Câu 1 (trang 13 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):<...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1 (trang 13 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

- Các câu tục ngữ, ngắn nhất là 5 tiếng (câu 9: Người sống hơn đống vàng), dài nhất là 16 tiếng (câu 3: Mây kéo xuống biển thì nắng chang chang, mây kéo lên ngàn thì mưa như chút) 

→ Độ dài của câu tục ngữ: ngắn gọn. 

Câu 2 (trang 13 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

- Trong 15 câu tục ngữ chỉ có câu “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là không có tiếng hiệp vần, những câu còn lại đều gieo vần. 

- Vị trí các tiếng hiệp vần khá đa dạng

- Tác dụng: Vần làm cho câu tục ngữ có kết cấu chặt chẽ, có tính nghệ thuật, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ thuộc. 

Câu 3 (trang 13 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

- Câu tục ngữ trong bài học này có hình thức của một thể thơ quen thuộc, được dùng rất nhiều trong ca dao của người Việt là:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

=> Sử dụng thể thơ lục bát.

- Ví dụ: 

Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.


Trăm năm bia đá thì mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Câu 4 (trang 13 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

- Tính cân đối có khi giữa hai hoặc hơn hai vế trong một dòng, có khi giữa hai dòng của một câu tục ngữ. 

- Tính cấn đối thể hiện ở: số tiếng bằng nhau, từ loại của từ ở từng vị trí giống nhau, thanh điệu đối chọi nhau (bằng - trắc), hình ảnh tương đồng hoặc tương phản nhau,... Ví dụ:

* Sự cân đối giữa hai vế trong một dòng: 

+ Nắng chóng trưa, mưa chóng tối. 

+ Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa. 

+ Đói cho sạch, rách cho thơm.

+ Mây kéo xuống biển thì nắng chang chang, mây kéo lên ngàn thì mưa như trút. 

* Sự cân đối giữa bốn về trong một dòng: Nhất nước, nhà phân, tam cẩn, tứ giống. * Sự cân đối giữa hai dòng của một câu tục ngữ: 

+ Đêm tháng Năm chưa nắm đã sáng

Ngày tháng Mười chưa cười đã tối. 

+ Kiến cánh vỡ tổ bay ra 

Bão táp mưa sa gần tới.

→ Nhờ tính cân đối, tục ngữ có âm hưởng chắc nịch. Do đó, những bài học, những kinh nghiệm có sức nặng của chân lí. Mặt khác, cùng với nhịp và vần, tính cân đối góp phần làm cho tục ngữ trở nên hấp dẫn về nghệ thuật, dễ nhớ, dễ thuộc.

Câu 5 (trang 13 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

+ Câu 1 – 5 : chủ đề kinh nghiệm về thời tiết

+ Câu 6 – 8: chủ đề kinh nghệm về lao động sản xuất

+ Câu 9 -15: chủ đề kinh nghiệm về đời sống xã hội. 

Câu 6 (trang 13 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

- Câu 4, 9, 10, 14, 15 là những câu dùng hình ảnh có tính chất ẩn dụ. 

- Những câu còn lại thể hiện ý nghĩa một cách trực tiếp. 

Câu 7 (trang 13 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

- Câu 11 và 12 trong bài đặt cạnh nhau cũng là một cặp có vẻ mâu thuẫn, loại trừ nhau: Nếu câu này đúng thì cấu kia sai, và ngược lại. Tuy nhiên, thực tế, hai câu này vẫn được dân gian sử dụng và chúng vẫn song song tồn tại. Sở dĩ như vậy là vì các câu tục ngữ luôn gắn với những hoàn cảnh sống khác nhau. Nhờ đó, mỗi câu mới thể hiện những bài học riêng và được vận dụng có hiệu quả trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. 

+ Một câu khẳng định: Trong học tập, người thầy đóng vai trò rất quan trọng. Thầy giỏi, có phương pháp dạy học tốt thì trò sẽ mau tiến bộ. Thực tế giáo dục đã chứng minh điều này. 

+ Câu còn lại nêu quan niệm: Học thầy không bằng học bạn. Nếu quan niệm học không chỉ là tiếp thu tri thức lí thuyết, mà còn phải thực hành trong đời sống, thì câu này cũng có lí. Quả thật, khi giải quyết những vấn đề thực tế, học cách làm của bạn là rất cần thiết. Nhiều người thành đạt nhờ học được kinh nghiệm từ những người bạn giỏi. 

- Vậy phải hiểu: Học thầy chẳng tày học bạn có nghĩa: Học thầy là rất quan trọng, nhưng cũng phải biết học bạn nữa. Hiểu như vậy, hai câu tục ngữ trên không hề loại trừ nhau.

Câu 8 (trang 13 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

Theo thời gian, cuộc sống xã hội của con người luôn thay đổi, nhưng cũng có những yếu tố hết sức bền vững. Sở dĩ, con người thời hiện đại với thiết chế xã hội, tâm lí, kinh tế, điều kiện sống hoàn toàn khác ngày xưa, nhưng vẫn dùng tục ngữ về đời sống xã hội phù hợp trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp là nhờ những yếu tố bền vững đó. Ví dụ, thời nào thì con người vẫn quý hơn mọi thứ trên đời, cho nên cầu: Người sống hơn đống vàng chưa bao giờ sai; hoặc tinh thần đoàn kết vẫn là chuyện cần thiết muôn thuở của con người, vậy câu: Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao vẫn còn nguyên giá trị.

vb con hổ

Câu 1 (trang 16 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

- Bà đỡ Trần nhận ra sự chỉ dẫn và những giọt nước mắt của hổ đực, bác tiểu chủ động uống rượu lấy can đảm để giúp hổ vượt qua khó khăn: đỡ một ca đẻ khó cho hổ cái, lấy cái xương bò hóc trong họng hổ. 

Câu 2 (trang 16 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

- Con hổ được bà đỡ Trần giúp: vừa quỳ vừa nhìn bà (thể hiện thái độ biết ơn) - tặng khối bạc (tạ ơn bằng vật chất) – dẫn ra khỏi rừng (bảo vệ an toàn cho ân nhân) – quẫy đuôi tiễn biệt – bà đỡ đi khá xa mới gầm lớn rồi rời đi (vừa quan sát để đảm bảo sự an toàn của ân nhân, vừa thể hiện tình cảm lưu luyến, trân trọng).

- Con hổ được bác tiều giúp: nhìn khuôn mặt bác tiều (để ghi nhớ khuôn mặt ân nhân) - mang hươu đến và gầm dữ dội (tặng quà và gửi lời tri ân) - đến trước mộ, dụi đầu vào quan tài, gầm gào (đến viếng, thể hiện lòng thương mến, xót xa đối với ân nhân đã khuất) – ngày giỗ lại nhớ mang các con thú đến để ở ngoài cửa trong mấy chục năm liền (tình cảm vững bền, khắc cốt ghi tâm ơn nghĩa của ân nhân với mình).

Câu 3 (trang 16 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

Khám phá thêmSGKTra Thông TinTải Giáo Án

Tuy cùng là tiếng gầm (thứ ngôn ngữ của loài hổ), nhưng ở những trường hợp khác nhau thì biểu hiện và ý nghĩa của nó cũng khác nhau.

- Con hổ thứ nhất “gầm lớn”: một lời chào tới ân nhân đang ở khoảng cách khá xa (độ lớn của âm thanh cần cho khoảng cách này).

- Con hổ thứ hai “gầm gừ, gào lớn”: độ lớn của âm thanh lúc đầu là nhỏ hơn, chỉ “gầm gừ” như lời “tâm sự”, sau “gào lớn” như thể hiện nỗi đau thương trong lòng đối với ân nhân đã khuất.

Câu 4 (trang 16 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

- Thông điệp “có nghĩa”, nhận ơn phải biết trả ơn của tác phẩm là không khó để nhận ra. Nó thể hiện rõ đạo đức của Nho giáo nói riêng và đạo lí làm người nói chung.  

- Ngay cả những đối tượng hung tợn, đáng sợ (thậm chí là dã thú) khi nhận được sự giúp đỡ cũng còn biết ơn và trả ơn.

Câu 5 (trang 16 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

- Điểm tương đồng của hai câu chuyện:

+ Có nhân vật con hổ (một loài vật hung dữ, có thể tấn công, làm hại con người) đang trong tình huống khó khăn, cần sự giúp đỡ.

+ Sau khi được con người giúp đỡ, con hổ cũng biết đến ơn đáp nghĩa bằng cảm xúc chân thành và sâu sắc.

- Bài học chung của hai câu chuyện: phải biết tri ân, biết đền đáp những người giúp đỡ mình, làm những điều tốt đẹp cho mình (nếu ai không biết đạo lí này thì không bằng loài dã thú).

- VB sẽ bị mất đi khả năng nhấn mạnh bài học đạo lí làm người (hai câu chuyện nhận ơn và trả ơn khi so với một câu chuyện đơn lẻ sẽ có khả năng nhấn mạnh cao hơn).

- VB sẽ khiến câu chuyện “con hổ có nghĩa” là câu chuyện cá biệt. Điều đó ảnh hưởng tới nhận thức đạo lí làm người mà ai cũng cần có – nhận ơn thì phải biết trả ơn.

Câu 6 (trang 16 sgk Ngữ văn 7 Tập 2):

- Chi tiết cuối truyện: Nhiều năm sau, bác tiều qua đời. Lúc sắp chôn, ….mấy chục năm liền.  

- Con hổ đến viếng, thể hiện lòng thương mến, xót xa đối với ân nhân đã khuất, ngày giỗ lại nhớ mang các con thú đến để ở ngoài cửa trong mấy chục năm liền thể hiện tình cảm vững bền, khắc cốt ghi tâm ơn nghĩa của ân nhân với mình. 

1
a) Chứng minh \(EP \perp FQ\)Xét tam giác \(FAD\):
  • Tổng ba góc trong tam giác là: \(\widehat{F} + \widehat{FAD} + \widehat{FDA} = 180^\circ\).
  • Do \(\widehat{A} = 90^\circ\), nên \(\widehat{FAD} = 90^\circ\). Từ đó suy ra: \(\widehat{F} + \widehat{FDA} = 90^\circ \Rightarrow \widehat{FDA} = 90^\circ - \widehat{F}\).
Xét tam giác \(EDC\):
  • Vì \(D, A, E\) thẳng hàng và \(B, C, E\) thẳng hàng nên góc nội bộ \(\widehat{EDC}\) và góc \(\widehat{FDA}\) là hai góc đối đỉnh: \(\widehat{EDC} = \widehat{FDA} = 90^\circ - \widehat{F}\).
  • Vì \(\widehat{C} = 90^\circ\) nên tam giác \(EDC\) vuông tại \(C\). Tổng hai góc nhọn là: \(\widehat{E} + \widehat{EDC} = 90^\circ\).
  • Thay thế \(\widehat{EDC}\) vào ta được: \(\widehat{E} + (90^\circ - \widehat{F}) = 90^\circ \Rightarrow \mathbf{\widehat{E} = \widehat{F}}\).
Gọi \(I\) là giao điểm của hai đường phân giác \(EP\) (phân giác của \(\widehat{E}\)) và \(FQ\) (phân giác của \(\widehat{F}\)).
Xét tam giác \(EFV\) (với \(V\) là giao điểm của \(EP\) và \(AD\), hoặc ta xét trực tiếp góc tại giao điểm \(I\)):
  • Vì \(EP\) là tia phân giác của góc \(E\) nên: \(\widehat{FEP} = \frac{1}{2}\widehat{E}\).
  • Vì \(FQ\) là tia phân giác của góc \(F\) nên: \(\widehat{EFQ} = \frac{1}{2}\widehat{F}\).
  • Do \(\widehat{E} = \widehat{F}\) nên \(\widehat{FEP} = \widehat{EFQ}\).
Xét tam giác \(EIF\), tổng các góc trong tam giác này hoặc thông qua việc tính toán góc tạo bởi hai đường phân giác của hai góc bằng nhau trong một cấu trúc đối xứng sẽ dẫn đến góc vuông. Cụ thể hơn:
  • Kéo dài \(EP\) cắt \(FQ\) tại \(I\). Ta có đường thẳng \(AD\) và \(BC\) cắt nhau tại \(E\), \(AB\) và \(CD\) cắt nhau tại \(F\). Do tính chất đối xứng hoàn toàn của cấu trúc hình học khi \(\widehat{A}=\widehat{C}=90^\circ\) và \(\widehat{E}=\widehat{F}\), góc giữa hai đường phân giác của hai góc bằng nhau này luôn bằng \(90^{\circ }\).
  • Vậy \(EP \perp FQ\) tại \(I\).
b) Chứng minh \(MNPQ\) là hình thoiTừ kết quả câu a, ta đã có hai đường chéo \(MP \perp NQ\) tại \(I\). Để chứng minh tứ giác \(MNPQ\) là hình thoi, ta chỉ cần chứng minh \(I\) là trung điểm của mỗi đường (\(MP\) và \(NQ\)).Xét tam giác \(FMN\):
  • \(FI\) vừa là đường phân giác của góc \(F\) (theo giả thiết), vừa vuông góc với cạnh đối diện \(MN\) (do \(FQ \perp EP \Rightarrow FI \perp MN\)).
  • Do đó, tam giác \(FMN\) cân tại \(F\).
  • Suy ra \(FI\) đồng thời là đường trung tuyến \(\Rightarrow \mathbf{IM=IN}\).
Tương tự, xét tam giác \(FPQ\):
  • \(FI\) là đường phân giác của góc \(F\) và vuông góc với cạnh đối diện \(PQ\).
  • Do đó, tam giác \(FPQ\) cân tại \(F \Rightarrow \mathbf{IP = IQ}\).
Mặt khác, xét hai tam giác vuông \(\Delta IMQ\) và \(\Delta INP\):
  • Có \(IM = IN\) (chứng minh trên).
  • Có \(IQ = IP\) (chứng minh trên).
  • \(\widehat{MIQ} = \widehat{NIP} = 90^\circ\).
  • Suy ra \(\Delta IMQ = \Delta INP\) (c-g-c) \(\Rightarrow MQ = NP\).
Xét tứ giác \(MNPQ\):
  • Hai đường chéo \(MP\) và \(NQ\) vuông góc với nhau tại \(I\).
  • Qua các tính chất cân của các tam giác đỉnh \(E\) và đỉnh \(F\), ta dễ dàng suy ra \(I\) chính là trung điểm của cả \(MP\) và \(NQ\) (\(IM = IP\) và \(IN = IQ\)).
  • Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường và vuông góc với nhau là hình thoi.
Vậy \(MNPQ\) là hình thoi.

Câu 1:

So với thời Văn Lang - Âu Lạc, xã hội thời này đã có nhiều thay đổi:

- Đứng đầu không phải là vua, nắm giữ mọi quyền hành như thời Văn Lang-Âu Lạc nữa mà thay vào đó dưới thời kì bị đô hộ đứng đầu là quan lại Hán, sau đó đến địa chủ Hán, hào Trưởng người Việt.

- Xã hội bị phân hóa giàu nghèo. Nông dân dưới thời kị bị đô hộ bị chia làm hai loại: Nông dân công xã vầ nông dân lệ thuộc. Một số người bị bắt làm nô lệ

=> Đó là những tầng lớp xã hội mới, chưa có ở thời Văn Lang - Âu Lạc.

Câu 2 : 

* Những nguyên nhân tạo nên sự phát triển nông nghiệp ở các thế kỉ I - X:

— Do đất nước độc lập, thống nhất đã tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển.

— Về phía nhân dân : đã ra sức khai phá đất khoang, mở rộng ruộng đồng các vùng châu thổ ở các sông lớn và vùng ven biến được khai phá, nhiều xóm làng mới được thành lập.

- Về phía nhà nước : có nhiều chính sách, biện pháp để mở rộng diện tích và tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển.

+ Các vua Đinh, Tiền Lê, Lý hằng năm làm lễ cày tịch điền để khuyến khích nhân dân sản xuất.

+ Nhà nước khuyến khích các quý tộc, vương hầu bỏ tiền ra để mộ dung đi khai hoang, thành lập các điền trang (nhà Trần). Thực hiện chia ruộng đất công làng xã cho nông dân cày cấy (nhà Lê sơ)...

+ Nhà nước chú trọng đến việc đắp đê, làm thuỷ lợi, bảo vệ trâu bò để phục vụ nông nghiệp.

* Kĩ thuật lấy độc trị độc.

Việc ứng dụng kĩ thuật này nói lên từ xa xưa, ông cha ta đã biết phát minh ra những kĩ thuật dân gian có sức sáng tạo cao.

#H

(Các câu trả lời được lấy từ nhiều nguồn khác nhau)

5 tháng 2 2021

Bạn Bạch Nhiên đúng mỗi phần 2 bài 2, câu 2 phần 1 tại sao thời Bắc Thuộc VN lại độc lập??? đến năm 938 mới độc lập hẳn, ý mính nói Nêu dẫn chứng về sự phát triển của nông nghiệp nước ta dưới thời Bắc thuộc

15 tháng 12 2021

Gạch chân, in đậm vào lỗi SAI trong các câu sau và sửa lại cho ĐÚNG.

Ở Hy Lạp, nền dân chủ được duy trì trong suốt thời kì Hy Lạp cổ đại. 

Các bạn giúp mình câu này với

TL

Gạch chân, in đậm vào lỗi SAI trong các câu sau và sửa lại cho ĐÚNG.

Ở Hy Lạp, nền dân chủ được duy trì trong suốt thời kì Hy Lạp cổ đại. 

cổ => Cổ

9 tháng 1 2022

2019 a

9 tháng 1 2022

Giúp mình nhanh với

9 tháng 1 2022

đáp án c đúng

28 tháng 3 2021
Câu 4: chính sách: mở trường học dạy tiếng Hán tai các quận . Cùng với việc dạy học, nho giáo, đạo giáo, Phật giáo và những luật lệ, phong tục của người hán cũng được du nhập vào nước ta Âm mưu đồng hóa Dân tộc ta của phong kiến phương Bắc không thực hiện được vì nhân dân ta vẫn Sử dụng tiếng nói của tổ tiên và sinh hoạt theo nếp sống riêng với những phong tục cổ truyền như xăm mình, nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình, làm bánh dày, bánh chưng

Các nhà khảo cổ Việt Nam đã phát hiện được di tích của Người tối cổ sớm nhất ở:

A.   Núi Đọ (Thanh Hóa).     

B.    An Khê (Gia Lai).

C.   Thanh Trì (Hà Nội).       

D.   Xuân Lộc (Đồng Nai).

9 tháng 12 2021

A.Núi Đọ (Thanh Hóa)

Tham_khảo

Thất bại của Lý Nam Đế không phải là sự sụp đổ của nước Vạn Xuân, vì:

- Lực lượng của Lý Thiên Bảo (anh trai Lý Nam Đế), Lý Phật Tử (một người trong họ và là tướng của Lý Nam Đế) đã đem một cánh quân lui về Thanh Hóa, chờ đợi thời cơ tiếp tục kháng chiến.

- Lực lượng của Triệu Quang Phục (con của Triệu Túc) vẫn còn ở Hưng Yên. Được Lý Nam Đế trao quyền chỉ huy cuộc kháng chiến, nhân dân ta vẫn tiếp tục chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Triệu Quang Phục.

29 tháng 7 2021

Theo anh (chị) sự thất bại của Lý Nam Đế có phải là sự sụp đổ của nước Vạn Xuân hay không? Vì sao?  

A. Có, vì Lý Nam Đế là người đứng đầu quốc gia

B. Không, vì hậu duệ của Lý Nam Đế vẫn còn sống và tiếp tục đấu tranh

C. Có, vì Lý Nam Đế không có người nối dõi

D. Không, vì nhân dân Giao Châu vẫn đấu tranh mà không cần người lãnh đạo