K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về bài thơ "Dáng đứng Việt Nam" Bài thơ "Dáng đứng Việt Nam" của Lê Anh Xuân đã để lại trong em những dư ba sâu sắc về hình tượng người chiến sĩ giải phóng quân anh hùng. Tác giả đã khắc họa một khoảnh khắc hy sinh lẫm liệt tại sân bay Tân Sơn Nhất: người chiến sĩ ngã xuống nhưng vẫn trong tư thế tiến công, "Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt / Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng". Hình ảnh ấy không chỉ là một sự thật khốc liệt của chiến tranh mà đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật cao đẹp – một "dáng đứng Việt Nam" tạc vào thế kỷ. Em đặc biệt xúc động trước sự hy sinh thầm lặng của Anh, một người con không để lại tên tuổi, địa chỉ, chỉ có tình yêu Tổ quốc là còn mãi. Cách sử dụng các tính từ biểu cảm cùng giọng thơ trang trọng, tự hào của Lê Anh Xuân đã biến cái chết trở thành sự bất tử. Đọc bài thơ, em thêm trân trọng nền hòa bình hôm nay và tự hứa sẽ học tập thật tốt để xứng đáng với những hy sinh cao cả của thế hệ cha anh đi trước.
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:       CẢNH NGÀY HÈ (Bảo kính cảnh giới – Bài 43)Rồi(1) hóng mát thuở ngày trường,Hoè lục đùn đùn tán rợp giương(2).Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ(3),Hồng liên trì đã tiễn mùi hương(4).Lao xao chợ cá làng ngư phủ(5),Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương(6).Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng(7),Dân giàu đủ khắp đòi(8) phương.(Theo Hợp tuyển...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

       CẢNH NGÀY HÈ

 (Bảo kính cảnh giới – Bài 43)

Rồi(1) hóng mát thuở ngày trường,

Hoè lục đùn đùn tán rợp giương(2).

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ(3),

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương(4).

Lao xao chợ cá làng ngư phủ(5),

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương(6).

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng(7),

Dân giàu đủ khắp đòi(8) phương.

(Theo Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II – Văn học thế kỉ X – thế kỉ XVII, Sđd)

Chú thích:

(1) Rồi: ở đây là rỗi rãi.

(2) Lục: màu xanh; hoè lục: màu xanh cây hoè; tán rợp giương: tán giương lên che rợp.

(3) Thức (từ cổ): màu vẻ, dáng vẻ. Ý cả câu thơ: cây thạch lựu ở hiên nhà đang phun màu đỏ.

(4) Tiễn mùi hương: ngát mùi hương (tiễn: từ Hán Việt, có nghĩa là dư ra). Ý cả câu thơ: sen hồng trong ao đã ngát mùi hương.

(5) Làng ngư phủ: làng chài lưới.

(6) Dắng dỏi (từ cổ): có nghĩa là inh ỏi. Cầm ve: tiếng ve kêu như tiếng đàn. Lầu tịch dương: lầu (nhà cao) lúc mặt trời sắp lặn.

(7) Dẽ có: lẽ ra nên có. Ngu cầm: thần thoại Trung Quốc kể rằng hai triều vua Đường Nghiêu và Ngu Thuấn là hai triều đại lí tưởng, xã hội thanh bình, nhân dân hạnh phúc. Riêng vua Ngu Thuấn có khúc hát Nam phong, trong đó có câu: Nam phong chi thì hề khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề (Gió nam thuận thì có thể làm cho dân ta thêm nhiều của). Ngu cầm là đàn của vua Ngu Thuấn. Ý cả câu: Hãy để cho ta có đàn của vua Thuấn để đàn một khúc Nam phong.

(8) Đòi: nhiều.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên nào được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu?

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ được dùng trong câu thơ sau?

Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc gì?

Câu 5. Chủ đề của bài thơ là gì? Căn cứ vào đâu em xác định như vậy?

Câu 6. Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên ngày hè, em rút ra được bài học gì cho bản thân trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình? Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) trả lời cho câu hỏi trên.

8
21 tháng 10 2025

Thể thơ: Thất ngôn xen lục ngôn

21 tháng 10 2025

Những hình ảnh thiên nhiên nhắc đến mùa hè

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:NHỚ HUẾ QUÊ TÔISông núi vươn dài tiếp núi sôngCò bay thẳng cánh nối đồng khôngCó người bảo Huế xa, xa lắmNhưng Huế quê tôi ở giữa lòngMười một năm trời mang Huế theoĐèo cao nắng tắt bóng cheo leoGiọng hò mái đẩy vờn mây núiMan mát sông Hương lướt đỉnh đèoTôi gặp bao người xứ Huế xaĐèn khuya thức mãi chí xông phaMở đường giải...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

NHỚ HUẾ QUÊ TÔI

Sông núi vươn dài tiếp núi sông
Cò bay thẳng cánh nối đồng không
Có người bảo Huế xa, xa lắm
Nhưng Huế quê tôi ở giữa lòng

Mười một năm trời mang Huế theo
Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo
Giọng hò mái đẩy vờn mây núi
Man mát sông Hương lướt đỉnh đèo

Tôi gặp bao người xứ Huế xa
Đèn khuya thức mãi chí xông pha
Mở đường giải phóng về quê mẹ
Dựng khắp non sông bóng xóm nhà

Có bao người Huế không về nữa
Gửi đá ven rừng chép chiến công
Có mồ liệt sĩ nâng lòng đất
Buồm phá Tam Giang gió thổi lồng

Nặng trĩu trăm năm bóng cổ thành
Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh
Cờ sao ngày ấy buồn cung cấm
Sông nước xôn xao núi chuyển mình

Bao độ thu về, thu lại qua
Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa
Mỗi lần phượng nở rung màu đỏ
Càng giục canh sương rộn tiếng gà.

Hà Nội, thu, năm 1936
(Thanh Tịnh, Thơ ca, NXB Quân đội nhân dân, 1980)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Bài thơ “Nhớ Huế quê tôi” được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất.

Câu 3. Phân tích sắc thái nghĩa của từ “nhuộm” trong dòng thơ “Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh”.

Câu 4. Trình bày cảm hứng chủ đạo của bài thơ? Căn cứ vào đâu em xác định như vậy?

Câu 5. Phân tích mạch cảm xúc của bài thơ trên.

Câu 6. Từ câu thơ “Có bao người Huế không về nữa/ Gửi đá ven rừng chép chiến công”, em hãy viết một đoạn văn (7 – 10 dòng) nêu suy nghĩ của mình về sự hi sinh cao cả của những con người đã ngã xuống cho độc lập, tự do; đồng thời liên hệ trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống ấy.

1
26 tháng 9 2025

Trả lời các yêu cầu Đọc hiểu Câu 1. Thể thơ Bài thơ “Nhớ Huế quê tôi” được viết theo thể thơ thất ngôn (bảy chữ) với các khổ thơ bốn câu, có cách gieo vần chủ yếu là vần chân. Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương trong khổ thơ thứ nhất Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất là: +Sông núi vươn dài +Núi sông +Cò bay thẳng cánh +Đồng không +Huế +Huế quê tôi ở giữa lòng Câu 3. Phân tích sắc thái nghĩa của từ “nhuộm” Trong dòng thơ “Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh”: -Nghĩa đen: "Nhuộm" là làm cho vật khác thấm màu, đổi màu. -Sắc thái nghĩa trong câu thơ: Từ "nhuộm" được dùng với nghĩa chuyển, gợi lên sự mất mát, đau thương, sự đổ máu, hy sinh to lớn và dữ dội. Màu "máu đỏ" không chỉ đơn thuần là màu sắc mà còn là sự sống, là sinh mệnh đã ngã xuống, hòa quyện, thấm đẫm vào màu "đồng xanh" (màu của quê hương, của sự sống, của hòa bình). Từ đó, nó khắc họa sâu sắc cái giá phải trả bằng máu xương của bao thế hệ người dân Huế, những người đã chiến đấu vì độc lập, tự do của quê hương. Câu 4. Cảm hứng chủ đạo và căn cứ xác định -Cảm hứng chủ đạo: Tình yêu quê hương tha thiết và niềm tự hào sâu sắc về truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường của con người và mảnh đất Huế. -Căn cứ xác định: +Tình cảm cá nhân: Nhan đề "Nhớ Huế quê tôi" và hình ảnh "Huế quê tôi ở giữa lòng" (khổ 1), "mang Huế theo" (khổ 2) thể hiện sự gắn bó, khắc khoải. Niềm tự hào về truyền thống cách mạng: Bài thơ ngợi ca những người con Huế "thức mãi chí xông pha", "Mở đường giải phóng về quê mẹ", sự hy sinh cao cả ("máu đỏ nhuộm đồng xanh", "Gửi đá ven rừng chép chiến công"). Câu 5. Phân tích mạch cảm xúc Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo một trình tự hồi tưởng và tự hào về quê hương Huế, gắn liền với những kỉ niệm và truyền thống cách mạng: -Khổ 1 (Khẳng định tình cảm): Mở đầu bằng lời khẳng định tình cảm mãnh liệt, sâu đậm: Huế không xa xôi mà nằm "ở giữa lòng" tác giả, là sự hòa quyện của sông núi và đồng không. -Khổ 2 (Hồi tưởng): Cảm xúc chuyển sang hồi tưởng những kỉ niệm gắn bó, gần gũi như sông Hương, giọng hò mái đẩy, mang theo Huế vượt qua mọi không gian cách trở (Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo). -Khổ 3 & 4 (Tự hào về người Huế và sự hy sinh): Mạch cảm xúc vỡ òa thành niềm tự hào khi nghĩ về những người con xứ Huế kiên cường, bất khuất, có "chí xông pha", dấn thân "Mở đường giải phóng". Đặc biệt, xúc động và trân trọng những hy sinh cao cả ("Có bao người Huế không về nữa", "máu đỏ nhuộm đồng xanh") cho độc lập, tự do. -Khổ 5 (Nhắc lại lịch sử đau thương): Cảm xúc lắng đọng, trầm buồn khi nhắc đến những năm tháng đau thương, máu lửa của lịch sử Huế ("bóng cổ thành", "máu đỏ nhuộm đồng xanh"), nhưng vẫn ánh lên niềm hy vọng, khí thế chuyển mình của đất nước (Sông nước xôn xao núi chuyển mình). -Khổ 6 (Khắc khoải và chờ mong): Kết thúc bằng cảm xúc khắc khoải, nhớ thương quê mẹ ("Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa") xen lẫn sự chờ mong, thôi thúc về một ngày trở về, hoàn thành sứ mệnh (hình ảnh phượng nở và tiếng gà giục giã). Mạch cảm xúc hồi tưởng - tự hào - trầm hùng - khắc khoải tạo nên bức chân dung thơ mộng nhưng cũng đầy bi tráng về mảnh đất và con người Huế. Câu 6. Đoạn văn suy nghĩ về sự hy sinh và trách nhiệm của thế hệ trẻ Câu thơ “Có bao người Huế không về nữa/ Gửi đá ven rừng chép chiến công” gợi lên trong tôi sự xúc động và lòng biết ơn vô hạn đối với những thế hệ đã hy sinh vì Tổ quốc. Hình ảnh "Gửi đá ven rừng chép chiến công" là một biểu tượng bi tráng về sự hóa thân bất tử: các anh hùng đã ngã xuống, biến mình thành một phần của đất nước, dùng sự hy sinh của mình như những dòng chữ khắc vào lịch sử, lưu giữ mãi chiến công vĩ đại. Sự hy sinh ấy là cao cả vì nó đánh đổi cả tuổi xuân, sinh mạng để đổi lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Thế hệ trẻ hôm nay, khi được sống trong hòa bình, càng nhận rõ trách nhiệm của mình. Đó là ghi nhớ công ơn, trân trọng giá trị của tự do và phát huy truyền thống kiên cường. Chúng ta phải nỗ lực học tập, lao động, giữ gìn đạo đức, và xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Đó chính là cách tốt nhất để tiếp nối, chép tiếp những trang sử vàng mà cha ông đã đổ máu xương để viết nên. Deep Research

Câu 9: (1,0 điểm) Nhận xét về tâm trạng của tác giả trong bài thơ. CHỢ ĐỒNGTháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng,Năm nay chợ họp có đông không?Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.Nếm rượu, tường đền được mấy ông?Hàng quán người về nghe xáo xác,Nợ nần năm hết hỏi lung tung.Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.(Nguyễn Khuyến, NXB Giáo dục, Hà Nội,...
Đọc tiếp

Câu 9: (1,0 điểm) Nhận xét về tâm trạng của tác giả trong bài thơ.

CHỢ ĐỒNG

Tháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng,

Năm nay chợ họp có đông không?

Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.

Nếm rượu, tường đền được mấy ông?

Hàng quán người về nghe xáo xác,

Nợ nần năm hết hỏi lung tung.

Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,

Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.

(Nguyễn Khuyến, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1984)

Chú thích:

– Làng Vị Hạ có chợ họp ở trong làng, gọi là chợ Và. Hàng năm cứ đến phiên chợ cuối tháng Chạp (chợ sắm Tết) nhân dân lại dời chợ ra họp ở một cánh ruộng mạ phía sau làng, nên gọi là chợ Đồng. Từ năm 1949, quân Pháp về đóng đồn ở làng Vị Hạ thì chợ Và cũng thôi không họp nữa, và tục họp chợ Đồng vào cuối năm cũng mất.

Nếm rượu, tường đền là một nét đẹp cổ truyền diễn ra trong ba phiên chợ Đồng cuối năm. Các bô lão làng Vị Hạ vẫn ngồi tựa lưng vào tường đền “nếm rượu”, xem thứ rượu nào ngon thì mua để tế lễ Thánh trong dịp Tết và đầu xuân.

4
28 tháng 9 2025

Tâm trạng của tác giả trong bài thơ vừa có nét trầm tư, vừa pha chút lo toan và hồi hộp đón chờ mùa xuân. Qua cảnh chợ Đồng cuối năm với mưa bụi, cái rét còn se lạnh, tác giả cảm nhận được không khí tất bật, ồn ào của người dân chuẩn bị Tết, nhưng đồng thời cũng lo lắng cho những nợ nần, khó khăn của cuộc sống. Tuy vậy, trong lòng vẫn ẩn chứa niềm hy vọng và mong đợi khi nghe tiếng pháo báo hiệu mùa xuân sắp đến. Tâm trạng ấy thể hiện sự hòa quyện giữa thực tại khó khăn và khát khao đổi mới, ấm no trong năm mới.

21 tháng 12 2025

Tâm trạng của tác giả trong bài thơ

- Nỗi buồn bơ vơ cô đơn của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc, chỉ có thể đứng nhìn người người đói khổ

- Nhà thơ cũng khao khát cuộc sống có thể tốt đẹp hơn để nhân dân thoát khỏi cảnh nghèo đói hiện tại

28 tháng 9 2025

Vào dịp nghỉ hè năm ngoái, em đã có một chuyến đi tham quan di tích lịch sử rất đáng nhớ cùng gia đình. Điểm đến của chúng em là Khu di tích lịch sử Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội, nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa và truyền thống hiếu học của dân tộc.


Khi đến Văn Miếu, em cảm nhận được không khí trang nghiêm và cổ kính qua những cổng tam quan, các mái đình cong vút và những bức bia đá khắc tên các trạng nguyên nổi tiếng. Em được bố mẹ giới thiệu về lịch sử của Văn Miếu – Quốc Tử Giám, nơi từng là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, cũng là nơi ghi dấu sự phát triển của giáo dục nước nhà qua nhiều thế kỷ.


Điều làm em ấn tượng nhất là khu vực bia tiến sĩ với hàng trăm tấm bia được đặt trang trọng trên những con rùa đá, tượng trưng cho trí tuệ và sự bền bỉ. Em còn được tham gia viết thư pháp và nghe hướng dẫn viên kể nhiều câu chuyện thú vị về các danh nhân, những nhà khoa học tài giỏi của nước ta.


Chuyến đi đã giúp em hiểu thêm về truyền thống hiếu học, lòng tự hào dân tộc và ý nghĩa của việc giữ gìn các giá trị văn hóa. Em mong rằng mình sẽ học tập chăm chỉ để không phụ lòng các bậc tiền nhân và góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.

Trong chuyến thực tế vừa qua, em đã có cơ hội đến tham quan Văn Miếu-Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của nước ta. chuyến đi này không chỉ mở mang tầm mắt mà còn để lại trong em những ấn tượng vô cùng sâu sắc.

Ngay từ khi bước qua cổng chính, em đã bị ấn tượng bởi không gian cổ kính, tôn nghiêm và tách biệt hẳn với sự ồn ào của phố Thị. giữa khuôn viên là Khuê Văn các với kiến trúc lầu vuông tám mái, bốn cửa tròn tượng trưng cho các vì sao lấp lánh, soi bóng xuống hồ Thiên Quang tỉnh trong vắt. đi sâu vào bên trong, em được tận mắt chiêm ngưỡng 82 bia tiến sĩ bằng đá được đặt trên lưng rùa, nơi khắc ghi danh tính của những bậc Hiền tài xưa. khi nghe cô hướng dẫn viên thuyết minh về lịch sử khoa bảng và tinh thần hiếu học của cha ông, trong lòng em trào dâng một niềm tự hào và xúc động mãnh liệt. em và các bạn cũng đã vào khu điện thờ để thắp hương, bày tỏ lòng thành kính trước thầy giáo Chu Văn An và các vị Tiên thánh.

Chuyến tham quan Văn miếu- Quốc Tử giám là một kỷ niệm vô giá đối với em. trở về sau chuyến đi, em tự hứa với bản thân sẽ luôn cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với truyền thống hiếu học ngàn năm của dân tộc

24 tháng 9 2025

Làm giúp nì,tick cho tui nhe:

Bài thơ Mẹ tôi của tác giả Từ Dạ Linh đã để lại trong em một ấn tượng sâu sắc về tình cảm thiêng liêng và sự hy sinh vô bờ của mẹ. Qua từng câu chữ, tác giả đã vẽ nên hình ảnh người mẹ với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc nhưng lại vô cùng vĩ đại. Những hình ảnh của mẹ trong bài thơ như "mẹ là ngọn lửa cháy âm thầm" hay "mẹ là mảnh đất quê hương" khiến em cảm nhận rõ ràng sự nuôi dưỡng và bảo vệ vô điều kiện mà mẹ dành cho con cái. Mẹ không chỉ là người sinh thành, mà còn là người truyền cảm hứng, là nơi con tìm về khi mệt mỏi hay lạc lối. Cảm xúc trong bài thơ nhẹ nhàng nhưng đầy chất chứa, như một lời nhắc nhở về lòng biết ơn, sự kính trọng đối với những hy sinh thầm lặng của mẹ. Em thấy mình như được gợi nhắc lại những kỷ niệm bên mẹ, càng thêm trân quý những gì mẹ đã làm cho mình. Mẹ là tất cả, là niềm tin và là nguồn động lực vô giá trong cuộc đời mỗi người.

24 tháng 9 2025
Bài thơ "Mẹ tôi" của Từ Dạ Linh khắc họa chân dung người mẹ vĩ đại, hi sinh, chịu đựng gian khổ vì con, với tình thương bao la, tha thiết được thể hiện qua hình ảnh ẩn dụ sâu sắc và giọng điệu mộc mạc, xót xa. Đọc bài thơ, ta thấu hiểu sự hy sinh thầm lặng của mẹ, thấy mình cần biết ơn và trân trọng mẹ hơn, đồng thời nhận ra tình yêu thương của mẹ là món quà quý giá nhất mà cuộc sống ban tặng.  Cảm xúc về hình ảnh người mẹ
  • Biểu tượng của sự hi sinh:  Tác giả khắc họa mẹ là người chịu đựng "đắng cay ngang trái", giấu đi "đớn đau" để dành cho con sự sống và che chở, dõi theo con suốt cuộc đời. 
  • Biểu hiện của tình thương:  Tình mẹ được thể hiện qua những hành động cụ thể như chăm sóc con, là chỗ dựa tinh thần, hay qua nỗi mong nhớ con da diết trong câu hát ru "À ơi... Sáng trông/Trưa đợi/Tối chờ". 
  • Sự lớn lao, vĩ đại:  Dù cuộc sống có khó khăn đến đâu, mẹ vẫn là người vĩ đại và thiêng liêng nhất, là nguồn sức mạnh, tình yêu thương vô bờ bến dành cho con. 
Cảm xúc về nghệ thuật và giọng điệu 
  • Giọng điệu mộc mạc, tha thiết:  Tác giả sử dụng giọng điệu chân thành, giản dị, kết hợp với hình ảnh ẩn dụ và so sánh độc đáo, tạo nên sức lay động mạnh mẽ.
  • Lời ru quen thuộc:  Câu hát ru "À ơi..." mang âm hưởng của quê hương, làm cho bài thơ trở thành một khúc hát tri ân bất tận, gợi cảm xúc sâu lắng.
Suy ngẫm và bài học
  • Lòng biết ơn sâu nặng:  Bài thơ khơi gợi trong em niềm xúc động, biết ơn sâu sắc đối với tình mẹ, hiểu được giá trị của những hy sinh thầm lặng mà mẹ dành cho con. 
  • Trân trọng phút giây bên mẹ:  Tác giả muốn gửi gắm thông điệp hãy trân trọng những khoảnh khắc được ở bên cạnh mẹ, yêu thương và đền đáp công ơn của mẹ. 
  • Tình yêu thương là hạnh phúc:  Tình yêu thương của cha mẹ là món quà vô giá, giúp ta vững bước trên đường đời. 
Tóm lại, "Mẹ tôi" là bài thơ mang đến những xúc cảm sâu sắc về tình mẫu tử, làm người đọc thêm yêu quý và trân trọng mẹ hơn. 
22 tháng 3

Câu 1. bài thơ lá đỏ gợi cho em nhiều cảm xúc sâu lắng về thiên nhiên và con người trong chiến tranh, hình ảnh lá đỏ không chỉ tả cảnh mà còn gợi lên sự khốc liệt nhưng cũng rất đẹp của chiến trường, em cảm nhận được tinh thần lạc quan, yêu đời và ý chí kiên cường của người lính, qua đó em càng thêm trân trọng những hi sinh thầm lặng của họ để bảo vệ đất nước, đồng thời thấy được vẻ đẹp giản dị mà xúc động của thiên nhiên gắn liền với con người trong hoàn cảnh khó khăn

bài thơ đợi mẹ, em như được sống lại trong một không gian đầy yêu thương và chờ mong. Hình ảnh em bé ngồi trông ngóng mẹ về vừa hồn nhiên, trong sáng, vừa gợi lên nỗi nhớ thương tha thiết. Những vần thơ giản dị mà chân thật đã khắc họa rõ tình cảm gắn bó thiêng liêng giữa mẹ và con.Em cảm nhận được nỗi khát khao có mẹ ở bên,đc nghe giọng nói ấm áp, được vòng tay mẹ ôm ấp vỗ về. Đằng sau lời thơ còn là sự hy sinh thầm lặng, vất vả của mẹ cho con có cuộc sống đầy đủ, bình yên.Bài thơ khiến em càng thêm trân trọng những khoảnh khắc gần gũi bên mẹ, đồng thời nhắc nhở em phải biết yêu thương, kính trọng và báo đáp công lao to lớn của mẹ bằng sự ngoan ngoãn, học tập chăm chỉ và những việc làm tốt nhỏ bé mỗi ngày

Câu 9: (1,0 điểm) Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản có ý nghĩa gì?CƠM MÙI KHÓI BẾP Bốn năm từ ngày lấy vợ, Tết này anh mới đưa được cả vợ và con về quê. Từ Sài Gòn về miền Trung không hẳn quá xa, nhưng vì có đứa con nhỏ nên chuyện đi lại khó khăn. Mấy lần trước anh chỉ về một mình, dăm hôm lại trở vào. Lần này cả nhà mới được về quê, cho đứa con ăn Tết quê...
Đọc tiếp

Câu 9: (1,0 điểm) Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản có ý nghĩa gì?

CƠM MÙI KHÓI BẾP

Bốn năm từ ngày lấy vợ, Tết này anh mới đưa được cả vợ và con về quê. Từ Sài Gòn về miền Trung không hẳn quá xa, nhưng vì có đứa con nhỏ nên chuyện đi lại khó khăn. Mấy lần trước anh chỉ về một mình, dăm hôm lại trở vào. Lần này cả nhà mới được về quê, cho đứa con ăn Tết quê nội lần đầu.

[…]

Hôm sau bà lọ mọ dậy từ lúc trời chưa hửng sáng, nhóm lửa rơm, bắc nồi cơm. Thằng cháu nội ba tuổi chạy xuống thấy khói bếp bốc ngùn ngùn, khiếp quá hét toáng lên: “Cháy nhà”.

Anh chị đang ngủ giật mình vùng dậy. Anh bảo nhà đã có bếp gas, mẹ nấu gì thứ rơm đó nữa cho cực. Bà cười: “Tụi bây ăn cơm nồi cơm điện thành phố rồi, về quê mẹ nấu cơm lửa rơm cho thơm mùi đồng mùi rạ. Mà cơm nấu rơm mới có miếng cháy ăn giòn. Mấy hồi anh nhỏ, bữa ăn không có miếng cơm cháy là giãy nãy lên bướng bỉnh chẳng chịu ăn. Nhớ không.”

Trời rạng tưng tửng sáng, thấy khói bay lên len qua mái tranh, anh chợt bùi ngùi. Nhớ ngày xưa còn nhỏ, sáng sớm anh chạy xuống bếp nằm cuộn trong lòng mẹ ngủ nướng thêm một lúc. Thức giấc giở nắp nồi ngửi mùi cơm. Rồi lấy đũa xới hết cơm lên để lột miếng chảy ở đáy rồi ăn trước. Lớn lên vào Sài Gòn lập nghiệp, cưới vợ sinh con ở đấy, xa cái bếp quê dần thành quên. Với lại ở trong đó, đâu có mấy ai ăn sáng ở nhà. Cái bụng cũng “lười” và “yếu” đi, sáng phải bún hoặc cháo mới nuốt nổi. Giờ về thấy cơm, thèm thì thèm thật nhưng ăn chi vô.

Cô con dâu bảo: “Mẹ bày ra nấu bữa sáng làm gì cho cực. Chúng con ra quán ăn miếng là rồi việc”. “Bây nói chi lạ. Ăn uống phải đàng hoàng chớ. Bữa sáng là quan trọng lắm. Không ai thương bằng cơm thương đâu con. Ăn cơm chắc bụng no lâu. Mấy cái thứ bún cháo nước õng ệu, chỉ nhoáng là đói lại liền à.” – Bà vừa san cơm ra chén vừa nói.

Ba chén cơm trắng, đĩa cá đồng kho nghệ. Anh háy mắt qua vợ, ý bảo ăn đi, ăn lấy lòng mẹ một miếng. Chị lại háy mắt qua anh lắc đầu, có mà sức Thánh Gióng mới nuốt trôi. Thằng cu con nhìn chằm chằm chén cơm. Cuối cùng chỉ có anh trệu trạo làm được ba miếng, như là ăn tượng trưng cho mỗi người một miếng. Tranh thủ lúc mẹ đi ra giếng, anh lùa cả ba chén cơm trắng vào lại nồi.

Sáng hôm sau bà lại dậy sớm. Lại nhóm bếp rơm nấu cơm. Xong bữa nồi cơm không vơi được là mấy, vẫn đầy như lòng mẹ. Anh gắng ăn được nửa chén. Chén lòng san đôi cho mẹ cho vợ. Anh dối mẹ chở vợ con đi xem chợ Tết, đi thăm thú làng quê, thực chất là để ghé quán cho vợ con ăn bún ăn cháo.

Anh tự nhủ sáng mai phải thức sớm ngồi nấu bếp với mẹ như xưa. Tự nhủ sáng mai phải ăn chén cơm đầy với mẹ, nhai một miếng cơm cháy giòn thơm. Nhưng lâu ngày giờ về quê gặp lại bạn bè người thân, chỗ này mời chén rượu, chỗ kia mời bữa cơm. Cơm rượu quê hàn huyên câu chuyện ngày dài tới tận khuya. Hôm sau thức dậy đã sáng trọt sáng trời, cổ họng khô khốc không ăn nổi cơm dẻo, huống hồ là miếng cơm cháy.

Chưa hết Tết, mới ngày mùng bốn anh lại phải đưa vợ con vào Sài Gòn. Bà mẹ dậy sớm làm gà, nấu cơm. Vẫn một mình bà cặm cụi với cái bếp. Bà xúc đầy cơm vào chiếc ca mèn. Gà luộc cho vào hộp đựng. “Bây đem lên xe mà ăn. Cơm dọc đường dọc sá không ngon đâu”.

Con cháu lên taxi rồi bà còn dặn theo: “Vào trong nhớ ăn uống đàng hoàng nghe bây. Đừng bỏ bữa sáng. Không ai thương bằng cơm thương”.

Vào tới Sài Gòn ca mèn cơm vẫn còn một nửa. Vợ định đem đi đổ. Anh can, bảo để đấy, phơi khô cất giữ làm kỷ niệm.

*

Qua tháng ba nghe tin mẹ bệnh, anh tức tốc về nhà. Nằm trên giường, gặp con, câu đầu tiên bà hỏi: “Con ăn chi chưa. Mẹ không bắc cơm được. Thôi ra đầu chợ ăn tạm. Bữa nào khỏe mẹ nấu cơm cho ăn. Tội nghiệp”.

Nhưng mẹ không khỏe nữa, yếu dần, được thêm hai bữa thì nhắm mắt.

Đưa mẹ ra đồng xong, về nhà nhìn chén cơm trắng đặt trên bàn thờ, anh thấy nhói lòng. Ân hận. Thế là hết cơ hội được ăn với mẹ một chén cơm sáng thật đầy, để nghe mẹ nói câu “Không ai thương bằng cơm thương”. Tiếc nuối. Thèm miếng cơm cháy mẹ nấu quá. Giòn và thơm, mùi hương đồng mùi nước quê, cả mùi khói bếp. Chỉ có mẹ mới nấu được miếng cơm cháy ngon như thế.

Hôm lên đường vào Sài Gòn, anh dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ. Anh tự mình vo gạo, tự mình nhóm bếp rơm. Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói…

(Theo Hoàng Công Danh, Chuyến tàu vé ngắn, NXB Trẻ, trang 49 – 54 2016, TPHCM)

3
28 tháng 9 2025

Câu 9:

Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản mang ý nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho tình mẫu tử thiêng liêng, ấm áp và chan chứa yêu thương. Khói bếp không chỉ là khói từ bếp lửa quê hương, mà còn là hình ảnh gợi nhớ về mẹ, về những bữa cơm bình dị, chân thành mà đầy ắp tình thương. Đó là biểu tượng của những ký ức tuổi thơ không thể nào quên, là nơi khởi đầu của yêu thương, chăm sóc và hy sinh lặng thầm. Hình ảnh khói bếp đã đánh thức nỗi ân hận, tiếc nuối của người con, đồng thời cũng nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng những yêu thương giản dị khi còn có thể.

18 tháng 12 2025

-gợi nhớ những kỷ niệm tuổi thơ: khỏi bếp gắn với buổi sáng quây quần bên mẹ với mùi cơm rơm cơm cháy thơm giòn

-biểu tượng của tình mẹ : khỏi bếp là hình ảnh ẩn dụ cho tình thương ấm áp bền bỉ lặng lẽ mà mẹ dành cho con

-biểu hiện day dứt và tình cảm sâu nặng: khói bếp như còn vương mãi trong ký ức gọi sự tri ân và nỗi nhớ khôn nguôi về mẹ

30 tháng 9 2025

Bài thơ Những cánh buồm của Hoàng Trung Thông đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc. Qua hình ảnh cánh buồm trắng trên biển khơi, tác giả đã gợi lên ước mơ, khát vọng vươn tới chân trời mới của tuổi thơ. Cánh buồm không chỉ là kỉ niệm gắn với người cha lam lũ, mà còn là biểu tượng của niềm tin và hi vọng mà cha muốn gửi gắm cho con. Đọc bài thơ, em cảm nhận được tình phụ tử thiêng liêng, giản dị mà vô cùng ấm áp. Đồng thời, em cũng thấy được ước mơ lớn lao của thế hệ trẻ: muốn đi xa, muốn khám phá, muốn cống hiến. Bài thơ giúp em thêm yêu cha mẹ, biết trân trọng những tình cảm thân thương và nuôi dưỡng cho mình những khát vọng tươi đẹp trong cuộc sống.

30 tháng 9 2025

Tham khảo nhé: Mẫu 1: Bài thơ "Những cánh buồm" của Hoàng Trung Thông đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc. Tác phẩm không chỉ khắc họa hình ảnh những cánh buồm căng gió trên biển cả mà còn gợi lên những ước mơ, khát vọng vươn ra khơi xa của con người. Qua từng câu thơ, em cảm nhận được sự mạnh mẽ, tự do và khát khao chinh phục những chân trời mới. Hình ảnh những cánh buồm như biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, cho tinh thần dũng cảm và ý chí không ngừng vươn lên. Bài thơ đã truyền tải một thông điệp tích cực về cuộc sống, khuyến khích mỗi người hãy luôn theo đuổi ước mơ của mình, bất chấp những khó khăn, thử thách. Em cảm thấy rất tự hào khi được học và cảm nhận vẻ đẹp của tác phẩm này. Mẫu 2: Bài thơ "Những cánh buồm" của Hoàng Trung Thông đã gửi gắm nhiều thông điệp giá trị về tình cảm cha con. Mở đầu, tác giả đã vẽ nên một bức tranh rất đẹp đẽ. Trong tranh, cha đang dắt con đi dạo trên bãi biển. Ánh mặt trời chiếu xuống, phản chiếu bóng của cha và con. Bóng cha dài lênh khênh còn bóng con lại tròn chắc nịch. Hình ảnh này gợi ra sự khác biệt giữa hai thế hệ. Người cha mang dáng vẻ trưởng thành, còn đứa con thì nhỏ bé. Cha và con bước đi trong một khung cảnh thiên nhiên đầy thơ mộng. Bãi cát trải dài mịn màng, nước biển thì trong xanh. Ánh nắng của buổi sớm mai mang sắc hồng rực rỡ. Lắng nghe tiếng bước chân của con, lòng cha cảm thấy vui vẻ, sung sướng. Thế rồi, đứa con bỗng chỉ về phía xa và hỏi người cha. Câu hỏi chứa đựng sự tò mò của trẻ thơ, khao khát được chinh phục, khám phá thế giới. Tiếng “Cha ơi!” vang lên có chút trìu mến, thân thương. Cha mong rằng con có được khám phá thế giới rộng lớn ngoài kia. Đến những câu thơ cuối, hình ảnh người cha dắt con đi được lặp lại. Người cha dường như bắt gặp bản thân ở trong đứa con. Và người cha gửi gắm mong muốn đó vào đứa con thân yêu của mình. Hoàng Trung Thông đã sử dụng hình ảnh gần gũi, giản dị cùng với giọng điệu hồn nhiên, trong sáng. “Những cánh buồm” là một bài thơ có thông điệp giá trị về tình cảm cha con. Tôi rất yêu thích bài thơ Những cánh buồm.