Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Không có niêm luật, vần rõ ràng cố định, độ dài các câu và khổ thơ linh hoạt, giúp tác giả tự do bộc lộ cảm xúc trữ tình.
Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?
Nhân vật trữ tình là người con đang trưởng thành, từng trải qua chiến tranh, nhớ về mẹ và gia đình ở quê hương.
Câu 3. Người mẹ trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất nào?
Người mẹ được khắc họa với những phẩm chất:
- Hiền hậu, ân cần và lặng lẽ: luôn chăm sóc con một cách tận tụy nhưng âm thầm, không phô trương.
- Hy sinh, tận tụy: dồn hết tình máu mủ cho con, chèo chống gia đình sau khi chồng mất.
- Kiên cường, chịu đựng gian khó: chèo chống cuộc sống, chăm sóc con giữa chiến tranh và khó khăn.
- Tình thương vô bờ bến: mẹ luôn lo lắng cho sức khỏe, sự an toàn và tương lai của con.
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ:
Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.
- Biện pháp tu từ: miêu tả giàu hình ảnh, đối lập và ẩn dụ.
- Đối lập: “Con xót lòng – mẹ hái trái bưởi đào”, “con nhạt miệng – mẹ nấu canh” thể hiện sự quan tâm âm thầm nhưng sâu sắc của mẹ.
- Miêu tả chi tiết sinh động: các món ăn, khói bếp gợi lên hình ảnh ấm áp, bình dị nhưng chan chứa tình mẹ.
- Tác dụng: Khắc họa tình mẫu tử chân thực, gợi cảm giác ấm áp, thương yêu và ân cần mà mẹ dành cho con, làm nổi bật hình ảnh mẹ hiền hậu, yêu thương con vô bờ.
Câu 5. Qua bài thơ, nhân vật trữ tình đã thể hiện những tình cảm nào dành cho người mẹ?
Nhân vật trữ tình bộc lộ:
- Nỗi nhớ da diết, xót xa khi nghĩ về mẹ và tuổi thơ bên gia đình.
- Tình thương, sự biết ơn sâu sắc đối với công lao, hy sinh và tình yêu vô bờ của mẹ.
- Nỗi lo lắng, ray rứt khi phải rời quê hương, đi chiến đấu xa nhà, sợ mẹ vất vả, tuổi già cô đơn.
- Sự trân trọng và xúc động trước hình ảnh mẹ già, chịu đựng gian khổ nhưng vẫn quan tâm chăm sóc con.
Nếu bạn muốn, tôi có thể viết lại toàn bộ đáp án theo dạng gọn gàng, đầy đủ, trình bày sẵn sàng nộp bài thi cho lớp 9, giúp dễ học và ghi nhớ. Bạn có muốn tôi làm không?
Câu 1.
Trả lời: Văn bản được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2
Trả lời: Văn bản viết về tình yêu thương và công lao vĩ đại của mẹ, thể hiện qua hình ảnh bàn tay mẹ chăm sóc, bảo vệ và ru con.
Câu 3 là gì b
chị viết chi tiết thêm tí nữa là em hiểu liền [ko có ý định gì đâu chỉ là chưa hiểu thôi ]
Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ song thất lục bát.
Câu 2. Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi tin chồng
“Trải mấy xuân tin đi tin lại, / Tới xuân này tin hãy vắng không.”
Câu 1
Văn bản "Bà má hậu Giang" được viết theo thể thơ song thất lục bát
Câu 2
Sự việc xảy ra trong văn bản :một tên giặc xông vào túp lều, tra khảo và dùng bạo lực để bắt bà má khai chỗ ở của du kích
Câu 3
-Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc
+Đạp rơi liếp mành, xông vào nhà dân một cách thô bạ
+Tra khảo, rống hét, buộc bà má phải khai nơi ở của du kích
+Đe dọa chém đầu khi bà má không khai
+Đạp lên đầu bà má, dùng lưỡi gươm lạnh kề hông để uy hiếp
-Nhận xét về nhân vật tên giặc
+Tên giặc hiện lên với bản chất tàn bạo hung hãn mất nhân tính
+Hẳn là đại diện cho tội ác của kẻ thù xâm lược gieo rắc đau thương và mất mát cho nhân dân ta
Câu 4
-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là so sánh. Những người lính được so sánh với rừng đước và rừng chàm
-Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh
+Khẳng định sức mạnh chiến đấu bền bỉ, dẻo dai, bất khuất của những người lính trong kháng chiến
+Thể hiện niềm tin, sự tự hào lớn lao của ba má về những người lính ,người con của cách mạng
+Hình ảnh so sánh gần gũi ,bình dị, tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài thơ
Câu 5
Tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc
-Nhân dân dù gian khổ ,hiểm nguy với một lòng trung thành với cách mạng sẵn sàng hi sinh để bảo vệ tổ quốc
-Tinh thần kiên cường ,bất khuất được thể hiện ở chỗ không chùn bước trước mọi nguy hiểm ,áp bức sẵn sàng đối mặt với cái chết để bảo vệ Lý tưởng
-Lòng dũng cảm phi thường được thể hiện qua việc vượt lên nỗi sợ hãi Bản năng để đứng vững chống lại kẻ thù mạnh hơn nhiều lần
Câu 1. Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ song thất lục bát.
Câu 2. Trong văn bản đã xảy ra sự việc: bà má Hậu Giang bị tên giặc bắt, tra tấn dã man vì che giấu, nuôi cán bộ cách mạng, nhưng bà vẫn một lòng trung kiên, không khai báo.
Câu 3. Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc: Đánh đập, tra tấn bà má tàn nhẫn Đe dọa, ép bà khai ra cán bộ cách mạng → Nhận xét: Tên giặc là kẻ hung bạo, vô nhân tính, tàn ác, đại diện cho thế lực xâm lược tàn bạo.
Câu 4. Biện pháp tu từ: So sánh “Con tao, gan dạ anh hùng / Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm” → Tác dụng: Làm nổi bật lòng dũng cảm, khí phách anh hùng của con người miền Nam; đồng thời gợi vẻ đẹp mạnh mẽ, bền bỉ và cao quý của con người gắn với thiên nhiên quê hương.
Câu 5. (5–7 dòng) Qua hình tượng bà má Hậu Giang, em cảm nhận được tinh thần yêu nước sâu sắc của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến. Dù chỉ là người dân bình thường, bà vẫn sẵn sàng hi sinh bản thân để bảo vệ cách mạng. Bà đại diện cho những người mẹ Việt Nam anh hùng, giàu lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Chính tinh thần ấy đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn giúp dân tộc ta chiến thắng kẻ thù. Em cảm thấy rất xúc động và tự hào về truyền thống ấy.
Câu 1.
Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Trong văn bản, sự việc xảy ra là: tên giặc xông vào túp lều, tra hỏi, đe dọa bà má Hậu Giang để dò la chỗ ở của du kích. Dù bị uy hiếp, bà má kiên quyết không khai báo, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ con em và nghĩa quân.
Câu 3.
Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc:
- Đạp rơi liếp mành, nghênh ngang vào nhà.
- Hét lớn, hăm dọa “khai mau, tao chém mất đầu”.
- Đạp lên đầu bà má, kề gươm lạnh toát vào hông.
→ Những hành động đó cho thấy bản chất tàn bạo, dã man, vô nhân tính của kẻ thù xâm lược.
Câu 4.
Hai dòng thơ:
“Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!”
→ Biện pháp tu từ: so sánh (so sánh con của má với rừng đước, rừng chàm).
→ Tác dụng: Làm nổi bật sức mạnh, tinh thần gan dạ, anh hùng của những người con kháng chiến; đồng thời ca ngợi sức sống bền bỉ, kiên cường, giàu sức mạnh của nhân dân miền Nam.
Câu 5.
Hình tượng bà má Hậu Giang đã gợi cho em suy ngẫm sâu sắc về tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Dù là người mẹ già yếu đuối, bà má vẫn kiên cường, bất khuất trước quân thù, quyết không khai báo, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ con em và nghĩa quân. Qua đó, ta thấy được sức mạnh phi thường của những con người bình dị khi đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần yêu nước ấy chính là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt qua gian khổ, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
câu 1 văn bản trên được viết theo thể thơ tự do
câu 2 sự việc xảy ra trong văn bản lề 1 tên giặc tây xông vào túp lều của bé Hậu Giang xe hội mẹ về nơi ở của du kích và đe dọa hành hạ mà để buộc má phải khai bí mật
câu 3 những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc
+ cầm gươm xông vào nhà nghênh ngang ,hống hách
+ rộng hét, đe dọa chém đầu má già
+ đạp lên đầu má, dùng vũ lực tra khảo
câu 4 :biện pháp tu từ so sánh(" gan dạ anh hùng như rừng nước mặn như rừng tràm thơm")
- tác dụng: làm nổi bật tinh thần dũng cảm mạnh mẽ của các con và nhân dân vùng U Minh, thể hiện niềm tin ,niềm tự hào của má vào thế hệ kháng chiến ;đồng thời tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ
câu 5: hình tượng bà má Hậu Giang cho thấy tinh thần yêu nước vô cùng cao đẹp của nhân dân ta. Dù tuổi già, sức yếu, mẹ vẫn kiên cường phải không sợ hy sinh, quyết không khai bí mật cho giặc.Tình yêu nước ấy xuất phát từ lòng căm thù giặc sâu sắc về niềm tin vào thế hệ con cháu . Trong mọi hoàn cảnh , nhân dân ta luôn một lòng bảo vệ tổ quốc . Chính tinh thần bất khuất đó đã làm sức mạnh chiến thắng của dân tộc
Câu 1:Nhân vật người chinh phụ trong văn bản thể hiện hình ảnh người phụ nữ chung thủy, giàu tình cảm và mang nặng nỗi niềm mong đợi chồng. Trong hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc, chinh phụ phải sống cảnh đơn côi, ngày ngày ngóng trông chồng từ nơi xa xăm. Hình ảnh của người phụ nữ này thể hiện rõ nét nỗi niềm thương nhớ da diết, sự kiên nhẫn, hy sinh của người phụ nữ trong thời chiến. Dù cuộc sống thiếu thốn, vất vả, nhưng lòng trung thành, thủy chung, tình yêu dành cho chồng vẫn giữ vững trong trái tim nàng. Qua đó, nhân vật còn phản ánh hình ảnh của những người phụ nữ Việt Nam xưa, luôn âm thầm chịu đựng, gắn bó, hy sinh vì đất nước, vì hạnh phúc của gia đình. Người chinh phụ không chỉ là biểu tượng của tình yêu thủy chung mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, của niềm tin vào ngày mai tươi sáng, khi chiến tranh qua đi, đất nước hòa bình, cuộc sống yên bình trở lại.
Câu 2:Chiến tranh mang lại những mất mát to lớn về người và của, gây ra đau thương tang tóc cho biết bao gia đình, quốc gia. Hình ảnh người chinh phụ trong "Chinh phụ ngâm" là biểu tượng của nỗi đau, sự chia ly, mất mát do chiến tranh gây ra. Họ phải sống trong nỗi mong đợi, chờ đợi người thân trở về trong vô vọng, chịu đựng cảnh đơn côi, đớn đau tinh thần. Những mất mát ấy không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần, làm tan nát trái tim, làm rạn vỡ hạnh phúc gia đình, gây tổn thương sâu sắc trong tâm hồn mỗi người. Chính vì vậy, chiến tranh không chỉ là cuộc chiến của binh lính trên chiến trường mà còn là nỗi đau của toàn xã hội, của từng số phận con người. Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay là phải trân trọng và giữ gìn hòa bình, vì hòa bình là nền tảng để xây dựng đất nước phát triển thịnh vượng, để mọi người có cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Các thế hệ trẻ cần hiểu rõ giá trị của hòa bình, tích cực góp phần giữ vững nền hòa bình bền vững, không để chiến tranh tái diễn. Họ cần sống có trách nhiệm, lan tỏa những giá trị nhân ái, yêu thương để xây dựng một xã hội bình yên, hạnh phúc, góp phần giữ gìn đất nước trong thái độ tự hào và trân trọng.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm.
Câu 2. Nhân vật xuất hiện: Cúc Hoa, Tống Trân, mẹ chồng Cúc Hoa.
Câu 1.
Văn bản “Quê hương” được viết theo thể thơ tự do. Đây là thể thơ không bị gò bó về số chữ, số câu hay vần điệu, nhịp điệu linh hoạt. Nhờ đó, tác giả có thể thoải mái bộc lộ cảm xúc về quê hương bằng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi.
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là tình cảm gia đình, tình bạn và những ước mơ hồn nhiên, giản dị của tuổi thơ trong ngày Tết. Tác giả đã khắc họa tình cảm ấm áp, sự quan tâm của các thành viên trong gia đình và bạn bè dành cho nhau, đồng thời gửi gắm những ước mơ nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa của trẻ thơ.
Câu 3.
Ước mơ của những người lính trong đoạn thơ được thể hiện rất mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng tha thiết. Họ không mong ước điều gì to tát mà chỉ ước một ngày thật hòa bình, có thể thoải mái nằm nghỉ trên con đường rộng mà không lo chiến tranh, bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hòa bình cháy bỏng của những người lính, đồng thời bộc lộ tình yêu tha thiết với cuộc sống bình yên, giản dị – điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại quý giá vô cùng trong chiến tranh.
Câu 4.
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang ý nghĩa quan trọng trong việc khắc họa nhân vật và chủ đề của văn bản. Chiếc áo không chỉ gợi lên ước mơ hồn nhiên, trong sáng của bé gái, mà còn phản ánh khát vọng được yêu thương, được sống trong niềm vui giản dị của trẻ em. Qua chi tiết này, ta thấy được sự ngây thơ, hồn nhiên nhưng cũng rất giàu tình cảm, biết quan tâm và chia sẻ của các nhân vật. Nó góp phần thể hiện tình bạn trong sáng, chân thành, giàu yêu thương – một tình cảm đẹp và đáng trân trọng.
Câu 5.
Qua câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học sâu sắc về tình bạn và sự sẻ chia. Trong cuộc sống, tình bạn thật sự quý giá khi mỗi người biết quan tâm, nhường nhịn và nghĩ cho nhau. Một món quà, một lời động viên hay một sự quan tâm nhỏ bé cũng đủ khiến tình bạn thêm gắn bó và ý nghĩa. Khi ta biết sống vì bạn bè, niềm vui của bạn cũng trở thành niềm vui của chính mình, nỗi buồn của bạn cũng khiến ta trăn trở, cảm thông. Tình bạn đẹp giúp con người sống nhân ái, vị tha hơn, đồng thời trở thành nguồn động lực để vượt qua khó khăn. Nhờ có sự sẻ chia, tình bạn càng trong sáng, bền chặt và trở thành hành trang tinh thần quý giá trong suốt cuộc đời mỗi người.
Câu 1. Thể thơ của văn bản
→ Thể thơ lục bát.
Câu 2. Đề tài của văn bản
→ Đề tài: Quê hương và những kỉ niệm tuổi thơ gắn bó, thân thương của tác giả với quê nhà.
Câu 3. Nhận xét về ước mơ của những người lính
→ Ước mơ của người lính rất giản dị nhưng tha thiết. Họ không mơ điều lớn lao, chỉ ước “nằm một đêm cho thoả thích” trên con đường bình yên – một điều rất bình thường với người khác nhưng lại vô cùng quý giá đối với người lính đang sống trong bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hoà bình mạnh mẽ và tâm hồn mộc mạc, giàu tình yêu cuộc sống của họ.
Câu 4. Ý nghĩa chi tiết “chiếc áo đầm hồng”
→ Chiếc áo đầm hồng là chi tiết nổi bật giúp bộc lộ rõ tính cách hai nhân vật.
- Với bé Bích, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, thích làm đẹp và mong muốn được như các bạn khác.
- Với bé Em, việc nhường chiếc áo cho bạn cho thấy tấm lòng nhân hậu, biết sẻ chia, không ganh tị, sẵn sàng nghĩ cho người khác.
Chi tiết này góp phần làm nổi bật tình bạn trong sáng, đồng thời tạo điểm nhấn cảm xúc cho câu chuyện.
Câu 5. Bài học rút ra từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích
→ Câu chuyện cho em hiểu rằng tình bạn đẹp được xây dựng từ sự chân thành và biết quan tâm nhau. Khi ta biết chia sẻ, nhường nhịn và nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt hơn. Mỗi người đều có những thiếu thốn riêng, và sự đồng cảm sẽ giúp chúng ta trở nên tốt hơn, biết trân trọng những điều giản dị trong cuộc sống.
Trong nhịp sống hiện đại, bên cạnh những người trẻ đầy bản lĩnh và tự lập, vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ đang rơi vào lối sống thụ động. Đó chính là thói quen ỷ lại, dựa dẫm – một "căn bệnh" tâm lý đang bào mòn năng lực và tương lai của thế hệ trẻ. Thân bài:
- Giải thích: Ỷ lại, dựa dẫm là lối sống thiếu tự chủ, luôn trông chờ, phụ thuộc vào sự giúp đỡ, quyết định của người khác (thường là cha mẹ, người thân) thay vì tự mình nỗ lực giải quyết vấn đề.
- Biểu hiện:
- Trong học tập: Lười tư duy, chép bài văn mẫu, phụ thuộc vào tài liệu có sẵn hoặc quay cóp.
- Trong sinh hoạt: Không biết làm việc nhà, "cơm bưng nước rót", mọi việc lớn nhỏ đều do cha mẹ sắp xếp.
- Trong công việc: Thiếu sáng kiến, chỉ làm theo chỉ đạo, sợ trách nhiệm và luôn tìm cách đổ lỗi cho hoàn cảnh.
- Nguyên nhân:
- Khách quan: Do sự nuông chiều quá mức của các bậc phụ huynh ("con tầng mây", "thế hệ bông tuyết"), lo lắng thay con mọi thứ khiến con mất đi khả năng tự vệ.
- Chủ quan: Bản thân người trẻ thiếu ý chí, sợ gian khổ, lười biếng và chưa nhận thức được giá trị của sự tự lập.
- Hậu quả:
- Khiến cá nhân trở nên yếu ớt, thiếu kỹ năng sống, dễ gục ngã trước biến cố.
- Làm mất đi cơ hội khẳng định bản thân và đạt được thành công thực sự.
- Trở thành gánh nặng cho gia đình và kìm hãm sự phát triển của xã hội.
- Giải pháp:
- Mỗi người trẻ cần tự ý thức về trách nhiệm với cuộc đời mình: "Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi".
- Gia đình nên đóng vai trò là người định hướng thay vì làm hộ, tạo điều kiện để con trẻ tự đối mặt với khó khăn.
- Nhà trường cần tăng cường giáo dục kỹ năng sống, khuyến khích tư duy phản biện và tính tự chủ.
Kết bài:Tự lập là chiếc chìa khóa vạn năng để mở ra cánh cửa thành công. Giới trẻ cần hiểu rằng: "Cha mẹ có thể cho con một nền tảng, nhưng không thể sống thay con cả đời". Hãy học cách đứng trên đôi chân của mình để cảm nhận vẻ đẹp của sự trưởng thành và đóng góp giá trị cho cuộc đời.
Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích đoạn thơ: "Khi mệt mỏi con hãy ngồi lặng im / Về với mẹ và ôm cha một lát / Hãy thì thầm nói những điều thật nhất / Mọi ưu phiền sẽ tựa gió bay xa" Bài làm: Đoạn thơ trong bài "Mùa thu cho con" của Nguyễn Hạ Thu Sương là một lời vỗ về ấm áp, khẳng định gia đình chính là bến đỗ bình yên nhất của mỗi con người. Giữa dòng đời hối hả, khi con cảm thấy "mệt mỏi", mẹ không khuyên con phải tiếp tục gồng mình chiến đấu, mà khuyên con biết dừng lại để "ngồi lặng im". Hình ảnh "về với mẹ", "ôm cha" gợi lên một không gian tràn ngập tình yêu thương và sự thấu hiểu. Phép nhân hóa "ưu phiền sẽ tựa gió bay xa" đã diễn tả sự kỳ diệu của tình thân: chỉ cần một cái ôm, một lời tâm tình "thật nhất", mọi áp lực, muộn phiền ngoài kia đều có thể tan biến. Đoạn thơ không chỉ là lời nhắn nhủ về sự sẻ chia mà còn thức tỉnh chúng ta về giá trị của gia đình. Gia đình không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là điểm tựa tinh thần vững chắc, giúp ta chữa lành vết thương và tiếp thêm sức mạnh để bước tiếp trên hành trình trưởng thành.
Câu 2:
Bài làm
Trong hành trình trưởng thành, ai cũng cần những điểm tựa để vững bước. Thế nhưng, có một sự thật đáng suy ngẫm là hiện nay, không ít người trẻ đang nhầm lẫn giữa việc "tìm kiếm điểm tựa" với việc "sống dựa dẫm". Giữa một xã hội đầy năng động, thói quen ỷ lại đang trở thành một căn bệnh tiềm ẩn, bào mòn bản lĩnh của một bộ phận thế hệ trẻ. Sống ỷ lại, dựa dẫm là lối sống thiếu chủ động, luôn trông chờ, phụ thuộc vào sự giúp đỡ hoặc quyết định của người khác thay vì tự mình nỗ lực. Từ góc nhìn của một người trẻ, tôi nhận thấy thói quen này len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống. Ở trường, đó là những bạn học sinh chỉ đợi đến giờ nộp bài để "mượn" vở bạn chép, hay dựa dẫm hoàn toàn vào các ứng dụng giải bài tập mà không chịu tư duy. Ở nhà, có những "đứa trẻ to xác" dù đã ở tuổi trưởng thành nhưng đến chiếc áo cũng không biết giặt, bữa cơm cũng đợi mẹ bưng lên tận bàn. Thậm chí, khi đứng trước ngưỡng cửa nghề nghiệp, nhiều người vẫn chọn cách "ngồi mát ăn bát vàng", phó mặc tương lai cho những mối quan hệ hay sự sắp đặt sẵn có của phụ huynh. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này trước hết xuất phát từ sự thiếu ý thức rèn luyện của bản thân mỗi người. Nhiều bạn trẻ sợ khó, sợ khổ, thích hưởng thụ hơn là cống hiến. Bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể phủ nhận tác động từ phía gia đình. Sự bao bọc quá mức, tâm lý "để bố mẹ lo hết" của các bậc phụ huynh vô tình đã tước đi cơ hội được va vấp và trưởng thành của con cái. Chúng ta bị biến thành những cây dây leo, chỉ biết quấn quýt vào thân cây lớn mà quên mất cách tự đứng vững trên đôi chân mình. Hậu quả của lối sống này vô cùng tai hại. Khi chúng ta chọn dựa dẫm, chúng ta đang tự tay đóng lại cánh cửa của sự sáng tạo và bản lĩnh. Người sống ỷ lại giống như một cỗ máy thiếu năng lượng, chỉ có thể vận hành khi có người đẩy. Khi đối mặt với những biến cố bất ngờ của cuộc đời, họ sẽ dễ dàng gục ngã, rơi vào trạng thái hoang mang và bất lực. Không chỉ vậy, một bộ phận giới trẻ thụ động sẽ tạo nên một xã hội trì trệ, thiếu sức sống và sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Để thay đổi, không có cách nào khác ngoài việc mỗi người trẻ phải tự thức tỉnh. Chúng ta cần hiểu rằng: "Không có bữa ăn nào là miễn phí". Tự lập không phải là từ chối mọi sự giúp đỡ, mà là biết cách làm chủ cuộc đời mình trước khi nhờ đến người khác. Hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhất: tự dọn dẹp căn phòng của mình, tự giải một bài toán khó, hay tự đưa ra quyết định cho một sở thích cá nhân. Về phía gia đình, cha mẹ cần học cách "buông tay" đúng lúc để con cái được phép sai và được phép lớn khôn từ những lỗi lầm đó. Tuy nhiên,sự dựa dẫm là một rào cản ngăn chúng ta đến với thành công đích thực. Đừng chọn làm cây tầm gửi sống bám, hãy chọn làm cây xương rồng kiêu hãnh giữa sa mạc, tự mình tìm kiếm nguồn sống và nở hoa rực rỡ. Đôi chân chúng ta sinh ra là để bước đi, chứ không phải để đứng im chờ người khác cõng.