Câu 1. (2,0 điểm)
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

6 tháng 2

Bài thơ "Bầm ơi!" của Tố Hữu gợi trong em những cảm xúc ấm áp và xúc động về tình mạu tử thiêng liêng. Nhân vật trữ tình là người con đi kháng chiến, dù ở xa vẫn luôn nhớ về người mẹ nơi quê nhà. Lời thơ hỏi thăm giản dị nhưng chan chứa yêu thương: "Ai về thăm mẹ quê ta... Bầm ơi! có rét không bầm?" làm em cảm nhận được nỗi nhớ nhung và âu lo của người con dành cho mẹ. Những hình ảnh chân thật như bầm cáy lúa, bầm hái chè, bầm cày ruộng cho thấy sự lam lũ, vất vả của người mẹ nông dân. Qua đó, bài thơ ca ngợi tình cảm mẺu tử và gợi cho em thêm yêu thương, trân trọng những hy sinh thầm lặng của mẹ.

Câu 1 Bài thơ “Bầm ơi” của Tố Hữu đã thể hiện sâu sắc tình cảm của người chiến sĩ dành cho mẹ trong thời kì kháng chiến. Trong hoàn cảnh xa nhà, người con luôn nhớ đến bầm – người mẹ tảo tần, lam lũ nơi quê nhà. Những hình ảnh như mưa rét, ruộng đồng, áo vá… gợi lên sự vất vả của người mẹ và làm nổi bật tình thương con vô bờ bến. Đồng thời, bài thơ cũng cho thấy nỗi nhớ thương và sự biết ơn của người con đối với mẹ. Qua đó, tác giả ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và cao đẹp. “Bầm ơi” không chỉ là lời tâm sự của một người con mà còn là tiếng lòng chung của nhiều người chiến sĩ xa nhà trong những năm tháng chiến tranh. Bài thơ khiến người đọc thêm yêu quý và trân trọng tình cảm gia đình. 

Câu 2 Lễ hội đình Đồng Ẻn là một lễ hội truyền thống của địa phương, được tổ chức hằng năm để tưởng nhớ các vị thần và những người có công với làng. Lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân, khi thời tiết mát mẻ và người dân đã chuẩn bị xong cho một năm lao động mới. Trong ngày hội, người dân trong làng và du khách tập trung đông đủ tại đình để dâng hương, cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cuộc sống bình an.


Phần lễ được tổ chức trang nghiêm với các nghi thức như rước lễ, dâng hương và đọc văn tế. Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động vui tươi như hát múa, trò chơi dân gian và giao lưu văn nghệ. Không khí lễ hội rất náo nhiệt và đầy màu sắc. Lễ hội đình Đồng Ẻn không chỉ thể hiện lòng biết ơn của người dân đối với tổ tiên mà còn góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương.


16 tháng 3

Bài làm

Mỗi vùng quê Việt Nam đều có những lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Trong đó, lễ hội Đền Đặng Thế Công ở thôn Tân, xã Kép, tỉnh Bắc Ninh quê em là một lễ hội dân gian đặc sắc.Lễ hội được tổ chức vào ngày 13 và 14 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Đây là dịp để nhân dân tưởng nhớ công lao của Đặng Thế Công, đồng thời gìn giữ những nét đẹp văn hoá của quê hương.

Đặng Thế Công là người có công với quê hương và đất nước. Nhân dân địa phương lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của ông. Từ lâu, lễ hội được tổ chức hàng năm nhằm: bày tỏ lòng biết ơn, giáo dục truyền thống cho thế hệ sau, tạo dịp để người dân sum họp đầu xuân…

Vài ngày trước lễ hội, người dân trong thôn đã bắt đầu dọn dẹp khuân viên đền thờ, trang trí cờ hội, băng rôn, chuẩn bị lễ vật,…

Lúc ấy, nơi đây như biến thành một nơi khác. Cờ ngũ sắc rực rỡ treo dọc các con đường. Tiếng nói cười rộn ràng khắp thôn xóm. Ai ai cũng háo hức chờ ngày hội.

Sáng ngày 13 tháng Giêng, lễ hội chính thức bắt đầu. Người dân tập trung đông đủ tại đền thờ. Có rất nhiều các nghi thức tiêu biểu như: Lễ dâng hương tưởng nhớ Đặng Thế Công. Các bậc cao niên trong làng thực hiện các nghi lễ trang nghiêm. Mọi người thành kính cầu mong: quốc thái dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống bình yên,… Không khí linh thiêng bao trùm cả không gian lễ hội.

Sau phần lễ trang nghiêm là phần hội sôi nổi. Các hoạt động thường diễn ra là các trò chơi dân gian: kéo co, chọi gà, cờ người, bóng chuyền, đá bóng,… Buổi tối là các tiêt mục giao lưu văn nghệ: Hát quan họ Bắc Ninh, múa biểu diễn dân gian…

Lễ hội Đền thờ Đặng Thế Công có nhiều ý nghĩa: tưởng nhớ người có công với quê hương, giữ gìn phong tục truyền thống, gắn kết tình làng nghĩa xóm, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về lịch sử quê hương.

Lễ hội Đền thờ Đặng Thế Công là một nét đẹp văn hoá truyền thống của quê hương Bắc Ninh. Không chỉ là dịp vui xuân, lễ hội còn nhắc mọi người biết trân trọng lịch sử và giữ gìn truyền thống tốt đẹp của cha ông. Với mỗi người dân nơi đây, lễ hội luôn là kỉ niệm đẹ mỗi dịp đầu năm.

25 tháng 3

Xác định yêu cầu của văn bản

Xác định yêu cầu và hình thức

a, Xác định

27 tháng 3

c2 em ko bt viết

28 tháng 3

Câu 1: +Hình ảnh người mẹ là tưởng tượng cho người phụ nữ Việt Nam :chịu thương, chịu khó, hi sinh vì con và đất nước.

+Hình ảnh người mẹ cấy lúa giữa trời mưa, chân nội bùn gợi nổi xót xa, thương cảm.

+Tiếng gọi tha thiết thể hiện sự nhớ nhung, lo lắng của người con xa nhà .

+Người con tưởng tượng và lo lắng về sự làm lũ ,vất vả ,cơ cực của người mẹ ở quê nhà.

+Số sánh vẽ nhận thấy mẹ còn giận khổ hơn khi con đi chiến tránh. Điều này cho thấy người con rất biết ơn mẹ của mình,trân trọng sâu sắc đối với sự vất vả, hy sinh của mẹ.

+Xúc động và thương cảm trước tấm lòng tấm lòng của người con luôn hướng về mẹ giữa những ngày xa cách, đồng thời chân trọng công lao và đức hi sinh của mẹ

+ Ngôn ngữ giản dị sử dụng các từ ngữ địa phương tạo cảm giác gần gũi , thân thương

+Nhịp thơ uyển chuyển chuyển ,âm điệu trìu mến mến ,thấm đẫm tính yêu thương.

Câu 2: Bài làm

Hội Lim là một hội lớn ở tỉnh Bắc Ninh. Hàng năm, cứ như vậy hội Lim lại được mở vào ngày mùng 10 tháng giêng. Mọi người đi xem hội rất đông, có tất cả các lứa tuổi: già, trẻ và đặc biệt là có khách nước ngoài . Mọi người ăn mặc rất đẹp, nét mặc ai cũng vui tươi Hội bắt đầu, mọi người tản ra từng nhóm để chơi những trò họ yêu thích. Hội Lim có rất nhiều trò vui như: đấu vật, đấu cờ, kéo co,.....Trên bến sông dòng người không ngớt để về xem hát quân họ .Trên những chiếc thuyền được trang trí lộng lẫy lẫy các liền anh, liền chị đang say sưa trong những làn điệu quân họ .Em rất yêu thích Hội Lim và đặc biệt là trò chơi của hội .

Câu 1

Bài làm

Bài thơ "Bầm ơi " của nhà thơ Tố Hữu nói về sự thương nhớ của ng chiến sĩ ở nơi tiền tuyến gửi đến ng mẹ già ở nhà, Bài thơ muốn nói cho chúng ta về sự hy sinh cao cả của ng mẹ. Em thích câu thơ " Mưa phùn ướt áo tứ thân" vì câu thơ này nói lên sụ vất vả của người mẹ vất vả cày cấy giữa trời mưa rét. Khi đọc xong bài thơ, em thấy tình mẫu tử thật thiêng liên vận tình yêu quê hương, đất nước.

Câu 2

Bài làm

Em được sinh ra và lớn lên tại tỉnh Bắc Ninh, ở Bắc Ninh có rất nhiều lễ hội truyền thống như: hội Lim, hội đền Bà Chúa Kho, hội đền Giếng,... Em sẽ kể về hội đền Giếng ở làng Diềm

Hội đền Giếng thường được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 hàng năm, hội đền Giếng được gắn với sự tích mẹ Âu Cơ. Khi hội được diễn ra, ko chỉ có những ng dân trong làng mà có cả ng địa phương khác đến chơi hội và những ng nước ngoài đến thăm quan. Hội đền Giếng có hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ sẽ có lễ dâng hương và rước kiệu. Còn phần hội sẽ có các trò chơi dân gian như: kéo co, vật,chơi chuyền, đập chum, ô ăn quan,... còn có một vài trò khác như: cờ người, cờ tướng,... ngoài ra còn có các quán ăn và quán đồ chơi, Có những liền anh, liền chị hát quan họ trên thuyền rồng. Trong nhà hát lớn có các cô, các bác thi hát quan họ và phong cảnh thiên nhiên rất đẹp, có những cây cỏ thụ cao chót vót, ba người ôm ko xuể.

Hội đền Giếng là một lễ hội lớn và được tổ chúc kéo dài từ ba đến bốn ngày. Em mong rằng hội đền Giếng sẽ được nhiều người biết đến nhiều hơn nữa.





29 tháng 3

Câu1

Bài thơ "Bầm ơi" của nhà thơ Tố Hữu để lại trong em nhiều xúc động sâu sắc. Qua những vần thơ giản dị mà chan chứa tình cảm, em cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng và nỗi nhớ thương da diết của người con dành cho mẹ. Hình ảnh người mẹ tã tần vì con dù xa hay gần, dù cao hay thấp vẫn hỏi han rằng " Bầm ơi có rét không Bầm" hay câu thơ "Bầm ra ruộng cấy bầm run" qua những câu thơ nhỏ nhoi hay ngắn ngủi nhưng vẫn mang cho độc giả những cảm xúc lớn lao.

Dù ở nơi chiến trường xa xôi, người con vẫn luôn hướng về mẹ, lo lắng cho mẹ từng bữa ăn, giấc ngủ. Những câu thơ như lời tâm sự nhẹ nhàng mà tha thiết khiến em cảm thấy mỗi khi đọc lại dòng thơ đó, em vẫn luôn cảm thấy xúc động. Em hiểu rằng, dù đi đâu hay làm gì, mẹ vẫn luôn là người quan trọng nhất trong trái tim mỗi người con.

Bài thơ còn giúp em thêm trân trọng sự hi sinh thầm lặng của mẹ. Mẹ không quản vất vả, chỉ mong con được bình yên và trưởng thành. Đọc "Bầm ơi", em càng yêu thương mẹ hơn và tự nhủ sẽ cố gắng học tập thật tốt để không phụ lòng mẹ. Bài thơ đã dạy em một bài học ý nghĩa về lòng biết ơn và tình cảm gia đình thiêng liêng.

câu 2

Trong kho tàn văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất và có ý nghĩa sâu sắc nhất và ngày Tết Nguyên Đán không chỉ là văn hoá của riêng một tỉnh mà còn là văn hoá, cũng là một lễ hội truyền thống của tất cả các địa phương và cũng là lễ hội truyền thống của địa phương em. Tết Âm lịch không chỉ đánh dấu thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo lịch âm mà còn là dịp để mọi người sum họp gia đình, tưởng nhớ tổ tiên và gửi gắm những ước mong tốt đẹp cho tương lai. Dù xã hội ngày càng phát triển, Tết cổ truyền vẫn giữ nguyên giá trị thiêng liêng trong đời sống tinh thần của người Việt.

Tết Nguyên Đán thường diễn ra vào khoảng cuối tháng Một hoặc đầu tháng Hai dương lịch, tùy theo chu kỳ của mặt trăng. Theo quan niệm dân gian, đây là thời điểm đất trời giao hòa, vạn vật như được khoác lên mình tấm áo mới. Cây cối đâm chồi nảy lộc, hoa mai vàng rực rỡ ở miền Nam, hoa đào hồng thắm ở miền Bắc. Không khí Tết bắt đầu rộn ràng từ những ngày cuối tháng Chạp khi mọi gia đình tất bật chuẩn bị đón năm mới.

Trước Tết khoảng một đến hai tuần, các gia đình thường dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa sạch sẽ. Người Việt tin rằng nhà cửa gọn gàng, tươm tất sẽ mang lại may mắn cho năm mới. Bàn thờ tổ tiên được lau dọn cẩn thận để chuẩn bị cho lễ cúng giao thừa. Ngoài ra, mọi người còn đi chợ Tết để mua sắm quần áo mới, thực phẩm và các vật dụng trang trí như câu đối đỏ, đèn lồng, bao lì xì.

Một phong tục đặc trưng không thể thiếu trong ngày Tết là gói bánh chưng, bánh tét. Bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất, thường phổ biến ở miền Bắc; bánh tét hình trụ dài phổ biến ở miền Trung và miền Nam. Việc cả gia đình quây quần bên nồi bánh suốt đêm không chỉ là hoạt động chuẩn bị món ăn truyền thống mà còn là dịp để các thành viên trò chuyện, chia sẻ và gắn kết tình cảm.

Thời khắc thiêng liêng nhất của Tết là đêm giao thừa. Vào lúc chuyển giao năm cũ sang năm mới, mọi người thắp hương cúng trời đất và tổ tiên để cầu mong bình an, hạnh phúc. Sau đó, gia đình thường chúc Tết nhau bằng những lời chúc tốt đẹp. Sáng mùng Một, con cháu mặc quần áo mới, kính cẩn chúc thọ ông bà, cha mẹ và nhận lì xì những phong bao đỏ tượng trưng cho may mắn.

Trong những ngày đầu năm, người Việt còn duy trì nhiều phong tục ý nghĩa như xông đất, đi chùa cầu an, hái lộc đầu xuân, thăm hỏi họ hàng và bạn bè. Các lễ hội đầu xuân cũng được tổ chức ở nhiều nơi với các trò chơi dân gian như kéo co, đấu vật, múa lân, hát quan họ… tạo nên không khí vui tươi, náo nhiệt.

Tết Nguyên Đán không chỉ là dịp nghỉ ngơi sau một năm lao động vất vả mà còn là thời gian để mỗi người nhìn lại những việc đã làm và đặt ra mục tiêu cho năm mới. Đặc biệt, Tết nhắc nhở con cháu về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, luôn biết ơn tổ tiên và trân trọng tình cảm gia đình.

Đối với em, Tết Âm lịch là khoảng thời gian ấm áp và hạnh phúc nhất trong năm. Đó là lúc cả gia đình sum họp, cùng nhau chuẩn bị mâm cơm cúng, cùng nghe tiếng pháo hoa rộn ràng và trao nhau những lời chúc chân thành. Dù mai này có đi đâu xa, hình ảnh ngày Tết quê hương với hương vị bánh chưng, sắc hoa ngày xuân và nụ cười rạng rỡ của mọi người sẽ mãi in đậm trong trái tim em.

Có thể nói, Tết Nguyên Đán là nét đẹp văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lễ hội ấy không chỉ mang ý nghĩa về thời gian mà còn chứa đựng giá trị tinh thần sâu sắc, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa và gắn kết cộng đồng qua bao thế hệ.



29 tháng 3

Bầm ơi, một tác phẩm xuất sắc chiếm vị trí quan trọng trong tập Việt Bắc (1954) của danh nhân văn học Tố Hữu. Trong những năm 1947, 1948, hành trình của đoàn văn nghệ sĩ dừng chân tại Gia Điền. Tại đây, những tên tuổi như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Kim Lân, và Nguyễn Huy Tưởng đã chọn ngôi nhà của bà cụ Nguyễn Thị Gái, thôn Gốc Gạo xã Gia Điền, làm điểm dừng chân. Bài thơ 'Bầm ơi' chính là biểu tượng của tình cảm chân thành mà nhà thơ dành cho người mẹ tận tâm này. Bà Gái, một người mẹ hiền lành và ân cần, đã cởi lòng đón tiếp các nhà văn, nhà thơ, chuyển giường lên cho họ, và tự rủ xuống bếp ngủ khi khách đến. Nội dung của bài thơ Bầm ơi là câu chuyện về Nguyễn Thị Gái, một người mẹ vô cùng yêu thương con. Trong bức tranh miêu tả về Gia Điền - nơi đóng chân của các nhà thơ, Tố Hữu đã khắc họa sâu sắc tình cảm của mình đối với người mẹ. Câu hỏi khẩn cấp vang lên từ đầu bài thơ: “Ai về thăm mẹ quê ta/ Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…” Dù thời gian đã qua lâu, khi con phải rời xa quê hương, tình thương mãi không phai nhạt. Bài thơ không chỉ là tác phẩm của Tố Hữu, mà còn là câu chuyện của chúng ta, những đứa con giữ mãi trong lòng niềm nhớ mẹ, chỉ biết thầm thương trong trái tim. Bầm ơi có rét không bầm! Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm run Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Mạ non bầm cấy mấy đon Ruột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thân Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu! Âm thanh của lời gọi 'Bầm ơi' không chỉ buồn thương mà còn ấm áp, là tình cảm của đứa con gửi đến mẹ. Hình ảnh mẹ run rẩy, lội dưới bùn trong thời tiết khắc nghiệt làm cho đứa con không kìm được nước mắt. Mẹ thường muốn đem lại điều tốt nhất cho con. Điều này được thể hiện qua cảnh mẹ lội qua lũ lụt, không chấp nhận rời bỏ. Tố Hữu thấu hiểu tâm trạng của những đứa con có mẹ, dặn dò nhẹ nhàng: 'Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe.' Dù con trở thành người lớn ra sao, khi quay về nhà, con vẫn là đứa trẻ trong trái tim mẹ. “Con đi, con lớn lên rồi Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con! Nhớ con, bầm nhé đừng buồn Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm. Mẹ già tóc bạc hoa râm Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con…” Những người chiến sĩ ra đi không biết khi nào trở về, hứa rằng khi giặc tan, đất nước yên bình, con sẽ về. Tố Hữu gửi những lời động viên đến mẹ để an ủi. Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi. Người mẹ ở nhà giữ nỗi nhớ thương con, liệu sau chuyến đi này, con có trở về nữa hay không? Nỗi nhớ của mẹ như một chiếc lưới, ôm trọn con. Đoạn thơ cuối cùng khắc họa tâm trạng của mẹ, đau lòng, thảm thiết đến không thể tả. Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe! Con đi mỗi bước gian lao Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm! Bao bà cụ từ tâm như mẹ Yêu quý con như đẻ con ra. Nhớ thương con bầm yên tâm nhé Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân. Con đi xa cũng như gần Anh em đồng chí quây quần là con. Mỗi bước chân của con là một thách thức, một gian nan, nhưng cũng là niềm tự hào của mẹ. Đau khổ, lo âu, nhưng trong tâm hồn mẹ vẫn tự hào vì con, là người con hùng cường và trưởng thành. Bài thơ 'Bầm ơi' là hình ảnh thiêng liêng về tình yêu thương của mẹ dành cho con, như một nguồn động viên và hy sinh vô điều kiện. Đó là những tình cảm không lẫn vào đâu được, là nét đẹp truyền thống vô song của tình mẫu tử Việt Nam. Cảm nhận về bài thơ Bầm ơi - mẫu 3 “Bầm ơi” – một trong những sáng tác nổi tiếng của Tố Hữu, được rút từ tác phẩm Việt Bắc, ra đời khi tác giả cùng đoàn văn nghệ sĩ thăm xã Gia Điền, Phú Thọ. Tại đây, cụ Gái - người dân địa phương - đã nồng hậu tiếp đón đoàn và nhường giường cho họ ở trên nhà, còn bản thân cụ, chuyển xuống bếp ngủ. Với tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc, nhà thơ đã sáng tác tác phẩm để bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt dành cho cụ. Ngay từ đầu, tác giả đặt câu hỏi sâu sắc: “Ai về thăm mẹ quê ta Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…” Dù đã rời xa quê hương, tình cảm của tác giả dành cho người mẹ thân thương vẫn như in sâu trong tâm hồn. Bài thơ không chỉ là của Tố Hữu, mà còn là câu chuyện của chúng ta, những đứa con giữ mãi niềm nhớ mẹ, chỉ thầm thương trong trái tim. “Bầm ơi có rét không bầm? Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm run Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Mạ non bầm cấy mấy đon Ruột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thân Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!” Hình ảnh mẹ lội qua lụt, chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non trong thời tiết khắc nghiệt khiến đứa con không kìm được nước mắt. Mẹ không ngần ngại khó khăn, vất vả, vẫn làm việc để ủng hộ chiến sĩ. Mẹ trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp và lòng hy sinh cao cả của phụ nữ Việt Nam. Đặc biệt là trong thời chiến, khi đất nước còn gian khổ, những người mẹ đã trở thành hậu phương vững chắc, là nguồn động viên to lớn cho chiến sĩ: “Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe! Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.” Con ở tiền tuyến xa xôi, nhưng không bằng muôn nỗi lo âu của bầm. Tác giả gửi lời thân thương để an ủi: “Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe.” Đó là lời động viên, dặn dò nhẹ nhàng của nhà thơ đến với những người mẹ già mong chờ con trở về. Con ra đi mang theo cả tình yêu quê hương và tình yêu bầm. Dù con biết rằng con đối diện với những thử thách khó khăn, bầm hãy yên tâm, vì sẽ luôn có đồng đội đi cùng con trên mọi nẻo đường! “Con đi, con lớn lên rồi Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con! Nhớ con, bầm nhé đừng buồn Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm. Mẹ già tóc bạc hoa râm Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con…” Con không dám hứa trở về, nhưng con hứa sẽ chiến đấu hết mình, đánh đuổi giặc, mang lại tự do cho quê hương. Bầm nhớ con, bầm đừng buồn, vì “giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm”. Những người trải qua mất mát, đều hiểu cảm giác được đoàn tụ, cảm giác ấm áp khi quay về với gia đình. Bầm ở nhà, với tình cảm mãnh liệt, liệu sau chuyến đi, con có trở về không? Nỗi nhớ thương, tình yêu thương của người mẹ vẫn mãi là bản tình ca không lẫn vào đâu được. Ngôn từ gần gũi, nhịp thơ nhẹ nhàng, đầm ấm, tác phẩm như một bản nhạc ru dịu dàng đi sâu vào tâm hồn. Tố Hữu thành công khắc họa về những khó khăn, vất vả mà phụ nữ Việt Nam phải trải qua trong thời chiến. Họ kiên cường, là hậu phương vững chắc, là nguồn động viên lớn lao cho các chiến sĩ trên chiến trường. Cảm nhận về bài thơ Bầm ơi - mẫu 4 Chủ đề người mẹ luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho các tác giả, và Tố Hữu cũng không ngoại lệ khi viết về đề tài này trong bài thơ 'Bầm ơi'. Hình ảnh bầm trong thơ đã truyền tải một cách sâu sắc vẻ đẹp tinh thần và phẩm hạnh cao quý của người mẹ trong thời kỳ chiến tranh. Bầm trong bài thơ không chỉ là hình mẫu của sự tảo tần mà còn là biểu tượng của sự hy sinh và kiên cường. Dù trời rét cắt da, mưa phùn nặng hạt, bầm vẫn phải lội bùn, đánh đổi sức khỏe và công sức để chăm sóc gia đình và đóng góp cho cuộc chiến, vì tương lai của đất nước. Hình ảnh bầm không chỉ là một cá nhân cụ thể mà còn là biểu tượng của đức tính hy sinh và lòng yêu thương của phụ nữ Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh. Bầm không chỉ là người mẹ mẫu mực mà còn là một chiến sĩ vĩ đại, sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ quê hương và con cái. Dù con phải ra chiến trường xa xôi, trải qua muôn vàn thử thách, bầm vẫn luôn hiện diện bên con và các đồng đội của con. Qua bài thơ 'Bầm ơi', Tố Hữu đã ca ngợi và tôn vinh vẻ đẹp cũng như sự hy sinh của các bà mẹ Việt Nam, để họ luôn được ghi nhớ và trân trọng trong trái tim mỗi người. Cảm nhận về bài thơ Bầm ơi - mẫu 5 Trong số các tác phẩm văn học về tình mẹ, bài thơ 'Bầm ơi' là một tác phẩm đặc biệt mà tôi rất yêu thích. Không chỉ nằm trong tập thơ Việt Bắc, tác phẩm này còn là kết quả của chuyến thăm làng Gia Điền ở Phú Thọ, nơi Tố Hữu và các nghệ sĩ được cụ Gái, một cư dân địa phương, đón tiếp nồng nhiệt và mở rộng lòng hiếu khách. Chính tình cảm và sự hy sinh của cụ Gái đã để lại ấn tượng sâu sắc và truyền cảm hứng để Tố Hữu viết nên 'Bầm ơi'. 'Bầm ơi' mở đầu với những vần thơ nhẹ nhàng và đầy cảm xúc: 'Ai về thăm mẹ quê ta Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…' Nhịp thơ lục bát của bài thơ vừa chân thành vừa gần gũi, tựa như một bản hò dịu dàng hơn là một bài thơ. Tác giả đã khắc họa hình ảnh Bầm - biểu tượng của những người mẹ anh hùng Việt Nam, những người đã hy sinh và chịu đựng gian khổ trong thời kỳ khó khăn nhất. 'Bầm ơi' không chỉ đơn thuần là một câu chuyện về tình mẹ, mà còn là một bức tranh về thời kỳ chiến tranh đầy đau thương và hy sinh. Nó kể về những bà mẹ già yếu, vẫn phải lao động vất vả, và những đứa con trẻ tuổi chiến đấu trên mặt trận, mang theo sức sống và tình yêu non nớt. Những hình ảnh này thực sự cảm động và đầy ý nghĩa!.

29 tháng 3

Hải Dương quê hương em không chỉ nổi tiếng với đặc sản bánh đậu xanh mà còn là vùng đất địa linh nhân kiệt với nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc, trong đó tiêu biểu nhất là lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc. Lễ hội được tổ chức tại khu di tích quốc gia đặc biệt thuộc thành phố Chí Linh, thường diễn ra hai mùa trong năm: hội Xuân vào tháng Giêng để tưởng nhớ thi hào Nguyễn Trãi và hội Thu vào tháng Tám để tri ân Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Đây là dịp để người dân khắp nơi hội tụ về đây chiêm bái, tìm về cội nguồn lịch sử hào hùng của dân tộc. Lễ hội diễn ra vô cùng long trọng với sự kết hợp hài hòa giữa phần lễ và phần hội. Về phần lễ, những nghi thức cổ truyền như lễ rước nước, lễ tế trên núi Ngũ Nhạc hay lễ ban ấn tại đền Kiếp Bạc được thực hiện rất trang nghiêm, tái hiện lại khí thế Đông A lẫy lừng của quân dân nhà Trần. Bên cạnh đó, phần hội lại mang đến không khí tưng bừng, náo nhiệt với nhiều trò chơi dân gian thú vị như đấu vật, chọi gà, múa rối nước và đặc biệt là hội thi gói bánh chưng, giã bánh giầy. Du khách đến đây không chỉ được vãn cảnh núi non hùng vĩ, hít thở không khí trong lành của rừng thông Côn Sơn mà còn được hòa mình vào nét văn hóa tâm linh độc đáo, cảm nhận sự giao thoa giữa đất trời và lòng người. Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc chính là một nét đẹp văn hóa tinh thần không thể thiếu, là niềm tự hào của mỗi người con đất Hải Dương. Qua lễ hội, em càng thêm trân trọng những giá trị lịch sử và công ơn của các vị tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập tốt và góp phần giữ gìn, quảng bá hình ảnh lễ hội quê hương mình đến với bạn bè khắp mọi miền để nét đẹp truyền thống này mãi mãi trường tồn với thời gian.

0 1 không biết có

7 tháng 4

Bài thơ "Bầm ơi" là một bài thơ rất hay và ý nghĩa.Bài thơ nói về tình yêu thương của con dành cho mẹ .Mặc dù con phải đi chiến trường rất khốc liệt nhưng vẫn luôn nhớ về mẹ . Người mẹ cũng rất quan tâm , yêu thương , mong chờ con trở về.Em rất thích bài thơ này.Đây là một bài thơ vô cùng hay và ý nghĩa.

Việt Nam là đất nước của những lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Trong đó, lễ hội Chùa Hương (Mỹ Đức, Hà Nội) được xem là một trong những lễ hội lớn và kéo dài nhất cả nước, thu hút hàng triệu Phật tử và du khách thập phương mỗi dịp xuân về. Lễ hội Chùa Hương thường bắt đầu từ ngày mùng 6 tháng Giêng và kéo dài đến hết tháng Ba âm lịch. Đây không chỉ là một hành trình về với miền đất Phật mà còn là dịp để con người hòa mình vào vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ của vùng núi non Hương Sơn. Về phần lễ, nghi thức quan trọng nhất là lễ khai sơn (mở cửa rừng) diễn ra vào ngày khai mạc. Các tăng ni, Phật tử thực hiện nghi lễ dâng hương, cầu nguyện cho một năm quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Không khí tại các đền, chùa luôn bảng lảng khói hương, tạo nên sự trang nghiêm và tĩnh tại trong tâm hồn mỗi người hành hương. Tuy nhiên, điểm đặc sắc nhất khiến du khách nhớ mãi chính là phần hội. Để đến được các hang động, chùa chiền, du khách phải ngồi thuyền xuôi dòng suối Yến. Cảm giác ngồi trên những chiếc thuyền nhỏ, ngắm nhìn dòng nước trong xanh và núi đá nhấp nhô hai bên bờ là một trải nghiệm khó quên. Ngoài ra, du khách còn được thưởng thức các làn điệu hát chèo, hát văn truyền thống hoặc tham gia các hoạt động leo núi, vãn cảnh hang động như Động Hương Tích – nơi được mệnh danh là "Nam thiên đệ nhất động". Lễ hội Chùa Hương không chỉ có ý nghĩa về mặt tôn giáo mà còn là biểu tượng của sự kết nối giữa con người với thiên nhiên và cội nguồn. Qua hàng trăm năm, lễ hội vẫn giữ nguyên giá trị truyền thống, nhắc nhở thế hệ trẻ về lòng biết ơn và ý thức giữ gìn di sản của cha ông. Mỗi dịp đến với Chùa Hương, em lại thêm yêu và tự hào về vẻ đẹp của quê hương mình. Em tự hứa sẽ cùng mọi người chung tay giữ gìn vệ sinh môi trường và bảo vệ cảnh quan để lễ hội mãi là điểm đến văn hóa sáng ngời của dân tộc.


câu 1

bài thơ 'bầm ơi' của tố hữu gợi trong em nhuwnhx cảm xúc ấm áp và xúc dộng về tình mẫu tử thiêng lieengh. nhân vật trữ tình là người con đi kháng chiến , dù ở xa vẫn luôn nhớ và người mẹ nơi quê nhà . lời thơ hỏi thăm giản dị nhưng chan chứa yêu thương:"ai về thăm mẹ quê ta .....bầm ơi!có rét ko bầm" làm em cảm nhận dc nỗi nhớ nhung và âu lo của ng cọn dành cho mẹ . những hình ảnh chân thật như bầm cây lúa , bầm hái chè , bầm cày ruộng cho thấy sự ham lũ , vất vả của ng mẹ nông dân. qua đó, bài thơ ca ngợi tình cảm mẫu tử và gợi cho em them yêu thương , trân trọng những hy sinh thầm lặng của mẹ.

câu 2

hội lim là một hội lớn ở tỉnh bắc ninh,hàng năm , cứ như vậy , hội lim dc mở vào ngày 10 tháng giêng.mọi ng đi xem hội rất động , có tất cả các lứa tuổi già , trẻ, và đặc biệt là có khách nc ngoài .mọi ng ăn mặc rất đẹo , nét mặt ai cũng vui tươi khi hội bắt đầu .mọi ng tản ra thành từng nhóm để chs nhg trò họ yêu thích .hội lim có rất nhiều trò vui như đấu vật ,đấu cờ , kéo co,....trên bến sông , dòng người ko ngớt về xem hát quan họ.trên những chiếc thuyền dc trang trí lộng lẫy các liền anh , liền chị say sưa trong những làn điệu quan họ. em rất thích hội lim đặc biệt là trò chơi của hội.

9 tháng 4

Quê hương em là thị trấn Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, một vùng đất có nét văn hóa dân gian đặc trưng của miền Trung Việt Nam. Trong những dịp lễ lớn cả nước, Tết Nguyên Đán luôn là sự kiện được cả làng chờ đợi nhất, mang đầy nét ấm cúng, gắn kết và gợi nhớ nét đẹp truyền thống dân gian. Đây không chỉ là dịp để tân niên hạnh phúc, mà còn là cơ hội để mọi người tụ tập, gắn kết gia đình và giữ gìn những giá trị văn hóa cũ của quê nhà.

Lễ hội Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ phong tục cúng Tổ, chào năm Mới của người Việt, được truyền từ đời này sang đời khác qua hàng ngàn năm. Theo truyền thuyết, đây là dịp để mọi người quên đi những khó khăn của năm cũ, chào đón năm mới với hy vọng mới, đồng thời tôn vinh ý nghĩa của sự tái sinh, sự gắn kết gia đình. Tại quê em, Tết còn mang thêm ý nghĩa đặc biệt là dịp để những con người đi xa như em quay về quê tụ tập với gia đình, bồi đắp tìn

hoặc 30 tháng 12 âm lịch, kéo dài đến hết ngày 5 tháng 1 âm lịch. Trước khi Tết đến, cả làng đều bắt đầu chuẩn bị từ khoảng một tuần trước: mọi người dọn dẹp nhà cửa, cắm hoa đào, hoa mai trang trí không gian nhà cửa, nấu bánh chưng, bánh dày đặc sản Tết, làm kẹo dẻo, trà hoa để đón khách đến thăm Tết. Đặc biệt là nghi thức cúng Tổ vào tối ngày 30 tháng 12 âm lịch, khi mọi gia đình sẽ đặt bàn cúng với các món ăn đặc sản, bánh chưng, trà hoa để tưởng nhớ các thế hệ tiền nhân.Ngày Tết đầu năm, cả làng đều có không khí vô cùng ấm cúng. Sáng sớm, mọi người sẽ đi chúc Tết cho ông bà, cha mẹ và những người lớn tuổi trong gia đình, trao lì xì may mắn cho trẻ em. Buổi chiều, có các hoạt động văn hóa dân gian sôi động tại sân trường làng: múa lân, múa rối nước, chơi đấm cờ, đá cầu thu hút rất nhiều người tham gia. Đặc biệt là hoạt động chèo cổ được biểu diễn tại sân khấu làng, mang đến nét đẹp văn hóa truyền thống cho cả làng. Buổi tối, mọi người sẽ tụ tập cùng nhau xem đêm Tết, ăn tối với gia đình, tản bộ trên con đường làng có ánh đèn rực rỡ.

Tết Nguyên Đán tại quê em không chỉ là một lễ hội truyền thống, mà còn là lời nhắc nhở về nét đẹp gia đình, về tình yêu thương giữa người với người. Đến với Tết, mỗi người con đều có cơ hội học hỏi, hiểu rõ hơn về nét đẹp văn hóa dân gian và ý nghĩa của sự gắn kết gia đình. Tôi tin rằng với sự quan tâm của thế hệ trẻ, những nét đẹp truyền thống Tết Nguyên Đán sẽ được giữ gìn và phát huy đẹp mãi về sau.


Bài thơ "Bầm ơi!" của Tố Hữu là một bản tình ca cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng hòa quyện trong tình yêu quê hương đất nước. Đọc đoạn trích, em không khỏi xúc động trước hình ảnh người mẹ hiền từ, tần tảo nơi quê nhà. Giữa cái rét "heo heo gió núi" và "lâm thâm mưa phùn", dáng vẻ "Bầm ra ruộng cấy bầm run" hiện lên thật xót xa, khắc họa sự hy sinh thầm lặng của người mẹ chiến sĩ. Phép so sánh đặc sắc "Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu" đã cụ thể hóa tình cảm da diết của người con nơi tiền tuyến gửi về hậu phương. Đặc biệt, sự thấu hiểu của con đối với nỗi lòng của mẹ – nỗi lo con đi "trăm núi ngàn khe" không bằng nỗi "tái tê lòng bầm" – cho thấy một sự gắn kết tâm hồn sâu sắc. Bài thơ không chỉ ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến mà còn khơi gợi trong mỗi chúng ta lòng biết ơn và tình yêu thương vô hạn dành cho mẹ

câu 2:

Trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam, mỗi vùng quê đều có những nét đẹp riêng biệt. Nếu Phú Thọ tự hào với Giỗ tổ Hùng Vương, Nam Định có hội Phủ Dầy, thì vùng đất Bắc Ninh lại nức tiếng gần xa với Hội Lim. Đây không chỉ là một lễ hội thông thường mà còn là linh hồn của vùng đất văn hiến Kinh Bắc, nơi lưu giữ những làn điệu dân ca Quan họ ngọt ngào.

Hội Lim thường được tổ chức định kỳ từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Giêng âm lịch hằng năm, trong đó ngày 13 là chính hội. Lễ hội diễn ra trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, với trung tâm là đồi Lim. Về nguồn gốc, hội Lim có lịch sử lâu đời, gắn liền với việc thờ cúng các vị thần và đặc biệt là ông Hiếu Trung Hầu — người có công gây dựng và phát triển truyền thống hát Quan họ tại đây.

Về cấu trúc, cũng như nhiều lễ hội khác, Hội Lim gồm hai phần chính: phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra vô cùng trang trọng với các nghi thức rước kiệu, dâng hương tại chùa Hồng Ân và các đình, đền xung quanh. Các cụ cao niên trong làng trong bộ lễ phục chỉnh tề thực hiện các nghi thức tế lễ để cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa và mùa màng bội thu.

Tuy nhiên, linh hồn và sức hút lớn nhất của Hội Lim lại nằm ở phần hội. Đây là không gian văn hóa cộng đồng sôi động với nhiều trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đu tiên, nấu cơm thi... Nhưng điểm nhấn đặc sắc nhất, làm nên thương hiệu của Hội Lim chính là hát Quan họ. Trên đồi Lim hay dưới những chiếc thuyền rồng lững lờ trôi trên dòng sông, các liền anh trong áo dài khăn xếp, các liền chị duyên dáng với áo tứ thân, nón quai thao cùng nhau cất lên những làn điệu đối đáp mượt mà, đằm thắm. Những câu hát "Người ơi người ở đừng về" hay "Khách đến chơi nhà" không chỉ là lời ca, mà còn là lời mời gọi chân thành, thể hiện nét văn hóa giao tiếp tinh tế, trọng nghĩa trọng tình của người dân Kinh Bắc.

Hội Lim có giá trị văn hóa vô cùng to lớn. Nó là môi trường sống động nhất để bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ Bắc Ninh — di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được UNESCO công nhận. Lễ hội cũng là nhịp cầu kết nối quá khứ và hiện tại, nhắc nhở thế hệ trẻ về cội nguồn và niềm tự hào dân tộc.

Tóm lại, Hội Lim là một nét đẹp văn hóa không thể thiếu của quê hương Bắc Ninh. Dù thời gian có trôi qua, Hội Lim vẫn luôn là điểm hẹn của những người yêu nghệ thuật truyền thống, là nơi để những giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc mãi mãi tỏa sáng. Là một người con của quê hương, em luôn tự hào và tự hứa sẽ góp phần nhỏ bé của mình để giới thiệu vẻ đẹp của Hội Lim đến với bạn bè muôn phương.



21 tháng 4

Có dun đây cho người ta




29 tháng 4

Cô giáo dạy toán trong son môi đỏ

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc bài thơ sau:        TÓC CỦA MẸ TÔI     Mẹ tôi hong tóc buổi chiềuQuay quay bụi nước bay theo gió đồng     Tóc dài mẹ xoã sau lưngBao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.     Tóc sâu của mẹ tôi tìmNgón tay lần giữ ấm mềm yêu thương     Bao nhiêu sợi bạc màu sươngBấy nhiêu lần mẹ lo buồn vì tôi.    Con ngoan rồi đấy mẹ ơiƯớc gì tóc mẹ bạc...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc bài thơ sau:

        TÓC CỦA MẸ TÔI

     Mẹ tôi hong tóc buổi chiều
Quay quay bụi nước bay theo gió đồng
     Tóc dài mẹ xoã sau lưng
Bao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.

     Tóc sâu của mẹ tôi tìm
Ngón tay lần giữ ấm mềm yêu thương
     Bao nhiêu sợi bạc màu sương
Bấy nhiêu lần mẹ lo buồn vì tôi.

    Con ngoan rồi đấy mẹ ơi
Ước gì tóc mẹ bạc rồi lại xanh.

  (Phan Thị Thanh Nhàn, Con muốn mặc áo đỏ đi chơi, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Bài thơ trên là lời của ai viết cho ai?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó:

Tóc dài mẹ xoã sau lưng
Bao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.

Câu 4. (1.0 điểm) Em hiểu như thế nào về hai dòng thơ sau?

         Con ngoan rồi đấy mẹ ơi
  Ước gì tóc mẹ bạc rồi lại xanh.

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ bài thơ trên?

4
29 tháng 10 2025

ky thuat ki m tra chc nang

25 tháng 12 2025

−ω−

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:    Lặng rồi cả tiếng con veCon ve cũng mệt vì hè nắng oi.    Nhà em vẫn tiếng ạ ờiKẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.   Lời ru có gió mùa thuBàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.    Những ngôi sao thức ngoài kiaChẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.     Đêm nay con ngủ giấc trònMẹ là ngọn gió của con suốt đời. (Mẹ, Trần...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

    Lặng rồi cả tiếng con ve

Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.

    Nhà em vẫn tiếng ạ ời

Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.

   Lời ru có gió mùa thu

Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.

    Những ngôi sao thức ngoài kia

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

     Đêm nay con ngủ giấc tròn

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

(Mẹ, Trần Quốc Minh)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. (0.5 điểm) Bên cạnh tiếng ve, những âm thanh nào xuất hiện trong văn bản trên?

Câu 3. (1.0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai dòng thơ sau:

    Những ngôi sao thức ngoài kia

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

Câu 4. (1.0 điểm) Nêu nhận xét của em về hình ảnh người mẹ trong văn bản trên.

Câu 5. (1.0 điểm) Theo em, lời ru của mẹ có vai trò như thế nào trong cuộc sống của mỗi chúng ta?

11
17 tháng 12 2025

Íhdhdhfgfhfhfj

16 tháng 2

CÂU1:Thơ lục bát

CÂU2:BÊN CẠNH TIẾNG VE , NHỮNG ÂM THANH SAU XUẤT HIỆN TRONG VĂN BẢN: TIẾNG VÕNG, TIẾNG MẸ RU..

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau: NGHE THẦY ĐỌC THƠ     Em nghe thầy đọc bao ngàyTiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà      Mái chèo nghiêng mặt sông xaBâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa      Nghe trăng thở động tàu dừaRào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời     Đêm nay thầy ở đâu rồiNhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe… (Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

NGHE THẦY ĐỌC THƠ

     Em nghe thầy đọc bao ngày

Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà

      Mái chèo nghiêng mặt sông xa

Bâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa

      Nghe trăng thở động tàu dừa

Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời

     Đêm nay thầy ở đâu rồi

Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe…

(Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hoá dân tộc, 1999)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Chỉ ra các tiếng hiệp vần với nhau trong hai dòng thơ sau:

     Đêm nay thầy ở đâu rồi

Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe…

Câu 3. (1.0 điểm) Biện pháp tu từ nhân hoá trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" đem lại tác dụng gì?

Câu 4. (1.0 điểm) Hình ảnh quê hương hiện lên như thế nào khi thầy đọc thơ?

Câu 5. (1.0 điểm) Em thích hình ảnh nào nhất trong bài thơ? Vì sao?

13
24 tháng 12 2025

Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"

Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:

- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.

- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.

- Gợi lên tình cảm thầy trò.

Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.

Câu 1: Thể thơ Lục Bát

21 tháng 9 2025

Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống


Dàn ý:

  1. Mở bài:
    • Giới thiệu khái quát về thói quen bắt chước. Bắt chước có thể là một phần tự nhiên của quá trình học hỏi, nhưng bắt chước mù quáng lại là một thói quen tiêu cực.
    • Nêu vấn đề chính: Thói bắt chước mù quáng mang lại nhiều tác hại nghiêm trọng cho con người.
  2. Thân bài:
    • Làm mất đi bản sắc và cá tính: Khi bắt chước, con người không còn là chính mình. Họ sống theo khuôn mẫu của người khác, dần dần đánh mất những nét riêng, sở thích và giá trị cá nhân. Đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin và hèn nhát trong việc thể hiện bản thân.
    • Gây ra sự thất bại: Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Bắt chước cách làm của người khác mà không có sự cân nhắc, sáng tạo sẽ rất dễ dẫn đến thất bại. Chẳng hạn, một người khởi nghiệp bắt chước mô hình kinh doanh của một công ty lớn mà không xem xét thị trường, vốn và năng lực của mình sẽ khó thành công.
    • Gây cản trở sự phát triển: Khi chỉ biết bắt chước, con người sẽ không còn động lực để tư duy, sáng tạo và tìm tòi cái mới. Xã hội sẽ dậm chân tại chỗ nếu ai cũng đi theo lối mòn cũ.
    • Mất đi sự tôn trọng của người khác: Một người chỉ biết bắt chước thường không được đánh giá cao, vì họ không có ý kiến độc lập và không thể tự đưa ra quyết định.
  3. Kết bài:
    • Khẳng định lại vấn đề: Thói bắt chước mù quáng là một rào cản lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội.
    • Nêu giải pháp: Mỗi người cần học cách sống là chính mình, biết lắng nghe, học hỏi nhưng phải có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên dấu ấn riêng.


Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em


Dàn ý:

  1. Mở bài:
    • Giới thiệu về trải nghiệm đó. Nêu cảm nhận ban đầu của bạn về nó. Ví dụ: "Trong cuộc đời mỗi người, có những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc..." hoặc "Đó là một buổi chiều mưa, nhưng lại là lúc tôi nhận ra giá trị của lòng nhân ái..."
  2. Thân bài:
    • Bối cảnh: Kể lại bối cảnh xảy ra câu chuyện: thời gian, địa điểm, những nhân vật liên quan.
    • Diễn biến:
      • Tường thuật lại toàn bộ câu chuyện theo trình tự thời gian.
      • Tập trung vào những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng mạnh. Dùng các từ ngữ miêu tả sinh động để người đọc cảm nhận được cảm xúc của bạn khi đó (vui, buồn, thất vọng, bất ngờ...).
      • Điểm mấu chốt: Sự kiện nào đã làm thay đổi suy nghĩ, cảm xúc của bạn?
    • Ý nghĩa: Phân tích sâu sắc ý nghĩa của trải nghiệm đó.
      • Bạn đã học được điều gì từ câu chuyện? (ví dụ: sự kiên trì, lòng biết ơn, tình yêu thương, sự tha thứ...)
      • Trải nghiệm đó đã thay đổi bạn như thế nào? (ví dụ: giúp bạn tự tin hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn, thay đổi cách nhìn về một vấn đề nào đó...).
  3. Kết bài:
    • Tổng kết lại giá trị của trải nghiệm.
    • Khẳng định lại rằng trải nghiệm đó sẽ mãi là một bài học quý giá, một kỷ niệm không thể quên.
25 tháng 12 2025

Bài làm

Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:CON VẸT NGHÈO Hằng năm, mỗi khi mùa xuân về, các giống chim và thú vật lại rủ nhau tới rừng mở hội. Nào Voi, Gấu, Hổ, Lợn Lòi… trổ tài thi khoẻ. Nào Khỉ, Vượn, Sóc… đua nhau leo trèo. Còn các giống chim khác thì thi giọng hát. Trong bầy chim muôn hình ngàn vẻ kia, có chú Vẹt áo đen. Chú ta cũng khấp khởi đi thi. Gặp ai, nó cũng khoe mình có...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

CON VẸT NGHÈO

Hằng năm, mỗi khi mùa xuân về, các giống chim và thú vật lại rủ nhau tới rừng mở hội. Nào Voi, Gấu, Hổ, Lợn Lòi… trổ tài thi khoẻ. Nào Khỉ, Vượn, Sóc… đua nhau leo trèo. Còn các giống chim khác thì thi giọng hát.

Trong bầy chim muôn hình ngàn vẻ kia, có chú Vẹt áo đen. Chú ta cũng khấp khởi đi thi. Gặp ai, nó cũng khoe mình có rất nhiều giọng hót. Nhìn thấy Vượn, nó hú tiếng Vượn. Nhác thấy Ếch bì bộp nhảy ra, nó cũng hé mỏ “ộp ộp” luôn. Trên đường đi, gặp Hoạ Mi đang cố luyện giọng, Vẹt tỏ vẻ thương hại. Nó nghĩ: “Việc gì mà phải hót lên hót xuống mãi thế?”. Gặp Sáo líu lo khúc hát đồng quê, Vẹt không thèm lắng nghe. Cậy mình biết hót nhiều giọng còn tuyệt vời hơn thế, nên nó huênh hoang lắm. Gặp ai, nó cũng khoe trước:

– Kì thi này, tôi chiếm giải nhất cho mà xem!

Vào cuộc thi, tất cả đều rất vui và cũng rất lo. Sẽ có và đang có ở đây biết bao nhiêu tài năng, chưa thể rõ ai xuất sắc nhất. Bởi thế, loài chim nào cũng yên lặng đợi chờ. Chỉ có Vẹt là cứ lăng xăng, chạy chỗ nọ chỗ kia, làm như mình sắp đoạt giải đến nơi.

Đã tới giờ thi tài. Giám khảo Chim Khuyên và Ếch mời các bạn trong rừng hãy hăng hái ghi tên biểu diễn. Trong lúc chờ đợi xem ai ra trước, Vẹt nhấp nhổm nhưng chưa dám xung phong. Bỗng nghe “quạc quạc”, Vẹt quay lại. A, Vịt à? Vịt ra trước à? Thấy vậy, Vẹt ta liền nhảy vào hót lên một chuỗi âm thanh líu ríu. Chim Khuyên nhấc bút định chấm cho Vẹt tám điểm, thì Liếu Điếu kêu:

– Đấy là tiếng hót của tôi!

Ban giám khảo bảo Vẹt hót lại. Vẹt liền đập cánh, vươn cổ gáy một hơi dài. Gà Trống lên tiếng:

– Đấy là tiếng hót của tôi!

Vẹt tức mình, huýt một hồi lanh lảnh. Chích Choè đứng bên cạnh nhận ngay đấy là giọng hót của Chích Choè.

Giám khảo Ếch liền bảo Vẹt hãy hót lên tiếng hót của chính mình. Vẹt nhướn cổ, hú rõ to. Ngay lúc đó, Vượn nhào tới túm lấy Vẹt:

– Sao lại hú tiếng của tớ?

Vẹt hoảng hốt bay lên. Nó không làm sao nghĩ ra cho được tiếng hót của mình nữa. Nó ngượng nghịu nhìn các bạn. Từ xưa đến nay, Vẹt chỉ biết bắt chước, hót theo tiếng hót của người khác mà thôi. Nó hót đấy mà nó không hiểu gì cả. Tới lúc này, nó mới biết là nó rất nghèo. Nó không có tiếng hót riêng…

(Theo Phong Thu, NXB Kim Đồng, 2018, tr.149 – 151)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5.

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi kể nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Chỉ ra 02 từ láy trong câu chuyện trên.

Câu 3. (1.0 điểm) Giải thích vì sao câu chuyện trên thuộc thể loại truyện đồng thoại.

Câu 4. (1.0 điểm) Em có đồng tình với hành động bắt chước của Vẹt không? Vì sao?

Câu 5. (1.0 điểm) Từ câu chuyện trên, em rút ra bài học gì cho bản thân?

23
14 tháng 12 2025
Câu 1. Ngôi kể Ngôi thứ ba. Câu 2. Hai từ láy: bắt chướclăng xăng. Câu 3. Đây là truyện đồng thoại vì nhân vật là loài vật (Vẹt) được nhân cách hóa và truyện mang ý nghĩa giáo dục. Câu 4. Em không đồng tình. Vẹt bắt chước mù quáng mà không hiểu gì, thiếu bản sắc riêng. Câu 5. Bài học rút ra: Cần sống độc lậptự tin và phát huy năng khiếu riêng của bản thân.


17 tháng 12 2025

1,kể theo ngôi thứ ba


I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM) Tôi là đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo. Mùa xuân đến, từ trên cánh tay và mái tóc của mẹ, từng nụ hoa dẻ nhú ra như quả cầu xanh có tua gai nhỏ. Rồi hoa lớn dần thành những trái dẻ xù xì gai góc. Anh chị em chúng tôi ra đời như thế đó. Chúng tôi lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông. Những cơn mưa ào đến...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Tôi là đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo.

Mùa xuân đến, từ trên cánh tay và mái tóc của mẹ, từng nụ hoa dẻ nhú ra như quả cầu xanh có tua gai nhỏ. Rồi hoa lớn dần thành những trái dẻ xù xì gai góc. Anh chị em chúng tôi ra đời như thế đó.

Chúng tôi lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông. Những cơn mưa ào đến gội ướt đẫm tóc mẹ và tắm mát cho chúng tôi. Nắng làm bỏng rát cả làn da và mái tóc của mẹ.

Khi thu về, trái dẻ khô đi, lớp áo gai đã chuyển sang màu vàng cháy. Hạt dẻ căng tròn làm nứt bung cả tấm áo gai xù đã quá chật chội. Tôi vẫn nằm im trong lớp áo gai xù, nép vào một cánh tay của mẹ. Tôi chẳng muốn chui khỏi tấm áo ấm áp, an toàn đó chút nào.

Nhưng rồi những ngày thu êm ả cũng trôi qua. Gió lạnh buốt bắt đầu thổi ù ù qua khu rừng. Gió vặn vẹo những cánh tay dẻo dai của mẹ. Gió lay giật tấm thân vững chãi của mẹ. Nhưng mẹ vẫn bền gan đứng trên sườn núi cheo leo.

Khi mùa đông đến, tôi cứ thu mình mãi trong tấm áo gai xù ấm áp của họ nhà dẻ gai và nép mãi vào tay mẹ, tóc mẹ. Tôi sợ phải xa mẹ, sợ phải tự sống một mình. Tôi sợ những gì lạ lẫm trong rừng già. Nhưng tôi nghe tiếng mẹ thì thầm:

– Bé Út của mẹ, con nhỏ nhất nhà so với các anh chị nhưng con cũng đã lớn rồi đấy. Con là một bé dẻ gai rất khoẻ mạnh. Hãy dũng cảm lên nào, con sẽ bay theo gió và sẽ trở thành một cây dẻ cường tráng trong cánh rừng này nhé!

Tôi cố quẫy mình… Tấm áo gai dày và ấm bất chợt bung ra. Và tôi nhìn rõ cả cánh rừng già, cả sườn núi cao, cả bầu trời mây gió lồng lộng ào ạt trôi trên đầu mẹ. Hoá ra tôi là trái dẻ cuối cùng đang nép trên cánh tay vươn cao nhất của mẹ. Mẹ đưa tay theo chiều gió và thì thầm với riêng tôi: “Tạm biệt con yêu quý, hạt dẻ bé bỏng nhất của mẹ. Dù thế nào con cũng sẽ lớn lên, hãy dũng cảm và đón nhận cuộc sống mới nhé!”.

Tôi bỗng thấy mình bay nhẹ theo làn gió, tung mình vào khoảng không bao la rồi rơi êm xuống thảm lá ấm sực của rừng già… “Tạm biệt mẹ! Con yêu mẹ!” – tôi gọi với theo gió trước khi chìm vào giấc ngủ đông ấm áp. Và tôi mơ…

(Theo Phương Thanh Trang, trích Câu chuyện của hạt dẻ gai, tạp chí Văn học và tuổi trẻ, số 12 (465), 2020)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. (0.5 điểm) Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong hoàn cảnh như thế nào?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra 02 từ láy có trong văn bản trên và giải thích nghĩa của các từ vừa tìm được.

Câu 4. (1.0 điểm) Nhân vật “tôi” thể hiện những đặc điểm gì của nhân vật trong truyện đồng thoại?

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ văn bản trên?

15
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.

Câu 2.

Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông (điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt).

Câu 3.

Hai từ láy trong văn bản:

  • xù xì: chỉ bề mặt thô ráp, không nhẵn.
  • chật chội: chật, gây cảm giác bức bối, khó chịu.

Câu 4.

Nhân vật “tôi” (hạt dẻ gai) mang đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại:

  • Vừa mang đặc điểm của loài vật/thực vật (có vỏ xù xì, gai góc).
  • Vừa mang đặc điểm của con người: biết suy nghĩ, cảm xúc, lo sợ, được mẹ an ủi (nhân hoá).

Câu 5.

Bài học rút ra:

Muốn trưởng thành, mỗi người cần dũng cảm rời vòng tay che chở, tin vào bản thân và sẵn sàng đối diện với thử thách trong cuộc sống.


18 tháng 12 2025

Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại

Câu 2: Theo văn bản ,những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa ,mưa dông

Câu 3: Hai từ láy là :"xù xì", "chật chội"

-Nghĩa của từ "chật chội": chật, gây nên cảm giác bức bối khó chịu

- Nghĩa của từ "xù xì": bù xù, gây nên cảm giác khó chịu

Câu 4: Nhân vật tôi ( dẻ gai) là mội loài thực vật , vừa mang đặc điểm của lòa vật vừa mang đặc điểm của con người  (được nhân các hóa)

Câu 5: Qua bài đọc em rút ra được bài học là : Muốn trưởng thành, ta phải dũng cảm bước ra khỏi vòng tay che  chở, tin vào bản thân, sẵn sàng đối diện với thử thách

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:HƯƠNG HOA HOÀNG LAN Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

HƯƠNG HOA HOÀNG LAN

Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn cây hoàng lan, nó như một cậu anh cả trong vườn, to lớn, vững chắc…

– Bà ơi, cây hoàng lan này có lâu chưa bà?

Bà cười, tay bà vẫn cẩn thận gài những nhành cây nhót phủ đầy hoa trắng ngà vào hàng rào:

– Nó có từ lâu lắm, hồi bằng các cháu, bà đã thấy nó to và cao như thế này rồi. Bao năm trôi qua, cứ tưởng nó sẽ già đi, nhưng không, mỗi mùa xuân tới nó lại trẻ trung như hồi nào.

– Bà ơi, thế bà có biết ai trồng nó không hả bà? Bà lắc đầu:

– Hồi trước, bà cũng hỏi như cháu ấy, nhưng chẳng ai biết.

Hà đến bên cây hoàng lan, thân nó mốc thếch và nứt nẻ. Những chú kiến đen hối hả leo cây. Từ trên cành cây cao, đôi chim sâu chuyền cành tíu tít.

– Cháu biết không, cứ mỗi dịp cây hoàng lan ra hoa thì cả vùng này thơm nức…

– Bà ơi, bên kia sông có ngửi thấy hương của cây hoàng lan này không? – Hà tò mò hỏi.

– Có chứ! Hương hoa lan còn bay xa hơn nữa cháu ạ.

– Xa nữa cơ ạ? Con sông rộng thế mà gió cũng đưa nó qua sông được bà nhỉ…

Bà dừng tay, đôi mắt nhìn xa xôi:

– Hồi ông đi bộ đội, thư nào về ông cũng hỏi cây hoàng lan. Ông nhớ nó lắm. Rồi ông bảo bà gửi cho ông mấy cánh hoa vàng của cây hoàng lan này.

– Bà có gửi cho ông không? – Hà chăm chú. Bà gật đầu rồi dắt Hà vào nhà. Bà lần mở cái rương mây nhỏ trên đầu giường và lấy ra mấy cánh hoa đã héo quắt queo và đen sẫm lại.

– Những cánh hoa này đấy cháu ạ. Các chiến sĩ trong đơn vị đã tìm thấy nó ở dưới đáy ba lô của ông… Hà run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà. Cô bé ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ. Hà thấy bà cũng nhìn theo… Bây giờ thì cô bé đã hiểu vì sao bà yêu quý cây hoàng lan và mảnh vườn này đến thế. Những cánh hoa hoàng lan đã đen sậm trên tay Hà như vẫn còn phảng phất hương thơm.

(Hương hoa hoàng lan, Nguyễn Phan Khuê, NXB Kim Đồng)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. (0.5 điểm) Theo câu chuyện trên, ai là người trồng cây hoàng lan?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nhân hoá được sử dụng trong câu sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó:

     Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà.

Câu 4. (1.0 điểm) Theo em, vì sao Hà “run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà” và “ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ”?

Câu 5. (1.0 điểm) Từ câu chuyện về cây hoàng lan, em hãy viết một đoạn văn khoảng 3 –5 câu trình bày suy nghĩ của em về vai trò của gia đình đối với cuộc sống của mỗi người.

69
27 tháng 10 2025

gia đình là chụ cột tinh thần của chúng ta và cũng là nơi sưởi ấm trái tim ta

5 tháng 11 2025

manager là gì


3 tháng 11 2025

Những năm tháng Tiểu học luôn là quãng thời gian hồn nhiên và đáng nhớ nhất trong cuộc đời em. Trong rất nhiều kỷ niệm đẹp ấy, em nhớ nhất là lần đầu tiên em được tham gia Hội thi “Kể chuyện Bác Hồ” của trường vào năm lớp 4.

Hôm đó, khi cô giáo chủ nhiệm thông báo em được chọn đại diện lớp đi thi, em vừa vui mừng vừa lo lắng. Em sợ mình nói sai hoặc quên bài trước đông người. Thế nhưng cô giáo luôn động viên, giúp em luyện tập mỗi ngày sau giờ học. Cô còn chỉ cho em cách đứng thẳng, mỉm cười, và nói thật tự nhiên để tạo thiện cảm với khán giả. Em chọn kể câu chuyện “Chiếc áo ấm tặng Bác” – một câu chuyện cảm động nói về tấm lòng nhân hậu của Bác Hồ đối với các cháu thiếu nhi.

Đến ngày thi, sân trường rợp cờ hoa, các lớp ngồi ngay ngắn cổ vũ. Khi bước lên sân khấu, em run lắm, tim đập nhanh đến mức tưởng như ai cũng nghe thấy. Nhưng khi nhìn thấy cô giáo đang mỉm cười động viên dưới hàng ghế khán giả, em bỗng cảm thấy bình tĩnh hơn. Em bắt đầu kể, giọng nói dần rõ ràng, truyền cảm, và em cố gắng thể hiện cảm xúc bằng cả trái tim. Khi em vừa dứt lời, mọi người vỗ tay vang dội, khiến em xúc động đến suýt rơi nước mắt.

Kết quả, em đạt giải Nhì toàn trường. Cô giáo ôm em và khen em rất dũng cảm. Ba mẹ cũng tự hào và thưởng cho em một quyển truyện mới. Từ lần đó, em hiểu rằng: nếu mình tin tưởng vào bản thân và chăm chỉ luyện tập, nhất định sẽ thành công.

Kỷ niệm ấy mãi là một trải nghiệm đáng nhớ trong tuổi thơ học trò của em — nơi em học được sự tự tin, lòng kiên trì và niềm vui khi vượt qua chính mình.


21 tháng 12 2025

Trong những năm tháng học Tiểu học, em có rất nhiều kỉ niệm đẹp, nhưng trải nghiệm khiến em nhớ mãi là lần đầu tiên em tham gia hội thi văn nghệ của trường. Đó là một kỉ niệm vừa hồi hộp, vừa vui sướng mà em không bao giờ quên.


Hôm đó, lớp em được chọn biểu diễn múa trong buổi chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam. Ngay từ những buổi tập đầu tiên, em đã cảm thấy rất lo lắng vì sợ mình làm sai động tác, ảnh hưởng đến cả đội. Tan học, em cùng các bạn ở lại tập luyện cùng cô giáo. Có hôm chân đau, người mệt nhưng em vẫn cố gắng vì không muốn bỏ cuộc. Cô giáo luôn nhẹ nhàng động viên chúng em, nhờ vậy em cảm thấy tự tin hơn rất nhiều.


Đến ngày biểu diễn, khi đứng sau cánh gà nhìn xuống sân trường đông kín người, tim em đập rất nhanh. Em hồi hộp đến mức hai tay run lên. Nhưng khi tiếng nhạc vang lên, em nhớ lại lời cô dặn và bắt đầu thực hiện từng động tác. Mọi lo lắng dần tan biến, em cảm thấy mình đang hòa vào bài múa. Khi tiết mục kết thúc, em nghe thấy những tràng pháo tay vang lên khắp sân trường và lòng em tràn ngập niềm vui.


Từ trải nghiệm ấy, em rút ra bài học cho bản thân rằng: chỉ cần cố gắng, kiên trì và tin vào chính mình thì em sẽ vượt qua được nỗi sợ hãi. Kỉ niệm này đã giúp em trưởng thành hơn và trở thành một trải nghiệm đáng nhớ trong những năm tháng học Tiểu học của em.

26 tháng 9 2025

Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, không có câu chuyện nào lại gắn bó sâu sắc với Thủ đô Hà Nội và tinh thần yêu nước hơn Truyền thuyết Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm). Truyền thuyết này không chỉ giải thích nguồn gốc của một di tích lịch sử mà còn tôn vinh chiến thắng vĩ đại và phẩm chất cao đẹp của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi.

Câu chuyện bắt đầu vào thời kỳ đất nước chìm trong ách đô hộ của giặc Minh. Khi đó, thủ lĩnh Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đang gặp vô vàn khó khăn, thiếu vũ khí và lương thực. Long Quân (Vua Rồng), cảm thương trước cảnh lầm than và thấy được ý chí quật cường của Lê Lợi, đã quyết định trao tặng một thanh gươm thần để giúp ông đánh đuổi quân xâm lược.

Thanh gươm thần này không được trao trực tiếp. Thay vào đó, một lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy trong lưới của ngư dân Lê Thận. Sau đó, một chuôi gươm nạm ngọc lại được chính Lê Lợi tìm thấy dưới gốc cây đa. Khi tra vào, lưỡi gươm và chuôi gươm khớp nhau một cách kỳ diệu, tạo thành thanh gươm báu mang tên ''Thuận Thiên''. Từ khi có gươm thần, nghĩa quân Lam Sơn như được tiếp thêm sức mạnh, liên tục giành thắng lợi và cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.

Sau khi đất nước thái bình, Lê Lợi lên ngôi vua (Lê Thái Tổ). Một hôm, nhà vua đang đi thuyền dạo chơi trên chiếc hồ lớn ở kinh thành. Bỗng nhiên, một con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước, tiến về phía thuyền Rồng. Rùa Vàng cất tiếng nói rõ ràng: "Xin bệ hạ hoàn trả gươm thần cho Long Quân!".

Nhà vua hiểu rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành, chiến tranh đã kết thúc, và lòng nhân ái mới là thứ cần thiết để xây dựng đất nước. Vua Lê Lợi liền rút gươm trao trả cho Rùa Vàng. Rùa Vàng ngậm thanh gươm báu rồi lặn xuống đáy hồ và biến mất. Kể từ đó, chiếc hồ được đặt tên là Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm), còn được gọi là Hồ Gươm.

Truyền thuyết Hồ Gươm là một câu chuyện đẹp không chỉ về lòng dũng cảm chiến đấu mà còn về tinh thần hòa bình. Nó khẳng định rằng, vũ khí thần thánh chỉ cần thiết khi đất nước bị xâm lăng. Khi độc lập đã được thiết lập, thanh gươm phải được trao trả, biểu tượng cho việc dân tộc ta gác lại chiến tranh, tập trung vào xây dựng cuộc sống thái bình. Hồ Gươm và tháp Rùa vẫn đứng đó giữa lòng Hà Nội, như một lời nhắc nhở vĩnh cửu về truyền thống yêu nước, giữ gìn hòa bình và sự kết nối thiêng liêng giữa con người với đất trời.

17 tháng 10 2025

Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện đặc sắc. Truyện dân gian đã làm giàu trí tưởng tượng của chúng ta và là kho báu tình thần vô giá mà cha ông ta để lại. Trong đó , có những câu chuyện truyện truyền vừa mang những chi tiết kì ảo, hoang đường vừ gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Một trong số đó, em ấn tượng nhất với câu chuyện Thánh Gióng. Thuở xưa, vào đời Hùng Vương thứ VI, ở làng Gióng có hai vợ chồng già nổi tiếng là chăm chỉ làm ăn và có phúc đức. Nhưng hai vợ chồng lại muộn con. Một ngày nọ, bà lão đi làm đồng thì thấy một vết chân khổng lồ. Bà liền ướm thử xem hơn kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai. Mười hai tháng sau bà sinh ra một cậu bé, mặt mũi khôi ngô, sáng sủa. Nhưng điều kì lạ là đến khi lên ba tuổi, cậu bé vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, đặt đâu thì nằm đấy. Bấy giờ, giặc Ân muốn xâm chiếm bờ cõi nước ta. Thấy giặc mạnh, vua Hùng lo sợ nên hạ lệnh đi tìm người tài giỏi cứu nước. Gióng nghe thấy tiếng sứ giả rao bèn cất tiếng nói đầu tiên: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây." Khi sứ giả bước vào, cậu bé nói:"Ông về hãy tâu với vua rằng làm cho ta một bộ áo giáp sắt, một chiếc roi sắt và một con ngựa sắt. Ta sẽ đánh tan lũ giặc này." Sứ giả vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ vội chạy về tâu với vua. Vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật mà chú bé dặn. Sau hôm gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc mà đã đứt chỉ. Cha mẹ làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con đành phải chạy nhờ bà con, làng xóm. Ai cũng vui lòng gom góp gạo nuôi cậu bé vì ai cũng đều muốn cậu bé đánh đuổi lũ giặc này để cho mọi người được sống trong sự bình yên, hạnh phúc. Bấy giờ, giặc đã đến chân núi Trâu, sứ giả vội vàng đem những vật mà chú bé đã dặn đến. Gióng vươn vai một cái đã biến thành một tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Chàng khoác trên mình bộ áo giáp sắt, tay cầm rồi sắt nhảy lên lưng ngựa. Ngựa hí vang dội mấy tiếng rồi chạy đến nơi có giặc, đón đầu chúng. Gióng đánh hết lớp giặc này đến lớp giặc khác. Giặc chết như ngả rạ. Đang đánh thì rồi sắt gãy, Gióng nhanh trí nhổ những bụi tre ở bên đường quật vào giặc. Đám tàn quân còn xót lại chạy đè lên nhau. Gióng đuổi bọn chúng đến chân núi Sóc. Đến đó, Gióng cởi bộ giáp sắt, rồi một mình một ngựa từ từ bay lên trời. Vua nhớ công ơn nên phong là Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng và lập đền thờ ngay tại quê nhà. Truyện truyền thuyết Tháng Gióng không chỉ là một câu chuyện bình thường mà là một bản hùng ca về sự dũng cảm, lòng nhân hậu và tình yêu nước tha thiết. Quả thật, truyện truyền thuyết không chỉ làm giàu trí tưởng tượng mà còn gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Trong thời đại hôm này, tinh thần Thánh Gióng vẫn vẹn nguyên giá trị. Nó nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta phải học tập rèn luyện để bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh.


Trong kho tàng truyền thuyết phong phú của Việt Nam, câu chuyện về Sự Tích Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm luôn chiếm một vị trí đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa lịch sử mà còn vì vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của nó. Truyền thuyết này gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV

Truyền thuyết kể rằng, khi đất nước đang chìm trong ách đô hộ của giặc Minh, lòng người căm phẫn và khao khát độc lập. Thấu hiểu ý trời và lòng dân, Đức Long Quân đã quyết định trao cho Lê Lợi một bảo vật thiêng liêng để giúp ông hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc: đó là Thanh Gươm Thần. Thanh gươm không được trao trực tiếp. Lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy dưới đáy sông, còn chuôi gươm nạm ngọc lại được tìm thấy trên ngọn cây, tỏa ánh sáng rực rỡ, tất cả đều do người của Lê Lợi tình cờ nhặt được

khi lưỡi và chuôi hợp lại, thanh gươm trở nên hoàn chỉnh, mang sức mạnh phi thường. Nhờ có Thanh Gươm Thần, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, liên tiếp giành thắng lợi vang dội, cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước. Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên nhà Hậu Lê, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị

Saukhi đất nước yên bình, tong một lần nhà vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) dạo chơi trên chiếc thuyền rồng ở hồ Tả Vọng (tên cũ của Hồ Gươm), một Con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước. Rùa Thần tiến đến gần thuyền vua, cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hoàn trả lại gươm cho Long Quân!” Nhà vua hiểu ra rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành. Vua bèn rút gươm trao cho Rùa Vàng.Rùa Thần đón lấy gươm, ngậm vào miệng rồi lặn xuống đáy hồ. Kể từ đó, hồTả Vọng được đổi tên thành Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm) minh chứng cho lòng nhân ái, hòa bình của dân tộc và sự đồng lòng giữa Trời – Đất – Người trong công cuộc cứu nước

Truyền thuyết này không chỉ là một câu chuyện thần kỳ mà còn thể hiện tinh thần thượng võ và yêu chuộng hòa bình của người Việt, nhắc nhở các thế hệ về công lao của cha ông và ý nghĩa thiêng liêng của độc lập, tự do

26 tháng 9 2025

Trong số các truyền thuyết cổ xưa của dân tộc Việt Nam, câu chuyện về Sơn Tinh và Thủy Tinh không chỉ là một huyền thoại giải thích hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người Việt trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai.

Truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Hùng thứ 18, có một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Vua Hùng muốn kén cho con gái một người chồng xứng đáng nên đã mở hội thi tuyển rể. Từ khắp nơi, nhiều chàng trai tài giỏi tìm đến, nhưng nổi bật nhất là hai vị thần: Sơn Tinh và Thủy Tinh.

Sơn Tinh là một chàng trai khôi ngô, có tài lạ: chỉ cần vẫy tay, núi đồi trùng điệp sẽ mọc lên, cây cối xanh tươi. Thủy Tinh cũng không kém cạnh, chàng có khả năng hô mưa gọi gió, làm cho biển cả và sông ngòi cuộn trào. Cả hai đều tài giỏi ngang sức ngang tài, khiến Vua Hùng khó lòng lựa chọn.

Cuối cùng, Vua Hùng đặt ra điều kiện thách cưới: "Sáng sớm hôm sau, ai mang đến sính lễ gồm một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao đến trước, người đó sẽ được cưới Mị Nương."

Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng, Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến trước. Vua Hùng giữ lời hứa, gả Mị Nương cho Sơn Tinh. Thần Núi rước vợ về núi Tản Viên.

Khi Thủy Tinh đến nơi, thấy Mị Nương đã theo chồng, chàng vô cùng giận dữ. Cảm thấy bị sỉ nhục, Thủy Tinh đã nổi cơn lôi đình, dốc toàn lực để báo thù. Thần Nước hô mưa, gọi gió, làm nước biển dâng cao, dìm chìm đồng bằng, muốn nhấn chìm núi Tản Viên để cướp lại Mị Nương.

Trước sức mạnh kinh hoàng của nước, Sơn Tinh không hề nao núng. Thần Núi dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên bao nhiêu, Sơn Tinh đắp đất, nâng núi cao lên bấy nhiêu. Cuộc chiến kéo dài ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng, sức Thủy Tinh kiệt dần, đành phải rút lui.

Tuy nhiên, mối thù này không bao giờ dứt. Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh để đòi Mị Nương, gây ra cảnh lũ lụt khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và năm nào cũng vậy, Sơn Tinh vẫn chiến thắng, giữ vững bờ cõi và bảo vệ cuộc sống của người dân.