Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1.
Văn bản trên được viết theo thể thơ 4 chữ.
Câu 2.
Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:
“Cánh chim bay xuống chiều”
“Buổi chiều thu mướt xanh”
“Nhấp nhô đều sóng lúa”
Câu 3.
Từ láy: chậm rãi
Tác dụng: Gợi tả sự thong thả, yên bình của cảnh vật và nhịp sống ở đồng quê, góp phần tạo nên không khí êm đềm, nhẹ nhàng cho bức tranh chiều thu nơi đồng nội.
Câu 4.
Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.
Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả rất trong trẻo, dịu dàng và nên thơ với màu sắc nhẹ nhàng, hương thơm của cỏ hoa, hình ảnh sống động của chim, cò, trâu và làn khói bếp – tất cả gợi nên vẻ đẹp thanh bình, gần gũi của làng quê Việt Nam.
Câu 5.
Biện pháp tu từ: Nhân hóa (“Gọi trăng thu xuống gần”)
Tác dụng: Làm cho hình ảnh làn khói bếp trở nên có hồn, như có thể trò chuyện với thiên nhiên. Qua đó thể hiện sự giao hòa giữa con người và vạn vật, tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và nên thơ của làng quê lúc chiều thu.
Câu 6.
Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều cùng bà đi chăn trâu trên cánh đồng quê, ngắm hoàng hôn buông xuống và hít hà mùi thơm của rơm rạ. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng: tác giả muốn truyền tải vẻ đẹp bình dị, thanh bình và đầy yêu thương của quê hương, nơi luôn lưu giữ những ký ức trong trẻo và gắn bó với tuổi thơ mỗi người.
Câu 9: So sánh và nêu tác dụng
a.
- Câu (1): “Trong gian phòng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”
- Câu (2): “Trong gian phòng chan hoà ánh sáng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”
👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần trạng ngữ được mở rộng bằng cụm từ “chan hoà ánh sáng”, giúp miêu tả rõ hơn không gian của gian phòng triển lãm.
👉 Tác dụng:
Việc mở rộng thành phần trạng ngữ làm cho không gian bức tranh trở nên sinh động, có sức gợi hình, gợi cảm hơn, đồng thời giúp người đọc cảm nhận được vẻ trang trọng, sáng sủa của phòng triển lãm – nơi bức tranh của thầy được trưng bày.
b.
- Câu (1): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản đẹp.”
- Câu (2): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản rất đẹp.”
👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần vị ngữ được mở rộng nhờ thêm từ “rất”, làm tăng mức độ biểu cảm cho tính từ “đẹp”.
👉 Tác dụng:
Việc mở rộng vị ngữ giúp nhấn mạnh cảm xúc ngưỡng mộ, yêu thích của người viết đối với bức tranh, đồng thời thể hiện rõ hơn tình cảm trân trọng và tự hào dành cho người thầy họa sĩ.
Câu 10: Bài học hoặc thông điệp rút ra
Câu chuyện gửi gắm một bài học sâu sắc về lòng biết ơn và tình yêu thương giữa thầy và trò.
Ta hiểu rằng: đôi khi sự quan tâm, động viên chân thành dù nhỏ bé cũng có thể trở thành niềm an ủi lớn lao cho người khác. Câu chuyện cũng nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng, ghi nhớ công lao của thầy cô, bởi chính họ là những người âm thầm gieo hạt, nuôi dưỡng ước mơ và tâm hồn của học trò.
Câu 9
A,
(1) trạng ngữ"trong gian phòng" đơn thuần nêu không gian
(2) trạng ngữ mở rộng thành "trong gian phòng chan hoà ánh sáng" bổ sung thêm chi tiết ánh sáng
Tác dụng:cụ thể ,sing động hơn
B,
(1) vị ngữ đẹp chỉ mức độ bình thường
(2)vị ngữ được mở rộng bằng từ "rất"-> rất đẹp
Tác dụng:trân trọng, ngưỡng mộ
Câu 10
Em rút ra bài học sâu sắc về lòng biết ơn và lòng trân trọng với thầy cô giáo
Tham khảo
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện cổ tích hay, để lại nhiều bài học sâu sắc và ý nghĩa. Truyện Tấm Cám là một trong số những tác phẩm như thế, nhân vật cô Tấm là điển hình cho vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam, vừa đẹp người lại đẹp nết, dù sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn giữ được tính cách nhân hậu, đảm đang, chính vì thế nàng đã có được hạnh phúc sau cùng.
Xây dựng lên Tấm là một cô gái mồ côi cha mẹ, phải sống với mẹ con dì ghẻ. Tấm bị bắt làm việc vất vả, nặng nhọc và bị đối xử bất công. Có thể nhận thấy được chính với hoàn cảnh Tấm tiêu biểu cho hoàn cảnh của người con riêng trong chuyện cổ tích. Thế nhưng Tấm lại có phẩm chất hiền lành, chăm chỉ chịu thương chịu khó. Tấm chính là hiện thân cho cái thiện, cái đẹp ở người lao động. Hình ảnh cô Tấm hiền lành chăm chỉ là thế nhưng phải chịu đựng, cam chịu sự đày đọa bất công của mẹ con Cám. Tấm đã phải làm việc vất vả còn Cám thì được nuông chiều. Giỏ tép do chính Tấm bắt cực nhọc lại bị Cám cướp mất, chính Cám đã cướp đi thành quả lao động của Tấm. Cho đến khi cả khi làng mở hội thì Tấm cũng ngoan ngoãn làm theo lời dì dặn mà không cãi lại cũng không dám chốn đi. Lúc này đây thì Tấm lại khóc và con người hiền lành ấy cũng được bụt giúp đỡ, khi Tấm đã trở thành hoàng hậu thì Tấm vẫn bị mẹ con Cám hãm hại hết lần này đến lần khác. Với ngôi vị hoàng hậu và cuộc sống giàu sang cũng chưa đủ để cứu Tấm khỏi âm mưu hãm hại của dì ghẻ. Thế rồi không chỉ thế Tấm đã rất nhiều lần chết đi sống lại và hóa thân vào nhiều thứ từ hóa thân thành chim vàng anh, rồi thành cây xoan đào, hay cũng là hiện hình vào khung cửi rồi vào quả thị và trở thành người. Cô Tấm luôn luôn phản kháng quyết liệt hóa thân và hồi sinh để đấu tranh giành sự sống và hạnh phúc.
Hình ảnh đẹp của Tấm mà giúp chúng ta hiểu hơn phần nào cuộc sống của người lao động trong xã hội cũ. Những con người này thấp cổ bé họng và bỗng nhiên bị trà đạp bất công và không có quyền nói lên tiếng nói của mình. Chính vì thế mà họ gửi những ước mơ của mình, niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn vào trong cổ tích bình chứa ước mơ của dân gian xưa.
Câu 1 (0,5 điểm):
Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.
👉 Tác dụng: giúp câu chuyện trở nên chân thật, gần gũi và thể hiện trực tiếp tình cảm, cảm xúc của người kể với nhân vật Ga-ro-nê.
Câu 2 (0,5 điểm):
Hai chi tiết miêu tả ngoại hình của Ga-ro-nê:
- “Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng.”
- “Cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi.”
(hoặc: “Lưng khom khom và đầu rụt ngang vai.” – cũng được chấp nhận)
Câu 3 (1,0 điểm):
Ba chi tiết thể hiện tình cảm của “tôi” đối với Ga-ro-nê:
- “Tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận không được gặp Ga-ro-nê.”
- “Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu.”
- “Tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình.”
Nhận xét:
→ “Tôi” có tình cảm yêu mến, kính phục và trân trọng đối với Ga-ro-nê – một người bạn tốt bụng, mạnh mẽ và cao thượng.
Câu 4 (1,5 điểm):
Vì sao có một số người không có thiện cảm với Ga-ro-nê:
→ Bởi vì Ga-ro-nê luôn chống lại những hành động độc ác của họ, bảo vệ những bạn nhỏ yếu hơn, nên những kẻ xấu trong lớp ghét và ganh tị với cậu.
Cảm nhận về nhân vật:
→ Ga-ro-nê là người dũng cảm, chính trực, nhân hậu và sẵn sàng bảo vệ lẽ phải. Cậu xứng đáng là tấm gương sáng về lòng tốt và tinh thần nghĩa hiệp.
Câu 5 (1,5 điểm):
Bài học rút ra (5–7 dòng):
Qua văn bản, em học được rằng trong tình bạn, chúng ta cần biết yêu thương, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau. Cần cư xử chân thành, dũng cảm đứng về phía điều đúng, không thờ ơ hay đồng lõa với cái xấu. Hãy giống như Ga-ro-nê – luôn sống nhân hậu, sẵn sàng chia sẻ và quan tâm đến người khác. Khi biết nghĩ cho bạn bè, ta không chỉ làm người khác vui mà còn khiến bản thân trở nên tốt đẹp hơn.
Câu1:ngôi kể thứ nhất
Câu2 hai chi tiết miêu tả ngoại hình của Nhân ga _ro_nê là
_cậu ấy lớn nhất lớp đầu to vai rộng
_lưng khom khom và đầu rụt ngang vai
câu3 Hà nêu được 3 trong sồ các chi tiết thể hiện tình cảm của nhân vật tôi với ga _ro_nê sau+người đã cho cậu bé miền Nam cả tem
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có biết bao sự kiện hào hùng gắn với những con người kiên cường. Một trong những sự kiện mà em ấn tượng nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” gắn liền với tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Đầu năm 1954, thực dân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ở vùng Tây Bắc, hòng cắt đứt đường liên lạc của ta và biến nơi đây thành “pháo đài bất khả xâm phạm”. Trước tình thế đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Ban đầu, kế hoạch là “đánh nhanh, thắng nhanh”, nhưng khi thấy tình hình chưa thật thuận lợi, Đại tướng đã can đảm ra quyết định chuyển phương châm sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định ấy đã thể hiện tầm nhìn sáng suốt và bản lĩnh vững vàng của vị Tổng tư lệnh.
Suốt 56 ngày đêm, quân và dân ta đã kiên cường chiến đấu. Những chiếc xe kéo pháo qua đèo dốc, những đoàn dân công gùi gạo, gùi đạn vượt núi rừng hiểm trở là hình ảnh không thể nào quên. Ngày 7/5/1954, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries – tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn sụp đổ. Chiến thắng này buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
Sự kiện Điện Biên Phủ không chỉ là mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc ta mà còn là niềm tự hào của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Qua chiến thắng này, em càng khâm phục Đại tướng Võ Nguyên Giáp – một vị tướng tài ba, đồng thời là người học trò xuất sắc của Bác Hồ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ để lại cho em bài học quý giá: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nếu có lòng dũng cảm, sự kiên trì và niềm tin vào chính nghĩa, chúng ta nhất định sẽ giành thắng lợi. Em tự nhủ phải cố gắng học tập, rèn luyện để xứng đáng với thế hệ cha ông đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Bài làm
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, có nhiều tấm gương thiếu niên dũng cảm đã hy sinh vì Tổ quốc. Trong số đó, em rất khâm phục anh Kim Đồng, người đội viên đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1929, người dân tộc Nùng, quê ở xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Khi Cách mạng Việt Nam còn hoạt động bí mật, anh được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho cán bộ Việt Minh. Dù tuổi còn nhỏ, Kim Đồng luôn tỏ ra nhanh nhẹn, mưu trí và rất dũng cảm. Anh thường vượt qua những con đường rừng hiểm trở, mang thư, chuyển tin, đưa đón cán bộ cách mạng an toàn.
Một lần, khi đang làm nhiệm vụ, Kim Đồng bất ngờ bị lính Pháp phát hiện. Để bảo vệ đồng đội, anh đã nhanh trí chạy hướng khác, đánh lạc hướng địch. Khi bọn lính nổ súng truy đuổi, anh vẫn kiên cường chạy đến nơi an toàn để báo tin. Nhưng do bị trúng đạn, Kim Đồng đã anh dũng hy sinh khi mới 14 tuổi. Sự hi sinh của anh khiến ai cũng thương tiếc và khâm phục.
Hình ảnh Kim Đồng mãi là biểu tượng đẹp của lòng dũng cảm, trung thành và tinh thần yêu nước. Mỗi lần nghe kể về anh, em cảm thấy vô cùng xúc động và tự hào. Em tự nhủ sẽ noi gương Kim Đồng – luôn chăm học, biết giúp đỡ bạn bè, và sống có trách nhiệm với Tổ quốc.
Câu 1:Đoạn trích trên trong văn bản"Cổng trường mở ra"của Tác giả Lý Lan!
Câu 2:+Hình thức tự bộc bạch như nhật kí của mẹ nói với người con!
+Sử dụng ngôn ngữ biểu cảm!
Câu 3:Trạng ngữ là"Vào đêm trước ngày khai trường của con"!!.Nhằm ám chỉ một ngày rất quan trọng với con mình!
Câu 4:Từ láy:Thanh thoát,nhẹ nhàng,thỉnh thoảng,đôi môi!
Từ ghép:Khai trường.....
Câu 5:Người con:
+Mẹ chỉ dỗ một lát là ngủ!!
Người mẹ:Trằn trọc ko ngủ được!
Câu 1:
- Thể thơ: Thơ lục bát.
- Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.
Câu 2: Đoạn trích thể hiện tình cảm yêu thương, kính trọng, nhớ thương và lòng biết ơn tha thiết của người con đối với mẹ. Tác giả bày tỏ nỗi xót xa khi không còn mẹ bên đời, đồng thời khẳng định dù trưởng thành hay già đi thì vẫn luôn cần có mẹ.
Câu 3: (Đoạn văn 3-5 câu)
Thông điệp em tâm đắc nhất là: Dù ở bất cứ lứa tuổi nào, con người vẫn luôn cần có mẹ. Bởi mẹ là điểm tựa tinh thần vững chắc, là nguồn yêu thương vô điều kiện nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người. Khi đọc đoạn thơ, em càng thêm trân trọng công lao, tình yêu thương của mẹ và tự nhắc nhở bản thân phải biết yêu thương, hiếu kính với mẹ khi còn có thể.
Câu 1: Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính
- Thể thơ: Đoạn trích được viết theo thể thơ bốn câu (tứ tuyệt), mỗi câu 7 chữ, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
- Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, thể hiện tình cảm sâu sắc của người con đối với mẹ.
Câu 2: Tình cảm của tác giả đối với mẹ được thể hiện như thế nào?
- Tác giả thể hiện tình cảm thương yêu, nhớ nhung và sự cô đơn khi mẹ vắng mặt.
- Có cảm giác nuối tiếc, đau xót khi mẹ đã “xa” (mất đi), câu thơ “lỏng chỏng giữa nhà mồ côi” gợi lên sự trống trải, cô đơn.
- Dù đã lớn tuổi, tác giả vẫn khẳng định “Con vẫn cần mẹ như thời trẻ thơ” – tình cảm gắn bó và tôn trọng mẹ suốt cuộc đời.
Câu 3: Thông điệp em tâm đắc nhất qua văn bản là gì? Nêu lí do chọn thông điệp đó.
Đoạn văn mẫu:
Thông điệp mà em tâm đắc nhất là tình mẫu tử thiêng liêng và sự cần thiết của mẹ trong cuộc đời mỗi người. Dù con người có lớn lên, trưởng thành hay trải qua bao nhiêu khó khăn, thì sự hiện diện và tình yêu thương của mẹ vẫn luôn là điều không thể thiếu. Em chọn thông điệp này vì nó giúp em hiểu rõ hơn về giá trị của gia đình và lòng biết ơn đối với công lao của mẹ.



Bn tham gia mini game của mik ko
5x72 bằng bao nhiêu vậy
Câu 1 (khoảng 200 chữ)
Sau khi đọc bài thơ “Bài ca người lính thời bình” của Trần Đăng Khoa, em cảm thấy vô cùng xúc động và tự hào về những người lính trong thời đại hôm nay. Bài thơ không nói đến tiếng súng hay chiến trường ác liệt mà khắc họa một cuộc chiến khác – cuộc chiến với nghèo đói, lạc hậu và những khó khăn của đời sống thời bình. Hình ảnh người lính “vẫn gian nan làm bạn, vẫn gió sương làm nhà” gợi cho em sự hi sinh thầm lặng, bền bỉ. Họ không còn đối mặt với bom đạn nhưng vẫn không ngừng lao động, xây dựng quê hương, biến “bãi hoang thành đô thị”. Em đặc biệt ấn tượng với tinh thần sẵn sàng chiến đấu: dẫu pháo “nằm như mơ ngủ”, các anh vẫn luôn cảnh giác. Giọng thơ khi thì hóm hỉnh, khi lại mạnh mẽ, thể hiện khí phách hiên ngang của người lính. Qua bài thơ, em càng thêm biết ơn và trân trọng những con người đang âm thầm bảo vệ và dựng xây đất nước trong thời bình.
Câu 2 (khoảng 400 chữ)
Nhân vật con Kiến trong văn bản ở phần Đọc hiểu là một hình tượng giàu ý nghĩa, góp phần gửi gắm thông điệp sâu sắc của tác giả. Trước hết, con Kiến hiện lên là một sinh vật nhỏ bé nhưng chăm chỉ, cần cù và giàu nghị lực. Dù thân hình nhỏ nhoi, nó vẫn miệt mài lao động, tha từng hạt mồi, không quản khó khăn. Hình ảnh ấy gợi liên tưởng đến những con người bình thường trong cuộc sống – âm thầm làm việc, góp sức xây dựng tập thể mà không cần được tán dương.
Không chỉ chăm chỉ, con Kiến còn thể hiện tinh thần đoàn kết. Trong tự nhiên, loài kiến luôn sống thành đàn, biết phối hợp nhịp nhàng để hoàn thành công việc lớn. Qua đó, tác giả ngợi ca sức mạnh của sự đồng lòng: khi biết gắn bó và sẻ chia, những cá thể nhỏ bé cũng có thể tạo nên thành quả to lớn.
Bên cạnh đó, con Kiến còn là biểu tượng của ý chí và sự bền bỉ. Dù gặp trở ngại, nó vẫn không bỏ cuộc. Chi tiết này mang ý nghĩa khích lệ con người trong cuộc sống: trước khó khăn, thử thách, cần giữ vững niềm tin và kiên trì theo đuổi mục tiêu. Chính sự nhẫn nại ấy làm nên giá trị đáng quý của nhân vật.
Thông qua hình tượng con Kiến, tác giả không chỉ miêu tả một loài vật quen thuộc mà còn gửi gắm bài học nhân sinh sâu sắc về lao động, đoàn kết và ý chí vươn lên. Nhân vật nhỏ bé ấy vì thế trở nên giàu sức gợi, để lại ấn tượng và suy ngẫm trong lòng người đọc.
Câu 1
Sau khi đọc bài thơ “Bài ca người lính thời bình” của Trần Đăng Khoa, em cảm thấy trong lòng dâng lên nhiều cảm xúc vừa tự hào, vừa xúc động. Bài thơ giúp em hiểu rằng khi đất nước không còn tiếng súng, người lính vẫn tiếp tục một cuộc chiến khác – cuộc chiến với đói nghèo, lạc hậu và những gian nan của đời thường. Hình ảnh “vẫn gian nan làm bạn / vẫn gió sương làm nhà” gợi lên biết bao vất vả, hi sinh thầm lặng. Người lính năm xưa cầm súng bảo vệ Tổ quốc, nay lại “trần trụi, lấm lem hơn thợ cày”, sẵn sàng làm tân binh trên mặt trận lao động. Em đặc biệt ấn tượng với tinh thần lạc quan, nghĩa tình và bản lĩnh của họ: sẵn sàng kết bạn với những “kẻ thù xưa”, nhưng cũng không hề mất đi ý chí chiến đấu nếu Tổ quốc cần. Qua bài thơ, em càng thêm biết ơn và trân trọng những người lính thời bình – những con người bình dị mà cao đẹp, âm thầm góp sức dựng xây đất nước.
Câu 2
Nhân vật con Kiến trong văn bản phần Đọc hiểu hiện lên là một hình tượng nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa biểu tượng. Trước hết, con Kiến được khắc họa với vẻ ngoài bé nhỏ, tưởng chừng yếu ớt, nhưng lại mang trong mình sức mạnh bền bỉ và ý chí kiên cường. Dù gặp khó khăn, trở ngại, nó không nản lòng mà luôn chăm chỉ, cần mẫn làm việc. Chính sự nhẫn nại ấy đã tạo nên vẻ đẹp đáng trân trọng của con Kiến.
Bên cạnh đó, con Kiến còn thể hiện tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng sâu sắc. Nó không sống riêng lẻ mà luôn gắn bó với đàn, cùng nhau hợp sức vượt qua thử thách. Qua hình ảnh ấy, tác giả gửi gắm bài học về sức mạnh của tập thể: khi biết chung tay, những điều tưởng như không thể cũng trở nên có thể. Con Kiến tuy nhỏ bé nhưng lại làm được những việc lớn lao nhờ tinh thần đồng lòng.
Hơn thế, nhân vật con Kiến còn gợi suy ngẫm về con người trong cuộc sống. Con người cũng có lúc nhỏ bé trước khó khăn, nhưng nếu có ý chí, sự kiên trì và tinh thần trách nhiệm, ta sẽ vượt qua được thử thách. Hình tượng con Kiến vì thế không chỉ đơn thuần là một loài vật, mà còn là biểu tượng cho đức tính chăm chỉ, bền bỉ và lối sống có ích.
Qua việc xây dựng nhân vật con Kiến, tác giả đã khéo léo gửi gắm thông điệp sâu sắc: giá trị của mỗi cá nhân không nằm ở kích thước hay hoàn cảnh, mà ở nghị lực và tinh thần sống tích cực.
Bài thơ
"Bài ca người lính thời bình" của Trần Đăng Khoa đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu lắng về hình ảnh người lính trong thời đại mới. Khác với người lính trong chiến tranh, người lính thời bình không đối mặt với bom đạn hay kẻ thù trực tiếp, mà phải đối diện với những gian nan, vất vả đời thường: "Cái nghèo và cái dốt/ Bày trận giữa thời bình". Hình ảnh người lính "trần trụi", "lấm lem hơn thợ cày" gợi lên sự hy sinh thầm lặng, sự cống hiến không ngừng nghỉ của họ cho cuộc sống bình yên của đất nước. Em cảm phục sự kiên cường, bền bỉ của họ, những người vẫn giữ vững phẩm chất "lính cựu" dù trong hoàn cảnh khó khăn. Bài thơ cũng thể hiện một cái nhìn nhân văn sâu sắc về hòa bình: "Có gì đâu máu người/ Chẳng phải là nước lã", nhắc nhở chúng ta trân trọng giá trị của sự sống và tình người. Tình cảm của người lính với người em ("Em vẫn thầm lộng lẫy/ Chờ ta như thuở nào") cũng rất đẹp, cho thấy dù gian khổ nhưng tâm hồn họ vẫn lãng mạn, tràn đầy hy vọng. Bài thơ giúp em hiểu hơn về trách nhiệm và sự hy sinh của những người bảo vệ Tổ quốc, dù ở bất kỳ thời đại nào
Trong thế giới ngụ ngôn, những nhân vật nhỏ bé thường mang lại những bài học lớn lao. Nhân vật Kiến trong câu chuyện "Con Kiến và Con Bồ Câu" là một minh chứng điển hình. Không cần những lời triết lý cao siêu, chính hành động trả ơn quyết đoán của Kiến đã chạm đến trái tim người đọc và khẳng định một chân lý giản đơn: lòng biết ơn không nằm ở lời nói, mà nằm ở việc làm.
Đầu tiên, Kiến hiện lên là một nhân vật vô cùng nhỏ bé và mong manh trước thiên nhiên. Khi bị rơi xuống dòng nước xiết, Kiến hoàn toàn bất lực và cận kề cái chết. Chính trong khoảnh khắc sinh tử ấy, hành động thả chiếc lá của Bồ Câu không chỉ cứu mạng Kiến mà còn gieo vào lòng chú một hạt mầm của sự cảm kích. Điểm đáng quý nhất ở Kiến không phải là việc chú thoát chết, mà là việc chú luôn khắc ghi ân tình đó. Kiến không coi sự giúp đỡ của Bồ Câu là điều hiển nhiên, cũng không vì mình nhỏ bé mà nghĩ rằng mình không cần phải làm gì để báo đáp.
Vẻ đẹp của nhân vật Kiến tỏa sáng nhất ở phần cuối câu chuyện, khi chú phát hiện Bồ Câu đang gặp nguy hiểm bởi gã thợ săn. Trong tình huống cấp bách, Kiến không hề chần chừ hay sợ hãi trước sức mạnh của con người. Chú đã tận dụng tối đa lợi thế "nhỏ mà có võ" của mình để bò đến và cắn thật đau vào chân gã thợ săn. Cú cắn ấy không chỉ là bản năng tự vệ, mà là sức mạnh của lòng biết ơn thôi thúc. Kiến đã hành động một cách thông minh, dũng cảm để bảo vệ ân nhân của mình. Một sinh vật nhỏ bé nhất lại có thể cứu sống một sinh vật lớn hơn nhiều lần, tất cả là nhờ sức mạnh của sự chân thành.
Qua nhân vật Kiến, tác giả ngụ ngôn muốn nhắn gửi đến chúng ta rằng: trong cuộc sống, đừng bao giờ tự ti về khả năng của bản thân. Dù bạn là ai, bạn vẫn luôn có cách để giúp đỡ và lan tỏa sự tử tế. Lòng biết ơn chính là sợi dây liên kết giữa các cá thể, biến những điều bình thường trở nên phi thường.
Tóm lại, nhân vật Kiến đã để lại một ấn tượng sâu sắc về lòng trung hậu và nghĩa tình. Chú kiến nhỏ bé ấy chính là lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía về đạo lý "uống nước nhớ nguồn" một nét đẹp cần được nâng niu trong tâm hồn mỗi con người.
Còn kiênd
Câu 1
Sau khi đọc đoạn trích bài thơ Bài ca người lính thời bình của Trần Đăng Khoa, em cảm thấy rất xúc động và khâm phục những người lính. Dù đất nước đã hòa bình nhưng họ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, gian khổ. Hình ảnh người lính sống giữa gió sương, thiếu thốn nhưng vẫn bền bỉ làm nhiệm vụ khiến em càng thêm trân trọng sự hi sinh thầm lặng của họ. Những câu thơ giản dị nhưng giàu cảm xúc đã cho thấy người lính luôn âm thầm bảo vệ và xây dựng đất nước. Nhờ có họ mà cuộc sống của nhân dân được bình yên và ổn định. Qua đó, em càng hiểu rằng hòa bình hôm nay không phải tự nhiên mà có. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết ơn, trân trọng và cố gắng học tập tốt để góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển.
Câu 2
Bài làm
Câu 1 (khoảng 150 chữ) Sau khi đọc đoạn trích “Bài ca người lính thời bình” của Trần Đăng Khoa, em cảm thấy rất xúc động và thêm trân trọng những người lính trong thời bình. Dù đất nước không còn chiến tranh nhưng người lính vẫn phải đối mặt với nhiều gian nan, vất vả. Họ vẫn sống giữa gió sương, chịu nhiều thiếu thốn và phải chiến đấu với những khó khăn của cuộc sống như cái nghèo, cái dốt. Những câu thơ giản dị đã làm nổi bật hình ảnh người lính cần cù, kiên cường và luôn sẵn sàng cống hiến cho đất nước. Điều đó khiến em hiểu rằng hòa bình hôm nay có được là nhờ sự hy sinh thầm lặng của rất nhiều người. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết ơn, tôn trọng và cố gắng học tập thật tốt để góp phần xây dựng đất nước ngày càng tốt đẹp hơn. Câu 2 (khoảng 400 chữ) – Phân tích nhân vật con Kiến Trong văn bản ở phần Đọc hiểu, nhân vật con kiến hiện lên như một hình ảnh nhỏ bé nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Qua hình tượng này, tác giả muốn gửi gắm bài học về sự chăm chỉ, kiên trì và tinh thần đoàn kết trong cuộc sống. Trước hết, con kiến là biểu tượng của sự cần cù và chăm chỉ. Dù cơ thể rất nhỏ bé nhưng nó luôn không ngừng làm việc, ngày ngày tìm kiếm thức ăn và xây dựng tổ ấm. Hình ảnh con kiến miệt mài lao động cho thấy tinh thần làm việc bền bỉ, không ngại khó khăn. Điều đó gợi cho con người bài học rằng muốn đạt được thành công thì phải nỗ lực và cố gắng không ngừng. Bên cạnh đó, con kiến còn thể hiện tinh thần kiên trì đáng khâm phục. Trong quá trình kiếm ăn, có thể nó gặp nhiều trở ngại như đường đi gồ ghề, vật cản hay thức ăn quá lớn. Tuy nhiên, con kiến vẫn không bỏ cuộc mà luôn tìm cách vượt qua. Chính sự kiên trì đó giúp nó hoàn thành mục tiêu của mình. Qua hình ảnh này, tác giả nhắc nhở chúng ta rằng trong cuộc sống, dù gặp khó khăn cũng không nên nản lòng mà phải kiên trì cố gắng. Ngoài ra, con kiến còn tượng trưng cho tinh thần đoàn kết. Kiến thường sống theo bầy đàn và cùng nhau làm việc. Khi gặp vật nặng, nhiều con kiến sẽ cùng hợp sức để di chuyển. Nhờ sự đoàn kết ấy mà chúng có thể làm được những điều tưởng chừng vượt quá khả năng của mình. Đây cũng là bài học quan trọng đối với con người: khi biết hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, chúng ta sẽ đạt được những thành quả lớn hơn. Tóm lại, nhân vật con kiến tuy nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa sâu sắc. Hình ảnh đó giúp người đọc nhận ra giá trị của sự chăm chỉ, kiên trì và tinh thần đoàn kết. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp rằng mỗi người cần nỗ lực lao động và biết hợp tác với người khác để vượt qua khó khăn và đạt được thành công trong cuộc sống
Nhân vật con Kiến, dù chỉ là một hình ảnh nhỏ bé, lại mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc trong văn học, là bài học đạo đức về thái độ sống và lao động. Trước hết, con Kiến là biểu tượng kinh điển cho sự cần cù và nhẫn nại không ngừng nghỉ. Dù nhỏ bé, nó luôn miệt mài tha mồi, xây đắp tổ ấm, không hề nản lòng trước chướng ngại vật. Phẩm chất này gợi lên sự ngưỡng mộ về ý chí kiên định, một đức tính cần thiết cho bất kỳ ai muốn đạt được thành công trong cuộc sống, đặc biệt là trong công cuộc kiến thiết đất nước thời bình. Hơn thế nữa, con Kiến còn đại diện cho tinh thần đoàn kết và kỷ luật cao. Chúng làm việc theo sự phân công rõ ràng, sức mạnh tập thể tạo nên những thành quả lớn lao, như xây dựng nên những công trình vĩ đại. Việc đưa hình ảnh con Kiến vào phần Đọc hiểu có lẽ nhằm nhắc nhở thế hệ trẻ rằng, để vượt qua những thử thách nội tại như "cái nghèo và cái dốt" mà bài thơ đề cập, chúng ta cần phát huy hơn nữa đức tính cần cù, chăm chỉ và tinh thần hợp tác bền bỉ như loài kiến.
Câu 1: Sau khi đọc đoạn trích “Bài ca người lính thời bình” của Trần Đăng Khoa, em cảm thấy rất xúc động và khâm phục những người lính. Dù đất nước đã hòa bình, họ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, gian khổ. Những câu thơ cho thấy người lính luôn sống giản dị, chịu đựng vất vả để bảo vệ và xây dựng đất nước. Trong khi mọi người được sống yên bình, họ vẫn âm thầm cống hiến và hi sinh. Hình ảnh người lính hiện lên thật đáng trân trọng và tự hào. Qua đó, em hiểu rằng hòa bình hôm nay có được là nhờ công sức và sự nỗ lực của rất nhiều người lính. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết ơn, trân trọng và cố gắng học tập tốt để góp phần xây dựng đất nước ngày càng tốt đẹp hơn.
Câu 2 (bài văn khoảng 400 chữ): Trong câu chuyện “Con Kiến và Con Bồ Câu”, nhân vật con Kiến để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Tuy nhỏ bé nhưng con Kiến lại có những phẩm chất đáng quý, đặc biệt là lòng biết ơn và sự dũng cảm. Trước hết, con Kiến là một con vật nhỏ bé nhưng gặp phải hoàn cảnh nguy hiểm. Khi đang tìm mồi, Kiến bị trượt chân rơi xuống nước và bị dòng nước cuốn đi. Trong lúc tưởng chừng không thể thoát khỏi cái chết, Kiến đã được Bồ Câu cứu giúp bằng cách thả một chiếc lá xuống nước. Nhờ chiếc lá đó, Kiến đã bám vào và thoát nạn. Chi tiết này cho thấy Kiến đã nhận được sự giúp đỡ đúng lúc và vô cùng quý giá từ Bồ Câu. Điều đáng quý ở con Kiến chính là lòng biết ơn. Kiến không hề quên ơn cứu mạng của Bồ Câu. Khi thấy người đi săn đang giương cung định bắn Bồ Câu, Kiến đã nhanh trí bò lại và cắn vào chân người đi săn. Vì bị đau bất ngờ, người đi săn đã làm rơi cung, tạo cơ hội cho Bồ Câu bay đi thoát nạn. Hành động của Kiến tuy nhỏ nhưng lại rất dũng cảm và kịp thời. Nhờ vậy mà Bồ Câu đã được cứu sống. Qua nhân vật con Kiến, câu chuyện gửi đến chúng ta một bài học ý nghĩa về lòng biết ơn và sự giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Khi được người khác giúp đỡ, chúng ta cần ghi nhớ và tìm cách đền đáp. Đồng thời, mỗi người cũng nên sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn. Như vậy, tuy chỉ là một con vật nhỏ bé nhưng con Kiến đã thể hiện những phẩm chất tốt đẹp. Nhân vật này giúp người đọc hiểu rằng lòng biết ơn và sự tử tế sẽ làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Câu 1: Sau khi đọc đoạn trích Bài ca người lính thời bình của Trần Đăng Khoa, em cảm thấy rất xúc động và khâm phục những người lính trong thời bình. Dù đất nước không còn chiến tranh, họ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và gian khổ. Hình ảnh người lính sống giữa gió sương, làm việc vất vả cho thấy sự hi sinh thầm lặng của họ. Họ góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước, biến những vùng đất hoang thành nơi phát triển. Qua đó, em càng thêm trân trọng và biết ơn những người lính đang ngày đêm cống hiến cho Tổ quốc. Bài thơ giúp em hiểu rằng hòa bình hôm nay có được là nhờ sự nỗ lực và hi sinh của rất nhiều người. Câu 2: Trong câu chuyện Con Kiến và Con Bồ Câu, nhân vật con kiến để lại nhiều ấn tượng cho người đọc. Tuy là một con vật nhỏ bé nhưng kiến lại có những phẩm chất đáng quý như biết ơn và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Khi bị rơi xuống nước, kiến đã gặp nguy hiểm và may mắn được bồ câu cứu giúp. Nhờ hành động tốt bụng đó, kiến thoát khỏi cái chết. Điều đáng quý là kiến không quên ơn cứu mạng của bồ câu. Khi thấy bồ câu gặp nguy hiểm vì người thợ săn, kiến đã nhanh trí cắn vào chân người thợ săn khiến ông ta giật mình. Nhờ vậy bồ câu kịp thời bay đi và thoát khỏi nguy hiểm. Qua nhân vật con kiến, câu chuyện gửi gắm bài học ý nghĩa. Trong cuộc sống, chúng ta cần biết trân trọng và ghi nhớ sự giúp đỡ của người khác. Đồng thời mỗi người cũng nên sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi họ gặp khó khăn. Lòng biết ơn và sự giúp đỡ lẫn nhau sẽ làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Câu 1
Trong truyện “Bò và Ếch”, em rút ra được một bài học ý nghĩa. Đó là không nên kiêu ngạo và coi thường người khác. Trong câu chuyện, con bò vì nghĩ mình to lớn nên tỏ thái độ coi thường ếch. Bò cho rằng ếch nhỏ bé nên không có quyền ngăn cản mình uống nước. Tuy nhiên, nhờ sự thông minh và bình tĩnh, ếch đã nghĩ ra cách khiến bò thất bại trong cuộc thi. Qua đó, câu chuyện cho thấy dù mạnh hay yếu thì ai cũng có điểm mạnh riêng. Nếu chỉ dựa vào sức mạnh mà kiêu căng, không suy nghĩ cẩn thận thì rất dễ mắc sai lầm. Vì vậy, mỗi người cần phải khiêm tốn, tôn trọng người khác và suy nghĩ kĩ trước khi hành động. Bài học này giúp em hiểu rằng trí tuệ và sự bình tĩnh đôi khi còn quan trọng hơn sức mạnh.
Câu 2
Trong truyện ngụ ngôn “Con Kiến và Con Bồ Câu”, nhân vật con Kiến để lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Tuy nhỏ bé nhưng Kiến lại là con vật có tấm lòng biết ơn và sống rất nghĩa tình. Trước hết, Kiến là con vật gặp hoàn cảnh nguy hiểm. Khi đang cúi xuống uống nước, Kiến không may bị dòng nước cuốn trôi và có thể chết đuối. May mắn thay, Bồ Câu nhìn thấy và thả một chiếc lá xuống nước giúp Kiến bám vào để lên bờ. Hành động của Bồ Câu đã cứu sống Kiến. Chi tiết này cho thấy Kiến là con vật yếu ớt, nhỏ bé nhưng cũng rất may mắn khi nhận được sự giúp đỡ. Không chỉ vậy, Kiến còn là con vật biết ơn và luôn ghi nhớ sự giúp đỡ của người khác. Sau khi được Bồ Câu cứu, Kiến luôn nhớ ơn. Khi thấy một người thợ săn đang giương cung định bắn Bồ Câu, Kiến lập tức bò đến đốt vào chân người thợ săn. Vì quá đau, người thợ săn đã làm rơi cung tên, nhờ đó Bồ Câu kịp bay đi và thoát chết. Hành động của Kiến cho thấy Kiến rất dũng cảm và biết trả ơn. Dù nhỏ bé nhưng Kiến vẫn tìm cách giúp đỡ lại Bồ Câu. Qua nhân vật con Kiến, tác giả muốn gửi gắm một bài học ý nghĩa trong cuộc sống. Đó là mỗi người cần biết ơn những ai đã giúp đỡ mình và sẵn sàng giúp đỡ lại khi có cơ hội. Lòng biết ơn và sự giúp đỡ lẫn nhau sẽ làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Như vậy, con Kiến tuy nhỏ bé nhưng lại là nhân vật mang nhiều phẩm chất tốt đẹp như biết ơn, nghĩa tình và dũng cảm. Nhân vật này giúp người đọc hiểu rằng trong cuộc sống, dù nhỏ bé đến đâu, chúng ta vẫn có thể làm những việc tốt và giúp đỡ người khác.
Trong truyện ngụ ngôn Con Kiến và Con Bồ Câu, nhân vật con Kiến để lại nhiều ấn tượng sâu sắc với người đọc. Trước hết, Kiến là một con vật nhỏ bé, chăm chỉ và luôn cố gắng kiếm ăn. Khi đang tìm mồi bên bờ sông, Kiến không may bị rơi xuống nước và suýt chết đuối. May mắn thay, Bồ Câu đã nhìn thấy và ném một chiếc lá xuống giúp Kiến bám vào để lên bờ. Sau khi được cứu, Kiến rất biết ơn Bồ Câu và luôn ghi nhớ ân tình đó. Một thời gian sau, khi thấy một người thợ săn đang giương cung định bắn Bồ Câu, Kiến đã nhanh trí bò đến và đốt vào chân người thợ săn. Nhờ vậy, người thợ săn đau quá nên làm rơi cung, còn Bồ Câu nghe thấy tiếng động liền bay đi và thoát nạn. Hành động của Kiến cho thấy Kiến là con vật biết ơn và sẵn sàng giúp đỡ người đã từng giúp mình. Qua hình ảnh con Kiến nhỏ bé nhưng giàu tình nghĩa, câu chuyện gửi gắm bài học sâu sắc về lòng biết ơn và sự giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Mỗi người khi nhận được sự giúp đỡ của người khác cần biết ghi nhớ và tìm cách đáp lại. Lòng biết ơn và tình yêu thương sẽ làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp và ý nghĩa hơn.
Câu 1 : Sau khi đọc đoạn trích “Bài ca người lính thời bình” của Trần Đăng Khoa, em cảm thấy rất xúc động và khâm phục những người lính. Dù đất nước không còn chiến tranh, họ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và gian khổ. Hình ảnh người lính sống giữa gió sương, thiếu thốn và vất vả khiến em càng thêm trân trọng sự hi sinh thầm lặng của họ. Những người lính ấy vẫn ngày đêm bảo vệ và xây dựng đất nước, góp phần mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Qua đoạn thơ, em hiểu rằng cuộc sống của người lính thời bình tuy không có tiếng súng nhưng vẫn đầy thử thách. Điều đó khiến em càng biết ơn và kính trọng những người đang ngày đêm bảo vệ Tổ quốc. Câu 2 : Trong truyện ngụ ngôn “Con Kiến và Con Bồ Câu”, nhân vật con Kiến tuy nhỏ bé nhưng lại thể hiện nhiều phẩm chất đáng quý như biết ơn và sẵn sàng giúp đỡ người khác.
Trước hết, con Kiến là một con vật chăm chỉ và cần cù. Trong câu chuyện, Kiến đang đi kiếm mồi thì vì khát nước nên xuống sông uống. Không may Kiến bị trượt chân và bị dòng nước cuốn đi. Trong lúc nguy hiểm, Kiến rất lo sợ vì nghĩ rằng mình có thể chết đuối. May mắn thay, Bồ Câu đã nhìn thấy và ném một chiếc lá xuống nước để cứu Kiến. Nhờ chiếc lá đó, Kiến bám vào và bò lên bờ, thoát khỏi nguy hiểm. Sau khi được cứu, Kiến không hề quên ơn Bồ Câu. Một hôm, khi đang kiếm mồi trong rừng, Kiến phát hiện một người thợ săn đang giương cung định bắn Bồ Câu. Lúc đó Bồ Câu không hề hay biết và đang đậu trên cành cây. Nhận thấy nguy hiểm, Kiến lập tức bò đến và cắn vào chân người thợ săn. Vì đau quá, người thợ săn làm rơi cung và gây ra tiếng động. Nhờ vậy, Bồ Câu phát hiện ra nguy hiểm và bay đi thoát nạn.
Qua hành động của mình, Kiến đã thể hiện lòng biết ơn sâu sắc. Dù nhỏ bé, Kiến vẫn tìm cách giúp đỡ Bồ Câu để trả lại ân nghĩa trước đó. Hình ảnh con Kiến cho thấy rằng trong cuộc sống, lòng biết ơn và sự giúp đỡ lẫn nhau là rất quan trọng. Khi chúng ta nhận được sự giúp đỡ, chúng ta cần ghi nhớ và tìm cách đáp lại bằng những hành động tốt đẹp. Như vậy, nhân vật con Kiến tuy nhỏ bé nhưng lại mang những phẩm chất đáng quý. Câu chuyện gửi gắm bài học rằng con người cần sống biết ơn, yêu thương và sẵn sàng giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
Câu 1
Sau khi đọc đoạn trích “Bài ca người lính thời bình” của Trần Đăng Khoa, em cảm thấy rất xúc động và khâm phục những người lính. Trong thời bình, họ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và vất vả. Họ phải sống giản dị, chịu đựng cái nghèo và những thử thách của cuộc sống. Tuy vậy, họ vẫn luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Qua những câu thơ mộc mạc, tác giả đã cho em hiểu hơn về cuộc sống của người lính khi đất nước không còn chiến tranh. Điều đó khiến em càng thêm trân trọng và biết ơn những người lính đã và đang bảo vệ Tổ quốc. Đoạn thơ cũng nhắc nhở em phải biết sống có trách nhiệm và cố gắng học tập để góp phần xây dựng đất nước. Câu 2
Trong truyện “Con Kiến và Con Bồ Câu”, nhân vật con kiến là một nhân vật để lại nhiều ấn tượng. Tuy nhỏ bé nhưng con kiến lại có tấm lòng biết ơn và sống rất nghĩa tình. Ở đầu câu chuyện, con kiến đang khát nước nên cúi xuống sông uống nước. Không may, kiến bị dòng nước cuốn trôi và có thể chết đuối. Lúc đó, con bồ câu đã nhìn thấy và nhanh chóng thả một chiếc lá xuống nước để cứu kiến. Nhờ chiếc lá ấy, con kiến bám vào và thoát khỏi nguy hiểm. Từ đó, kiến luôn ghi nhớ ơn cứu mạng của bồ câu. Sau này, khi kiến đang kiếm mồi trong rừng, nó thấy một người đi săn đang giương cung định bắn bồ câu. Nhận ra ân nhân của mình đang gặp nguy hiểm, kiến lập tức bò tới và đốt vào chân người đi săn. Vì bị đau bất ngờ, người đi săn đã làm rơi cây cung và bồ câu bay đi thoát nạn. Như vậy, kiến đã kịp thời trả ơn cho bồ câu. Qua nhân vật con kiến, câu chuyện đã cho thấy một phẩm chất rất đẹp đó là lòng biết ơn. Dù chỉ là một con vật nhỏ bé, kiến vẫn luôn ghi nhớ và tìm cách đền đáp ân nghĩa của bồ câu. Điều đó khiến nhân vật kiến trở nên đáng quý và đáng trân trọng. Câu chuyện gửi đến chúng ta một bài học ý nghĩa trong cuộc sống. Khi được người khác giúp đỡ, chúng ta cần biết ơn và tìm cách đáp lại lòng tốt ấy. Đồng thời, mỗi người cũng nên sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn. Nhân vật con kiến đã giúp em hiểu rằng lòng biết ơn và sự giúp đỡ lẫn nhau sẽ làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Câu 1
Đoạn trích "Bài ca người lính thời bình" của Trần Đăng Khoa khơi gợi trong em niềm xúc động và sự kính trọng sâu sắc đối với những người chiến sĩ. Dù đất nước "không bóng giặc", người lính vẫn âm thầm đối mặt với những gian nan, coi "gió sương làm nhà" để bảo vệ bình yên cho Tổ quốc. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh đối lập đầy sức gợi như "áo dài bay" của người đời và vẻ "trần trụi", "lấm lem" của người lính để làm nổi bật sự hy sinh thầm lặng của các anh. Qua đó, em cảm nhận được tinh thần trách nhiệm cao cả và ý chí kiên cường của những người lính trẻ, dù trong hoàn cảnh khó khăn vẫn luôn sẵn sàng cống hiến tuổi thanh xuân cho dân tộc.
Câu 2
Nhân vật con Kiến trong truyện ngụ ngôn "Con kiến và con Bồ Câu" là một hình tượng đẹp về lòng biết ơn và tinh thần nghĩa hiệp. Đầu tiên, Kiến là một nhân vật biết trân trọng sự sống và ân nghĩa. Khi gặp nạn và được Bồ Câu cứu, Kiến "rất biết ơn". Sự biết ơn này không chỉ dừng lại ở cảm xúc mà đã biến thành ý thức tự giác, chờ đợi cơ hội để đền đáp. Thứ hai, Kiến thể hiện sự thông minh và dũng cảm khi đối mặt với nguy hiểm để cứu bạn. Dù chỉ là một sinh vật bé nhỏ, nhưng trước họng cung của người thợ săn, Kiến đã không ngần ngại bò lại gần và đốt vào chân hắn. Hành động này đòi hỏi sự quyết đoán và lòng dũng cảm phi thường, bởi Kiến có thể bị người thợ săn dẫm chết bất cứ lúc nào. Cuối cùng, nhân vật Kiến khẳng định một triết lý sống cao đẹp: "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Chiến thắng của Kiến trước người thợ săn to lớn cho thấy sức mạnh của chính nghĩa và lòng tử tế sẽ luôn bảo vệ được những điều tốt đẹp. Tóm lại, thông qua nhân vật Kiến, truyện ngụ ngôn đã gửi gắm bài học sâu sắc về lối sống có trước có sau, giúp mỗi chúng ta hiểu rằng sự tử tế sẽ luôn được đền đáp bằng một sự tử tế khác.
Ywwy
Câu 1 (khoảng 150 chữ): Sau khi đọc đoạn trích “Bài ca người lính thời bình” của Trần Đăng Khoa, em cảm thấy rất xúc động và khâm phục những người lính. Dù đất nước đã hòa bình, họ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và gian khổ. Những câu thơ cho thấy người lính sống giản dị, vất vả nhưng luôn sẵn sàng cống hiến cho đất nước. Họ không chỉ bảo vệ Tổ quốc trong chiến tranh mà còn góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời bình. Qua đó, em càng thêm trân trọng và biết ơn những người lính đã âm thầm hi sinh vì cuộc sống bình yên của mọi người. Bài thơ giúp em hiểu rằng hòa bình hôm nay có được là nhờ công lao của rất nhiều người lính. Vì vậy, chúng ta cần biết kính trọng và biết ơn họ. Câu 2 (khoảng 400 chữ): Trong truyện ngụ ngôn “Con Kiến và Con Bồ Câu”, nhân vật con Kiến tuy nhỏ bé nhưng lại mang nhiều phẩm chất đáng quý. Kiến là hình ảnh tiêu biểu cho lòng biết ơn và tinh thần sẵn sàng giúp đỡ người khác. Ban đầu, Kiến gặp nguy hiểm khi xuống sông uống nước và bị dòng nước cuốn đi. Trong lúc nguy cấp, Bồ Câu đã nhanh chóng thả một chiếc lá xuống để cứu Kiến. Nhờ chiếc lá đó, Kiến bám vào và trôi vào bờ, thoát khỏi cái chết. Từ đó, Kiến luôn ghi nhớ ơn cứu mạng của Bồ Câu. Sau này, khi Kiến đang kiếm mồi thì thấy một người thợ săn chuẩn bị bắn Bồ Câu. Ngay lập tức, Kiến bò đến cắn vào chân người thợ săn khiến ông ta đau quá mà làm rơi cung tên. Nhờ vậy, Bồ Câu nghe động và bay đi, thoát khỏi nguy hiểm. Hành động này cho thấy Kiến là một con vật có nghĩa tình, biết nhớ ơn và sẵn sàng giúp đỡ người đã từng giúp mình. Qua nhân vật Kiến, câu chuyện gửi gắm một bài học sâu sắc về lòng biết ơn. Trong cuộc sống, khi được người khác giúp đỡ, chúng ta cần ghi nhớ và tìm cách đáp lại. Lòng biết ơn và sự giúp đỡ lẫn nhau sẽ làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp và ấm áp hơn. Vì vậy, mỗi người cần học cách sống biết ơn và sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh khi họ gặp khó khăn.
Câu 1 (khoảng 150 chữ): Sau khi đọc đoạn trích “Bài ca người lính thời bình” của Trần Đăng Khoa, em cảm thấy rất xúc động và khâm phục những người lính trong thời bình. Dù đất nước không còn chiến tranh nhưng họ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, gian khổ. Những người lính luôn sẵn sàng hi sinh công sức để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hình ảnh người lính sống giản dị, chịu nhiều vất vả nhưng vẫn kiên cường khiến em càng thêm trân trọng. Qua bài thơ, em hiểu rằng hòa bình hôm nay có được nhờ sự đóng góp thầm lặng của họ. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết ơn và kính trọng những người lính đang ngày đêm bảo vệ đất nước. Em cũng tự nhắc mình phải cố gắng học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng quê hương ngày càng tốt đẹp hơn. Câu 2 (bài văn khoảng 400 chữ): Trong truyện ngụ ngôn “Con Kiến và Con Bồ Câu”, nhân vật con Kiến để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Tuy chỉ là một con vật nhỏ bé nhưng Kiến lại có những phẩm chất đáng quý, đặc biệt là lòng biết ơn và sự dũng cảm. Trước hết, Kiến là một con vật nhỏ bé, yếu ớt. Khi đi kiếm mồi và khát nước, Kiến vô tình bị rơi xuống sông và bị dòng nước cuốn đi. Trong lúc nguy hiểm, Kiến đã may mắn được Bồ Câu cứu giúp bằng cách thả một chiếc lá xuống nước. Nhờ bám vào chiếc lá, Kiến thoát khỏi cái chết. Chi tiết này cho thấy Kiến là con vật đã từng nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn. Điều đáng quý nhất ở Kiến chính là lòng biết ơn. Kiến luôn ghi nhớ ơn cứu mạng của Bồ Câu. Khi thấy người thợ săn đang giương cung định bắn Bồ Câu, Kiến không thờ ơ mà nhanh chóng bò tới và cắn vào chân người thợ săn. Hành động tuy nhỏ nhưng rất kịp thời, khiến người thợ săn đau quá phải buông cung. Nhờ vậy, Bồ Câu phát hiện ra nguy hiểm và bay đi thoát nạn. Qua đó, Kiến đã trả lại ơn cứu giúp của Bồ Câu trước đây. Ngoài ra, Kiến còn thể hiện sự dũng cảm và nhanh trí. Dù chỉ là một con vật bé nhỏ nhưng Kiến vẫn dám đối mặt với con người để cứu bạn. Điều đó cho thấy Kiến không chỉ biết ơn mà còn sẵn sàng hành động để bảo vệ ân nhân của mình. Thông qua nhân vật con Kiến, câu chuyện gửi gắm bài học ý nghĩa về lòng biết ơn và sự giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Khi nhận được sự giúp đỡ của người khác, chúng ta cần ghi nhớ và tìm cách đáp lại. Đồng thời, mỗi người cũng nên sống nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh. Chính những hành động tốt đẹp ấy sẽ làm cho cuộc sống trở nên ấm áp và tốt đẹp hơn.
Câu 1: Bài thơ "Bài ca người lính thời bình" của Trần Đăng Khoa mang đến cho tôi những cảm xúc sâu lắng về hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ trong bối cảnh đất nước đã hòa bình. Qua những vần thơ mộc mạc, gần gũi, tác giả đã khắc họa chân thực cuộc sống đầy gian khổ, thiếu thốn nơi biên giới, hải đảo nhưng lại ngời sáng tinh thần lạc quan, yêu đời. Tôi thực sự xúc động trước nỗi nhớ nhà, nhớ người yêu da diết của người lính, cũng như sự hy sinh thầm lặng của họ khi phải gác lại hạnh phúc cá nhân để bảo vệ bình yên cho Tổ quốc. Trần Đăng Khoa đã cho tôi hiểu rằng, dù thời bình, "lính" vẫn luôn sẵn sàng cống hiến, đối mặt với hiểm nguy. Bài thơ không chỉ là khúc ca tự hào mà còn là lời nhắc nhở thế hệ trẻ về lòng biết ơn, trách nhiệm đối với những người đang giữ vững chủ quyền dân tộc.
Câu 2:Trong thế giới truyện ngụ ngôn, nhân vật con kiến trong tác phẩm "Con kiến và con bồ câu" tuy nhỏ bé về kích thước nhưng lại mang một tầm vóc lớn lao về nhân cách. Qua hành trình từ kẻ được cứu giúp trở thành người cứu giúp, kiến đã để lại bài học sâu sắc về lòng biết ơn. Mở đầu câu chuyện, kiến hiện lên là một sinh vật yếu ớt, đang phải đối mặt với ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết khi chẳng may rơi xuống dòng nước xiết. Trong lúc tuyệt vọng, kiến đã may mắn được chim bồ câu thả chiếc lá cứu mạng. Tình huống này không chỉ thiết lập mối quan hệ giữa hai nhân vật mà còn là phép thử cho lòng người. Điểm sáng nhất trong nhân vật kiến chính là ý thức về lòng biết ơn. Sau khi thoát nạn, kiến không hề lãng quên ơn nghĩa ấy. Khi phát hiện một bác thợ săn đang giương súng nhắm vào ân nhân của mình, kiến đã không ngần ngại hành động. Dù biết mình nhỏ bé, kiến vẫn dùng hết sức bình sinh bò đến và cắn thật đau vào gót chân bác thợ săn. Cú cắn ấy đã khiến phát súng đi chệch hướng, giúp bồ câu thoát chết. Hành động này chứng minh rằng: không ai là quá nhỏ bé để giúp đỡ người khác, và một tấm lòng biết ơn luôn tìm thấy cách để đền đáp. Thông qua nhân vật con kiến, tác giả dân gian muốn gửi gắm thông điệp về lối sống tình nghĩa. Sự đền ơn của kiến không chỉ là một hành động đơn lẻ mà là một vòng tròn nhân ái: khi ta trao đi lòng tốt, ta sẽ nhận lại sự giúp đỡ vào lúc không ngờ nhất. Nhân vật con kiến đã trở thành một hình ảnh đẹp, nhắc nhở mỗi chúng ta về việc trân trọng những người đã giúp đỡ mình trong lúc hoạn nạn. Đó chính là nền tảng của một xã hội nhân văn và tốt đẹp hơn.
Câu 1
Bài làm
Đọc đoạn trích bài ca người lính thời bình của Trần Đăng khoa, em cảm thấy vô cùng xúc động và tự hào. Hình ảnh người lính hiện lên không chỉ dũng cảm mà còn rất gần gũi, giản dị trong cuộc sống hàng ngày. Họ không còn ở chiến trường ác liệt, nhưng vẫn âm thầm cống hiến, bảo vệ bình yên cho tổ quốc. Những khó khăn, vất vả của họ khiến em thêm trân trọng sự hi sinh thầm lặng ấy. Qua đó, em càng hiểu rằng Hòa Bình hôm nay không phải tự nhiên mà có, mà được đánh đổi bằng công sức và trắc nhiệm của biết bao người lính. Đoạn thơ đã khơi dậy trong em lòng biết ơn sâu sắc và ý thức phải sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn với đất nước.
Câu 2
Bài làm
Trong văn bản con kiến và con bồ câu, hình ảnh con kiến tuy nhỏ bé nhưng lại để lại nhiều ấn tượng sâu sắc bởi những phẩm chất đáng quý. Qua câu chuyện giản dị, nhân vật con kiến đã thể hiện vẻ đẹp của lòng biết ơn và tinh thần sống Nghĩa tình.
Trước hết, con kiến là biểu tượng của một sinh vật nhỏ bé, yếu ớt trong tự nhiên. Khi rơi xuống nước, kiến hoàn toàn bất lực trước dòng chảy và đứng trước nguy cơ bị chết đuối. Tình huống đó làm nổi bật sự mong manh của nó, đồng thời cho ta thấy cuộc sống, không phải lúc nào ta cũng có thể tự mình vượt qua khó khăn. Nhờ sự giúp đỡ kịp thời của con bồ câu, con kiến đã thoát khỏi nguy hiểm. Chi tiết này không chỉ thể hiện lòng tốt của bồ câu mà còn mở ra cơ hội để con kiến bộc lộ phẩm chất của mình.
Điểm nổi bật nhất ở con kiến chính là lòng biết ơn sâu sắc. Khi thấy bồ câu gặp nguy hiểm trước người thợ săn, kiến đã không thờ ơ mà nhanh chóng hành động. Nó cắn vào chân người thợ săn, khiến người này giật mình, làm rơi mũi tên và giúp bồ câu thoát nạn. Hành động ấy Tuy nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn, thể hiện rõ tinh thần "uống nước nhớ nguồn". Con kiến đã dùng chính khả năng của mình để đền đáp ân Nghĩa, cho thấy dù nhỏ bé nhưng nếu biết sống tình nghĩa thì vẫn có thể làm nên điều có ích.
Ngoài ra, nhân vật con kiến còn gợi lên bài học về sự chủ động và dũng cảm. Nó không chần chừ hay sợ hãi mà lập tức hành động khi thấy ân nhân gặp nguy hiểm. Điều đó chứng tỏ lòng biết ơn không chỉ nằm ở suy nghĩ mà cần được thể hiện bằng hành động cụ thể. Tóm lại, con kiến trong câu chuyện là hình ảnh tiêu biểu cho những phẩm chất đẹp như biết ơn, nghĩa tình và dũng cảm. Qua nhân vật này, người đọc nhận ra rằng dù nhỏ bé đến đâu, mỗi người vẫn có thể làm điều tốt và sống có ích nếu biết trân trọng và đền đáp những ân tình trong cuộc sống.
Câu 1 :
Đoạn trích " Bài ca người lính thời bình" của Trần Đăng Khoa để lại trong em niềm xúc động và sự kính trọng đối với những người lính cầm súng trong thời khắc hoà bình . Không còn bom đạn ác liệt , hình ảnh người lính hiện lên qua ngòi bút của ông vẫn đầy kiên cường , "ngực dám đón những phong bao dữ dội" nhưng cũng rất đỗi hiền hậu , lãng mạn. Em cảm nhận được tình yêu quê hương , đất nước tha thiết qua những hình ảnh thầm lặng hi sinh của các anh, khi họ chấp nhận xã gia đình, đối mặt với khó khăn nơi biên giới ., hải đảo để bảo vệ sự bình yên cho Tổ quốc . Những dòng thơ giàu hình ảnh và cảm xúc ấy đã nhắc nhở em về lòng biết ơn , sự trân trọng giá trị của hoà bình ngày hôm nay và trách nhiệm của thế hệ trẻ . Đó là bài ca về sự cống hiến, ý chí vượt khó và tâm hồn đẹp cao quý của thế hệ người lính mới.
Câu 2 :
Trong truyện ngụ ngôn " Con kiến và bồ câu " nhân vật con kiến không chỉ là sinh vật nhỏ bé mà còn là biểu tượng cao đẹp cho lòng biết ơn , sự kiên cường và tinh thần đoàn kết. Dù kích thước bé nhỏ ,kiến thể hiện phẩm chất đáng quý khi nỗ lực cứu bồ câu để đền ơn cứu mạng,qua đó bài học về tình nghĩa được khắc họa sâu sắc
Khi bị ngã xuống nước và súyt chết đuối, kiến đã được bồ câu cứu bằng cách thả một chiếc lá xuống. Sự nhỏ bé của kiến đối lập hoàn toàn với sự bao la của dòng nước , tạo nên tình thế tuyệt vọng . Tuy nhiên , kiến không không buông xuôi mà tận dụng cơ hội, thể hiện bản năng sinh tồn mạnh mẽ . Đáng chú ý , sau khi được cứu ,kiến không bỏ đi mà nhớ ơn sâu sắc. Khi thấy người thợ săn định bắn bồ câu , kiến đã hành động dứt khoát bằng cách đốt vào chân người thợ săn, khiến phát súng lệch hướng, cứu bồ câu thoát chết.
Hành động này cho thấy kiến là nhân vật có tình nghĩa , trọng ân huệ không quên sự giúp đỡ của người khác . Sự trả ơn của kiến còn phản ánh tinh thần đoàn kết và tình yêu thương giữa các loài vật , dù nhỏ bé nhất . Hơn nữa , kiến chứng minh rằng sức lực có hạn , nhưng với sự thông minh và dũng cảm , kẻ yếu vẫn có thể giúp đỡ kẻ mạnh hơn mình.
Tóm tắt, nhân vật kiến trong " Con kiến và bồ câu" là một bài học giáo dục đầy ý nghĩa về lòng biết ơn , tình nghĩa là lòng dũng cảm . Câu chuyện khuyên nhủ con người về lối sống nghĩa tình , "uống nước nhớ nguồn" ,giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, bởi mỗi sự giúp đỡ nhỏ bé đều có thể tạo nên những kết quả to lớn hơn.
Câu 1:Đọc đoạn trích "Bài ca người lính thời bình" của Trần Đăng Khoa, em không khỏi xúc động trước hình ảnh những người lính trong thời đại mới. Khi đất nước không còn bóng giặc, họ không chọn nghỉ ngơi mà tiếp tục dấn thân vào cuộc chiến chống lại "cái nghèo và cái dốt". Những vần thơ giản dị nhưng đầy ám ảnh về cuộc sống "vẫn gió sương làm nhà", "lấm lem hơn thợ cày" đã khắc họa vẻ đẹp lam lũ mà cao cả của anh bộ đội cụ Hồ. Họ chấp nhận sự "trần trụi", thiệt thòi giữa phố thị phồn hoa để giữ gìn bình yên cho tổ quốc. Qua đó, em càng thêm trân trọng, biết ơn những hy sinh thầm lặng ấy và tự hứa sẽ nỗ lực học tập để góp phần dựng xây quê hương ngày càng giàu đẹp.
Câu 2:
Trong kho tàng truyện ngụ ngôn, "Kiến và Chim bồ câu" là một câu chuyện giản dị nhưng chứa đựng bài học sâu sắc về lòng biết ơn. Trong đó, nhân vật con kiến – dù là một sinh vật bé nhỏ nhất – lại hiện lên với những phẩm chất cao đẹp, đại diện cho lối sống tình nghĩa và dũng cảm. Trước hết, nhân vật kiến được xây dựng với hình ảnh một sinh vật nhỏ bé và yếu ớt. Khi chẳng may sẩy chân rơi xuống dòng suối, kiến hoàn toàn bất lực trước sức mạnh của thiên nhiên. Chi tiết này tạo nên một sự đối lập mạnh mẽ: một kẻ nhỏ bé đang cận kề cái chết được cứu giúp bởi một chú chim bồ câu to lớn, mạnh mẽ. Chính sự nhỏ bé ban đầu này đã làm nổi bật sức mạnh tinh thần của kiến ở giai đoạn sau của câu chuyện. Đặc điểm nổi bật nhất của kiến chính là lòng biết ơn và sự ghi nhớ sâu sắc. Sau khi thoát chết nhờ chiếc lá của chim bồ câu, kiến không coi đó là sự may mắn ngẫu nhiên rồi lãng quên. Nó luôn khắc ghi hành động cứu mạng ấy trong lòng. Đây là một phẩm chất đáng quý, thể hiện đạo lý "ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Kiến hiểu rằng, dù mình nhỏ bé đến đâu, mình vẫn có trách nhiệm phải báo đáp ân nhân. Sự dũng cảm và nhanh trí của kiến được thể hiện rõ nhất ở cao trào của truyện. Khi phát hiện người thợ săn đang giương cung nhắm vào chim bồ câu, kiến không hề chần chừ hay sợ hãi trước sự nguy hiểm của con người. Nó biết rằng mình không thể đấu lại người thợ săn bằng sức mạnh, nên đã dùng sự nhanh nhạy để cắn thật đau vào chân hắn. Hành động này tuy nhỏ nhưng lại mang tính quyết định, làm hỏng kế hoạch của người thợ săn và cứu sống bạn mình. Điều này chứng minh rằng: Sức mạnh không chỉ nằm ở cơ bắp, mà còn nằm ở sự thông minh và lòng quyết tâm. Thông qua nhân vật con kiến, tác giả dân gian muốn gửi gắm một thông điệp nhân văn: Trong cuộc sống, không ai là quá nhỏ bé để không thể giúp đỡ người khác. Một hành động tử tế sẽ gieo mầm cho những hành động tử tế tiếp theo. Con kiến chính là biểu tượng cho những con người bình thường nhưng có trái tim cao thượng, biết sống vì người khác và luôn trân trọng những giá trị đạo đức tốt đẹp. Tóm lại, hình ảnh con kiến trong truyện ngụ ngôn "Kiến và Chim bồ câu" đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Nhân vật này không chỉ mang đến tiếng cười nhẹ nhàng mà còn là bài học về lòng biết ơn, sự tử tế và tinh thần tương thân tương ái giữa con người với con người.
Bài làm
Trong câu thơ trên của tác giả Trần Đăng khoa có câu thơ
Đất nước không bóng giặc
Tưởng về gần lại xa
Vẫn gian nan làm bạn
Vẫn gió sương làm
Bãi hoàn thành đô thị
Ai đi áo dài bay
Còn ta đi trần trụi
Lấm lem hơn thợ cày
Trước giặc là lính cứu
Sau trâu là tân binh
Cái nghèo và cái dốt
Bày trận giữa thời bình.
Câu thơ mang cảm xúc cho người đọc
Trân
Bài thơ "Bài ca người lính thời bình" của tác giả Trần Đăng Khoa đã lan toar cho em những cảm xúc về sự giản dị,kiên cường của người lính Việt Nam.Đặc biệt ở câu thơ "Vẫn gian nan làm bạn/Vẫn sương gió làm nhà" ta cảm nhận được sự gian khổ,sự đối mặt với những thử thách khó nhằn dù cho đất nước không còn chiến tranh.Em cảm thấy rất xúc động trước những khó khăn của người lính trong thời bình,dù vậy họ vẫn giữ được vẻ kiên cường khi thiếu thốn.Cụm từ"trần trụi/lấm lem" đã gợi lên cho em hình ảnh người chiến sĩ chịu mưa,chịu nắng,chịu khổ và sự lam lũ của người lính.Bên cạnh đó họ còn phải chịu "Cái nghèo và cái dốt" cho thấy họ vừa nghèo về mặt kinh tế và nghèo cả mặt học thức.Em thấy thật xót xa trước tinh thần bền bỉ của người chiến sĩ trong đời sống.Tóm lại,sự khổ sở của các chiến sĩ đã giúp ta lấy được hoà bình nên ta phải tôn trọng,yêu quý cuộc sống hiện tại.
Câu 2:
Nhân vật chú Kiến trong văn bản "Con Kiến và con Bồ Câu" đã cho ta thấy được chú là một sinh vật nhỏ bé nhưng khiêm nhường.
Câu 1: viết bài văn ngắn
Sau khi đọc đoạn trích bài "ca người lính thời bình "của tác giả Trần Đăng khoa em cảm thấy vô cùng xúc động và khâm phục những người lính. Dù đất nước đã không còn chiến tranh họ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, gian khổ trong cuộc sống. Em đặc biệt ấn tượng với sự đối lập giữa người lính và những người khác trong xã hội,qua đó càng thấy rõ sự hy sinh thầm lặng của họ. Những ng lính ấy không chỉ bảo vệ tổ Quốc mà còn góp phần xây dựng đất nước trong thời bình . Đoạn thơ giúp em thêm trân trọng, biết ơn và tự nhắc bản thân phải sống có trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước
Câu 2 viết bài văn
Nhân vật còn kiến trong truyện là"kiến và bồ câu là một hình tượng tiêu biểu để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Trước hết kiến là con vật bé nhỏ , yếu ớt nhưng lại rất chăm chỉ ngày ngày đi kiến mồi.trong một lần không mấy kiến bị rơi xuống nước và gặp nguy hiểm nhưng bồ câu đã kịp thời đến cứu từ đó kiến thế hiện rõ phẩm chất đáng quý của mình, đó là lòng biết ơn
Sau khi được cứu mạng kiến không quên công ơn của bồ câu, khi thấy bộ mồ câu gặp nguy hiểm trước người thợ săn kiến đã nhanh chóng hành động liều mình lao đến cắn vào chân của bồ câu để cứu bạn. Hành động tùy nhỏ bé nhưng nhưng lại rất ý nghĩa thể hiện sự dũng cảm và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì người khác. Qua đó kiến không chỉ là con vật chăm chỉ mà còn là biểu tượng của lòng biết ơn .
Bên cạnh đó nhân vật kiến giúp người đọc hiểu được một bài học sâu sắc trong cuộc sống là hãy biết trân trọng những sự giúp đỡ dỡ dù chỉ là nhỏ nhất và luôn giúp đỡ người khác khi có thể có thể .
Tóm lại nhân vật kiến đã góp phần làm nổi bật ý nghĩa của câu truyện qua hình ảnh nhỏ bé nhưng giàu tình cảm ấy, tác giả đã gửi gắm thông điệp về lòng biết ơn và sự giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống đây là bài học quý giá mà mỗi người chúng ta cần gửi nhớ và thực hiện.