đạo đức của nhân vật người phụ nữ.-Thể hiện ước mơ công bằng, niềm tin “ở hiền gặp lành” của nhân dân
câu 4: Việc sử dụng điển tích, điển cố (Nàng Lục Châu, người trinh nữ hóa đá, Ngưu Lang – Chức Nữ, Dương Thái Chân, Vị Ngọc Tiên…) giúp:
-Tăng tính trang trọng, bác học cho văn bản.
-So sánh, làm nổi bật đức hạnh, lòng thủy chung của nhân vật. -Điển tích gây ấn tượng: Nàng Lục Châu vì thể hiện sự hi sinh tuyệt đối của người phụ nữ cho tình nghĩa vợ chồng.
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì
Câu 2
Văn bản viết về đề tài ca ngợi người phụ nữ trinh liệt, thủy chung son sắt với chồng, đồng thời thể hiện quan niệm đạo đức Nho giáo trong xã hội phong kiến.
Câu 3.
Yếu tố kì ảo: hồn Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân; Thiên Đình, thiên tào; sự linh ứng sau khi phu nhân mất.
Tác dụng:
Làm câu chuyện thêm hấp dẫn, huyền ảo.
Thể hiện khát vọng đoàn tụ âm – dương, tình nghĩa vợ chồng vượt qua sinh tử.
Góp phần tôn vinh phẩm hạnh trinh liệt của phu nhân, phù hợp đặc trưng truyện truyền kì
Câu 4.
Tác dụng của điển tích, điển cố:
Tăng tính trang trọng, bác học cho văn bản.
Giúp khắc sâu phẩm chất nhân vật, mở rộng ý nghĩa tư tưởng.
Điển tích ấn tượng: Chức Nữ – Ngưu Lang
→ Vì điển tích này gợi hình ảnh những cuộc hội ngộ hiếm hoi nhưng bền chặt, làm nổi bật nỗi đau chia lìa và khát vọng đoàn tụ của phu nhân.
Câu 5.
Sự kết hợp các cõi trong không gian nghệ thuật:
Trần gian: đời sống phu nhân, cảnh đêm thu hiu hắt.
Âm giới/thiên giới: Thiên Đình, hồn Đinh Hoàn hiện về.
Tác dụng:
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì
Câu 2
Văn bản viết về đề tài ca ngợi người phụ nữ trinh liệt, thủy chung son sắt với chồng, đồng thời thể hiện quan niệm đạo đức Nho giáo trong xã hội phong kiến.
Câu 3.
Yếu tố kì ảo: hồn Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân; Thiên Đình, thiên tào; sự linh ứng sau khi phu nhân mất.
Tác dụng:
Làm câu chuyện thêm hấp dẫn, huyền ảo.
Thể hiện khát vọng đoàn tụ âm – dương, tình nghĩa vợ chồng vượt qua sinh tử.
Góp phần tôn vinh phẩm hạnh trinh liệt của phu nhân, phù hợp đặc trưng truyện truyền kì
Câu 4.
Tác dụng của điển tích, điển cố:
Tăng tính trang trọng, bác học cho văn bản.
Giúp khắc sâu phẩm chất nhân vật, mở rộng ý nghĩa tư tưởng.
Điển tích ấn tượng: Chức Nữ – Ngưu Lang
→ Vì điển tích này gợi hình ảnh những cuộc hội ngộ hiếm hoi nhưng bền chặt, làm nổi bật nỗi đau chia lìa và khát vọng đoàn tụ của phu nhân.
Câu 5.
Sự kết hợp các cõi trong không gian nghệ thuật:
Trần gian: đời sống phu nhân, cảnh đêm thu hiu hắt.
Âm giới/thiên giới: Thiên Đình, hồn Đinh Hoàn hiện về.
*Tác dụng:
-Mở rộng không gian tự sự từ thực sang ảo.
-Làm nổi bật tư tưởng: tình nghĩa vợ chồng không bị giới hạn bởi ranh giới sống – chết.
- Tăng sức gợi cảm, chiều sâu nhân văn cho câu chuyện.- Mở rộng không gian tự sự từ thực sang ảo.
- Làm nổi bật tư tưởng: tình nghĩa vợ chồng không bị giới hạn bởi ranh giới sống – chết.
câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì
câu 2: Văn bản viết về đề tài ca ngợi người phụ nữ tiết hạnh, thủy chung, nghĩa tình, qua hình tượng người liệt nữ ở An Ấp; đồng thời thể hiện quan niệm đạo đức Nho giáo và khát vọng công lí của con người thời trung đại.
câu 3: Yếu tố kì ảo: hồn người chết hiện về, sự gặp gỡ giữa người sống và người đã khuất, linh ứng sau khi mất, được triều đình sắc phong.
-Tác dụng:
Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, huyền bí.-Tôn vinh vẻ đẹp đạo đức của nhân vật người phụ nữ.-Thể hiện ước mơ công bằng, niềm tin “ở hiền gặp lành” của nhân dân
câu 4: Việc sử dụng điển tích, điển cố (Nàng Lục Châu, người trinh nữ hóa đá, Ngưu Lang – Chức Nữ, Dương Thái Chân, Vị Ngọc Tiên…) giúp:
-Tăng tính trang trọng, bác học cho văn bản.
-So sánh, làm nổi bật đức hạnh, lòng thủy chung của nhân vật. -Điển tích gây ấn tượng: Nàng Lục Châu vì thể hiện sự hi sinh tuyệt đối của người phụ nữ cho tình nghĩa vợ chồng
.