I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn văn bản sau:

Mỗi người đều có những khả năng nhất định. Nhưng điều quyết định thành bại trong đời không phải là việc sở hữu tiềm năng, mà là việc bạn sẽ sử dụng nó ra sao.

Khả năng của con người cũng giống như những cơ bắp vậy, nếu không rèn luyện, không sử dụng, chúng sẽ ngày càng yếu đi.

Ngay cả khi ta đã rèn luyện khả năng của mình đến một mức độ chuyên môn nhất định, nếu không chú tâm cố gắng mài giũa nó hằng ngày, khả năng của mình vẫn có nguy cơ mai một và biến mất.

Ở đời rất khó để đi lên nhưng rất dễ để đi xuống. Xây dựng tài năng phải mất mười năm mà đánh mất tài năng chỉ cần mười tuần. Và ở đời cũng rất dễ để đi lên nếu người ta đang ở dưới đáy. Nhưng rất khó đi lên khi đã ở mức lưng chừng. Khi đã có một số thứ, đã có tí tài năng, đã có tí vật chất, đã có cái để mất, có cuộc sống thoải mái dễ chịu, thì cũng mất dần động lực để vươn lên mức tiếp theo.

Và không ít người bị mắc kẹt ở mức lưng chừng như vậy. Chìm vào những trò giải trí đơn thuần. Thư giãn quá nhiều, tận hưởng quá nhiều. Không quý trọng thời gian. Bị rơi vào cái bẫy của hội chứng “vừa đủ”. Và cứ thế, không thể sống được hết với tiềm năng của chính mình.

(Rosie Nguyễn, Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2021, tr.209)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định luận đề của đoạn trích trên.

Câu 2. Theo tác giả, khi nào con người rất khó đi lên?

Câu 3. Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: Khả năng của con người cũng giống như những cơ bắp vậy, nếu không rèn luyện, không sử dụng, chúng sẽ ngày càng yếu đi.

Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về hội chứng “vừa đủ” được tác giả nói đến trong đoạn trích?

Câu 5. Hai ngữ liệu sau có sự tương đồng nào về ý nghĩa?

Ngay cả khi ta đã rèn luyện khả năng của mình đến một mức độ chuyên môn nhất định, nếu không chú tâm cố gắng mài giũa nó hằng ngày, khả năng của mình vẫn có nguy cơ mai một và biến mất.

(Rosie Nguyễn, Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?)

– Không có gì tự đến, dẫu bình thường,

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Như con chim suốt ngày chọn hạt

Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.

(Nguyễn Đăng Tấn, Không có gì tự đến đâu con)

12
6 tháng 5

Câu 1

Luận đề đoạn trích là điều quyết định thắng bại trong đời ngừoi kh phải ở việc sở hữu tiền năng mà ở việc sử dụng nó

Câu 2

Theo tác giả, con người rất khó đi lên khi đã ở mức lưng chừng

Câu 3

Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn trên là so sánh khả năng của con người như những cơ bắ. Giúp cho câu văn thêm sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự cẩn thiết phải nỗ lực không ngừng nghỉ để phát huy tiềm năng con người

Câu 4

Hội chứng vừa đủ là tâm lí hài lòng với mức tối thiểu ổn định, kh cần phấn đấu dù bản thân có thể làm tiếp. Đây là tâm lí dễ nảy sinh khi con người ở mức lưng chừng, đã có một số thứ, có tí tài năng. Hội chứng này biểu hiện ở xu hướng tận hưởng quá nhiều, dễ mất dần động lực để vươn lên tốt hơn.

Câu 5



Câu 1

Luận đề đoạn trích là điều quyết định thắng bại trong đời ngừoi kh phải ở việc sở hữu tiền năng mà ở việc sử dụng nó

Câu 2

Theo tác giả, con người rất khó đi lên khi đã ở mức lưng chừng

Câu 3

Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn trên là so sánh khả năng của con người như những cơ bắ. Giúp cho câu văn thêm sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự cẩn thiết phải nỗ lực không ngừng nghỉ để phát huy tiềm năng con người

Câu 4

Hội chứng vừa đủ là tâm lí hài lòng với mức tối thiểu ổn định, kh cần phấn đấu dù bản thân có thể làm tiếp. Đây là tâm lí dễ nảy sinh khi con người ở mức lưng chừng, đã có một số thứ, có tí tài năng. Hội chứng này biểu hiện ở xu hướng tận hưởng quá nhiều, dễ mất dần động lực để vươn lên tốt hơn.

Câu 5

6 tháng 5

Câu 1

Luận đề đoạn trích là điều quyết định thắng bại trong đời ngừoi kh phải ở việc sở hữu tiền năng mà ở việc sử dụng nó

Câu 2

Theo tác giả, con người rất khó đi lên khi đã ở mức lưng chừng

Câu 3

Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn trên là so sánh khả năng của con người như những cơ bắ. Giúp cho câu văn thêm sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự cẩn thiết phải nỗ lực không ngừng nghỉ để phát huy tiềm năng con người

Câu 4

Hội chứng vừa đủ là tâm lí hài lòng với mức tối thiểu ổn định, kh cần phấn đấu dù bản thân có thể làm tiếp. Đây là tâm lí dễ nảy sinh khi con người ở mức lưng chừng, đã có một số thứ, có tí tài năng. Hội chứng này biểu hiện ở xu hướng tận hưởng quá nhiều, dễ mất dần động lực để vươn lên tốt hơn.



Câu 1.

Luận đề của đoạn trích: Điều quyết định thành bại trong đời con người không phải ở việc sở hữu tiềm năng mà ở việc sử dụng nó.

Câu 2.

Theo tác giả: Con người rất khó đi lên khi đã ở mức lưng chừng.

Câu 3.

- Biện pháp tu từ so sánh: So sánh khá năng của con người giống như những cơ bắp.

- Tác dụng:

+ Làm cho câu văn sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, tăng giá trị biếu đạt.

+ Giống như cơ bắp phải rèn luyện mới rắn rỏi, khả năng của con người phái rèn giũa mỗi ngày mới phát triển. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải nổ lực không ngừng đế phát huy tiêm năng của con người.


Câu 4.

- Hội chứng "vừa đủ" là tâm lí hài lòng với mức tối thiếu ốn định, không cần phân đấu dù bản thân có khả năng.

- Đây là tâm lí dễ nảy sinh khi con người ở mức lưng chừng, đã có một số thứ, có tí tài năng, có cái đế mất, có cuộc sống thoải mái, dễ chịu.

- Hội chứng "vừa đi" biểu hiện ở xu hướng tận hưởng quá nhiều, không quý trọng thời gian và mất dần động lực đế vươn lên tốt hơn. Điều này khiến con người không thế sống hết với tiềm năng.

Câu 5.

Điếm tương đồng của 02 ngữ liệu:

- Cả 02 ngữ liệu đều đề cao vai trò chủ động rèn luyện, nỗ lực của con người. Theo Rosie Nguyễn sự mài giũa hằng ngày giúp khả năng của con người không bị mai một.

Theo Nguyễn Đăng Tấn sự miệt mài và nghị lực mới đem đến những giá trị cho con người.

- Cả 02 ngữ liệu đều mang đến triết lí sâu sắc về cách sống chủ động, tích cực.

7 tháng 5

câu1

Luận đề của đoạn trích: Điều quyết định thành bại trong đời con người không phải ở việc sở hữu tiềm năng mà ở việc sử dụng nó.

Câu 2.

Theo tác giả: Con người rất khó đi lên khi đã ở mức lưng chừng.

Câu 3.

  • Biện pháp tu từ so sánh: So sánh khả năng của con người giống như những cơ bắp.
  • Tác dụng:

+ Làm cho câu văn sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, tăng giá trị biểu đạt.

+ Giống như cơ bắp phải rèn luyện mới rắn rỏi, khả năng của con người phải rèn giũa mỗi ngày mới phát triển. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải nỗ lực không ngừng để phát huy tiềm năng của con người.

Câu 4.

  • Hội chứng "vừa đủ" là tâm lí hài lòng với mức tối thiểu ổn định, không cần phấn đấu dù bản thân có khả năng.
  • Đây là tâm lí dễ nảy sinh khi con người ở mức lưng chừng, đã có một số thứ, có tí tài năng, có cái để mất, có cuộc sống thoải mái, dễ chịu.
  • Hội chứng "vừa đi" biểu hiện ở xu hướng tận hưởng quá nhiều, không quý trọng thời gian và tiềm năng

Cầu 5.

Điểm tương đồng của 02 ngữ liệu:

  • Cả 02 ngữ liệu đều đề cao vai trò chủ động rèn luyện, nỗ lực của con người. Theo Rosie Nguyễn sự mài giũa hằng ngày giúp khả năng của con người không bị mai một. Theo Nguyễn Đăng Tấn sự miệt mài và nghị lực mới đem đến những giá trị cho con người.
  • Cả 02 ngữ liệu đều mang đến triết lí sâu sắc về cách sống chủ đônjg và tích cực

Câu 1.
Luận đề của đoạn trích:
→ Thành công không nằm ở việc có tiềm năng mà ở cách con người rèn luyện, sử dụng và không ngừng phát huy khả năng của mình.

Câu 2.
Theo tác giả, con người rất khó đi lên khi đã ở “mức lưng chừng”, tức là khi đã có một chút tài năng, vật chất, cuộc sống ổn định nên dễ mất động lực phấn đấu tiếp.

Câu 3.
Biện pháp tu từ so sánh: “Khả năng của con người cũng giống như những cơ bắp vậy...”.

Hiệu quả nghệ thuật:

  • Làm cho ý diễn đạt trở nên cụ thể, sinh động, dễ hiểu.
  • Nhấn mạnh khả năng con người cần được rèn luyện và sử dụng thường xuyên.
  • Khẳng định nếu không luyện tập, khả năng sẽ mai một, yếu đi giống như cơ bắp không vận động.

Câu 4.
“Hội chứng ‘vừa đủ’” được hiểu là trạng thái con người hài lòng quá sớm với những gì mình đang có, sống an phận, ngại cố gắng, thích hưởng thụ và không còn khát vọng vươn lên để phát triển bản thân.

Câu 5.
Hai ngữ liệu có điểm tương đồng về ý nghĩa:

  • Đều khẳng định thành công, tài năng không tự nhiên mà có.
  • Con người cần kiên trì rèn luyện, nỗ lực bền bỉ mỗi ngày để phát triển khả năng của bản thân.
  • Nếu không cố gắng và duy trì sự rèn luyện, năng lực sẽ khó đạt được hoặc dễ bị mai một.

Câu 1. Luận đề của đoạn trích:

Luận đề là vai trò quyết định của việc sử dụng, rèn luyện tiềm năng (năng lực) hàng ngày đối với sự thành bại trong cuộc sống, thay vì chỉ sở hữu tiềm năng sẵn có. [1] Câu 2. Theo tác giả, con người rất khó đi lên khi nào?

Theo tác giả, con người rất khó đi lên khi đã ở "mức lưng chừng" – tức là khi đã có một số thành tựu, vật chất, cuộc sống thoải mái, dễ chịu và mất dần động lực vươn lên. [1] Câu 3. Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh:

Biện pháp: So sánh "Khả năng của con người" với "các cơ bắp".

Hiệu quả:

Giúp khái niệm trừu tượng (khả năng/tài năng) trở nên cụ thể, dễ hình dung.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rèn luyện thường xuyên: Nếu cơ bắp không tập luyện sẽ yếu đi, thì tài năng không mài giũa sẽ mai một.

Tạo giọng điệu thuyết phục, sinh động cho lập luận. [1]

Câu 4. Hiểu về hội chứng “vừa đủ”:

Hội chứng "vừa đủ" là tâm lý thỏa mãn với những gì đang có, bằng lòng với mức lưng chừng, từ đó mắc kẹt trong cuộc sống an nhàn, thiếu động lực phấn đấu, sợ mạo hiểm và không dám bứt phá để sống hết với tiềm năng. [1] Câu 5. Sự tương đồng về ý nghĩa giữa hai ngữ liệu:

Cả hai ngữ liệu đều khẳng định: Sự rèn luyện, lao động và nỗ lực bền bỉ, liên tục là yếu tố tiên quyết để duy trì, phát triển tài năng và đạt được thành công, chứ không chỉ dựa vào năng khiếu tự nhiên

Câu 1

Luận đề của đoạn trích: Điều quyết định thành bại trong đời con người không phải ở việc sở hữu tiềm năng mà ở việc sử dụng nó.

Câu 2.

Theo tác giả: Con người rất khó đi lên khi đã ở mức lưng chừng.

Câu 3.

  • Biện pháp tu từ so sánh: So sánh khả năng của con người giống như những cơ bắp.
  • Tác dụng:

+ Làm cho câu văn sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, tăng giá trị biểu đạt.

+ Giống như cơ bắp phải rèn luyện mới rắn rỏi, khả năng của con người phải rèn giũa mỗi ngày mới phát triển. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải nỗ lực không ngừng để phát huy tiềm năng của con người.

Câu 4.

  • Hội chứng "vừa đủ" là tâm lí hài lòng với mức tối thiểu ổn định, không cần phấn đấu dù bản thân có khả năng.
  • Đây là tâm lí dễ nảy sinh khi con người ở mức lưng chừng, đã có một số thứ, có tí tài năng, có cái để mất, có cuộc sống thoải mái, dễ chịu.
  • Hội chứng "vừa đi" biểu hiện ở xu hướng tận hưởng quá nhiều, không quý trọng thời gian và mất dần động lực để vươn lên tốt hơn. Điều này khiến con người không thể sống hết với tiềm năng

Câu 5.

Điểm tương đồng của 02 ngữ liệu:

  • Cả 02 ngữ liệu đều đề cao vai trò chủ động rèn luyện, nỗ lực của con người. Theo Rosie Nguyễn sự mài giũa hằng ngày giúp khả năng của con người không bị mai một. Theo Nguyễn Đăng Tấn sự miệt mài và nghị lực mới đem đến những giá trị cho con người.
  • Cả 02 ngữ liệu đều mang đến triết lí sâu sắc về cách sống chủ động, tích cực.
8 tháng 5

câu 1

Luận đề của đoạn trích là: Sự cần thiết của việc rèn luyện, mài giũa năng lực bản thân và thái độ sống tích cực để không rơi vào cái bẫy của sự tầm thường (hội chứng "vừa đủ").

câu 2

Theo tác giả (dựa trên ngữ cảnh của tác phẩm), con người rất khó đi lên khi họ:

• Không quý trọng thời gian.

• Bị rơi vào cái bẫy của hội chứng "vừa đủ".

• Không sống hết mình với tiềm năng của chính mình.

câu 3

Biện pháp: So sánh "Khả năng của con người" với "những cơ bắp".

Hiệu quả nghệ thuật:

Về diễn đạt: Làm cho khái niệm trừu tượng (khả năng/năng lực) trở nên cụ thể, sinh động và dễ hiểu đối với người đọc.

Về nội dung: Khẳng định một quy luật khách quan: Năng lực không phải là thứ vĩnh cửu. Nếu muốn duy trì và phát triển, con người bắt buộc phải rèn luyện, sử dụng thường xuyên. Nếu lười biếng, năng lực đó sẽ bị thui chột, "yếu đi" giống như cơ bắp không vận động thì sẽ bị teo lại.

Về tác động: Gợi ra lời cảnh báo, thức tỉnh người đọc phải nỗ lực rèn luyện mỗi ngày.

câu 4

Hội chứng "vừa đủ" có thể hiểu là:

• Thái độ sống an phận thủ thường, hài lòng với những gì đang có mà không muốn cố gắng thêm.

• Lối sống thiếu khát vọng, chỉ làm việc ở mức tối thiểu để đối phó hoặc duy trì trạng thái hiện tại thay vì khai phá hết tiềm năng của bản thân.

• Đó là một loại "cái bẫy" tâm lý khiến con người trở nên trì trệ, lãng phí thời gian và dần trở nên tầm thường.

câu 5

Cả hai ngữ liệu (đoạn văn của Rosie Nguyễn và thơ của Nguyễn Đăng Tấn) có sự tương đồng sâu sắc về mặt tư tưởng:

Khẳng định giá trị của sự nỗ lực và rèn luyện: Thành quả hoặc năng lực không tự nhiên mà có, cũng không tự nhiên tồn tại vĩnh viễn. Nó đòi hỏi quá trình "mài giũa hằng ngày" và phải "bằng cả đôi tay và nghị lực".

Cảnh báo về sự đào thải: Nếu không chú tâm cố gắng, mọi thứ sẽ "mai một và biến mất" trước sự "khắc nghiệt" của thời gian và cuộc sống.

Thông điệp chung: Khuyên con người phải chủ động, kiên trì và bền bỉ lao động/học tập để khẳng định giá trị bản thân và đạt được thành công bền vững.


8 tháng 5

Câu 1. Luận đề Sự cần thiết của việc rèn luyện, sử dụng tiềm năng và ý chí vượt qua sự tự mãn để phát triển bản thân. Câu 2. Khi đã ở mức lưng chừng (có chút tài sản, tài năng, cuộc sống thoải mái). Lúc này con người dễ mất động lực và sợ mất những gì đang có nên không dám bứt phá. Câu 3. Hiệu quả biện pháp so sánh • Nội dung: Cụ thể hóa khái niệm "khả năng" vốn trừu tượng trở nên gần gũi như "cơ bắp". • Tác dụng: Nhấn mạnh quy luật: năng lực sẽ yếu đi và biến mất nếu không được rèn luyện, sử dụng thường xuyên. Câu 4. Hội chứng "vừa đủ" Là trạng thái hài lòng sớm với thực tại, sa đà vào hưởng thụ vàphận trong vùng an toàn. Nó khiến con người thui chột ý chí và không khai thác hết giá trị của bản thân. Câu 5. Sự tương đồng về ý nghĩa • Điểm chung: Khẳng định thành quả và tài năng không tự nhiên mà có, cũng không vĩnh cửu. • Thông điệp: Muốn thành công và giữ vững năng lực, con người phải kiên trì khổ luyện, mài giũa hằng ngày bằng chính nghị lực của mình.

Câu 1.

Luận đề của đoạn trích: Điều quyết định thành bại trong đời con người không phải ở việc sở hữu tiềm năng mà ở việc sử dụng nó.

Câu 2.

Theo tác giả: Con người rất khó đi lên khi đã ở mức lưng chừng.

Câu 3.

  • Biện pháp tu từ so sánh: So sánh khả năng của con người giống như những cơ bắp.
  • Tác dụng:

+ Làm cho câu văn sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, tăng giá trị biểu đạt.

+ Giống như cơ bắp phải rèn luyện mới răn rỏi, khả năng của con người phải rèn giũa mỗi ngày mới phát triển. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải nỗ lực không ngừng để phát huy tiềm năng của con người.


Câu 1. Luận đề của đoạn trích: Con người cần không ngừng rèn luyện, nỗ lực phát huy khả năng của bản thân và tránh tâm lí “vừa đủ” để sống hết với tiềm năng của mình. Câu 2. Theo tác giả, con người rất khó đi lên khi đã ở “mức lưng chừng”, tức là khi đã có một chút thành công, tài năng, vật chất và cuộc sống thoải mái nên dễ mất động lực để tiếp tục cố gắng vươn lên. Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh: “Khả năng của con người cũng giống như những cơ bắp vậy…” Hiệu quả nghệ thuật: Giúp cách diễn đạt trở nên sinh động, dễ hiểu. Nhấn mạnh khả năng của con người nếu không được rèn luyện, sử dụng thường xuyên sẽ dần mai một như cơ bắp không vận động. Qua đó khẳng định vai trò của sự nỗ lực, kiên trì rèn luyện để phát triển bản thân. Câu 4. “Hội chứng vừa đủ” được hiểu là trạng thái con người dễ hài lòng với những gì mình đang có, sống an toàn, ngại cố gắng thêm, thiếu khát vọng vươn lên. Điều đó khiến con người dần đánh mất động lực phát triển và không thể phát huy hết tiềm năng của bản thân. Câu 5. Điểm tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu: Cả hai đều khẳng định thành công không tự nhiên mà có, con người phải không ngừng nỗ lực, rèn luyện và kiên trì. Nếu ngừng cố gắng, khả năng và thành quả đạt được sẽ dễ mai một. Đồng thời đều đề cao ý chí, nghị lực và tinh thần lao động bền bỉ trong cuộc sống.

26 tháng 3 2019

Dịch đây nè:

Nếu bạn có thể dịch, tôi sẽ yêu bạn cả đời

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.

26 tháng 3 2019

Câu hỏi :

Dịch nghĩa từ : гэрийн нохойг уншаарай

Trả lời :

Đọc chó về nhà

P/S : Mk cx ko chắc nx , nhưng bn nên cho bt từ đó là tiếng nước nào chứ !!!!

sai rồi phải là 

ĐỌC LÀ CON CHÓ 

đó là tiếng MÔNG CỔ

27 tháng 3 2019

Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.

27 tháng 3 2019

Dịch ra tiếng việt:

Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.

Dịch ra tiếng anh: 

What am I Dressing up the feathers with a long feather. I usually have hot and wet wires working in the environment. At work, I work forward, pushing forward, I hit the white. Usually work 1-3 times a day, but unfortunately sometimes I can not use it.

7 tháng 1 2022

các bn chỉ cần dịch 사랑해 thui nha

7 tháng 1 2022

사랑해= tôi mến bạn 도와주세요 = cứu giúp 

I. Đọc hiểu Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:             Hy vọng là một thứ rất tuyệt diệu. Hy vọng cong, xoắn, thỉnh thoảng nó khuất đi nhưng hiếm khi nó tan vỡ… Hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được… Hy vọng cho chúng ta có thể tiếp tục, cho chúng ta can đảm để tiến lên phía trước, khi chúng ta tự nhủ là mình sắp bỏ...
Đọc tiếp

I. Đọc hiểu

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

            Hy vọng là một thứ rất tuyệt diệu. Hy vọng cong, xoắn, thỉnh thoảng nó khuất đi nhưng hiếm khi nó tan vỡ… Hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được… Hy vọng cho chúng ta có thể tiếp tục, cho chúng ta can đảm để tiến lên phía trước, khi chúng ta tự nhủ là mình sắp bỏ cuộc…

            Hy vọng đặt nụ cười lên gương mặt chúng ta khi mà trái tim không chủ động được điều đó.

            Hy vọng đặt đôi chân chúng ta lên con đường mà mắt chúng ta không nhìn thấy được…

            Hy vọng thúc giục chúng ta hành động khi tinh thần chúng ta không nhận biết được phương hướng nữa… Hy vọng là điều kì diệu, một điều cần được nuôi dưỡng và ấp ủ và đổi lại nó sẽ làm cho chúng ta luôn sống động… Và hi vọng có thể tìm thấy trong mỗi chúng ta, và nó có thể mang ánh sáng vào những nơi tăm tối nhất…

            Đừng bao giờ mất hi vọng!

(Trích Luôn mỉm cười với cuộc sống –

Nhã Nam tuyển chọn, NXB Trẻ, 2011, tr.05)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. (0.5 điểm)

Câu 2: Theo tác giả, hy vọng có thể tìm thấy ở đâu? (0.5 điểm)

Câu 3: Nêu tác dụng của phép điệp từ “hy vọng” được sử dụng trong đoạn trích. (1.0 điểm)

Câu 4: Anh/chị có đồng tình với quan niệm: Đừng bao giờ đánh mất hi vọng. Vì sao? (1.0 điểm)

8

1, nghị luận

2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.

3, 

Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.

4,

Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.

Đọc chó về nhà

I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:             Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình....
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”?

12
14 tháng 5 2021

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:

- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.

- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.

- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.

- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.

Câu 4:

- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.

- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.

- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.

14 tháng 5 2021

ko biet

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến...
Đọc tiếp

 

 

Phn I. Đọc hiu (3,0 đim)

Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó.

Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác. Tìm hiểu xem những người đi trước đã đối phó với khó khăn tương tự như thế nào giúp chúng ta tìm ra giải pháp cho mình. Những tấm gương về những con người đầy nghị lực và giàu lòng quả cảm, có khả năng trụ vững sau bao cơn giông tố của cuốc đời luôn là tâm điểm cho chúng ta noi theo.

Đó là nghị lực của Walt Disney trong việc thực hiện ước mơ của mình sau năm lần phá sản. Bất chấp số phận, Helen Keller đã không cam chịu để người đời thương hại. Ngược lại bà đã dũng cảm vượt qua nghịch cảnh, trở thành tấm gương sáng cho hàng triệu người noi theo…

Niềm tin vào bản thân là nội lực thúc đẩy thái độ tích cực, dẫn dắt chúng ta đạt được mục tiêu của mình. Thành công không bao giờ đến với những ai yếu đuối và có thái độ buông xuôi.

          ( Điều kì diệu của thái độ sống, Mac Anderson, NxbTổng hợp TP.Hồ Chí Minh năm 2008, tr14)

Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Văn bản tập trung bàn về vấn đề gì?

Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong câu:"Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó."

Câu 3. Theo anh/ chị, việc đưa ra dẫn chứng hai nhân vật Walt Disney Helen Keller có tác dụng gì?

Câu 4. Anh chị có đồng tình với quan điểm: Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác hay không? Vì sao?

 Phn II. Làm văn (7,0 đim)

Câu 1. (2,0 đim)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về sức mạnh nghị lực của con người trong cuộc sống.

41
19 tháng 8 2021

mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau

19 tháng 8 2021

Phần I 

Câu 1:

Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.

Câu 2:

Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.

Câu 3:

Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.

Câu 4:

Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.

Phần II

Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của  rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con  rùa, nó  không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.

Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.

Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:

“Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”

Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.

           Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời