.sakai_ryo's

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

10 giờ trước (20:19)

cái này đúng đấy nhưng yêu cầu là gì nhỉ ?

10 giờ trước (20:21)

WDYM?

10 giờ trước (20:21)

cậu viết được ra cái bài này thì tư duy của cậu cũng khá tốt đấy

@Nguyễn Mạnh Cường

Yc: cho một tràng pháo tay 👏👏👏

10 giờ trước (20:24)

@An

cj ko ns e đâu, cj nói những ai đó cơ.

người đâu, ban vương miện cho cj toii!

10 giờ trước (20:26)

được luôn,cộng ngay 3 tràng pháo tay 👏👏👏;👏👏👏;👏👏👏

10 giờ trước (20:29)

wtp

10 giờ trước (20:34)

Không ý an là an ko hiểu hết á:)

10 giờ trước (20:36)

Tóm tắt: Đoạn văn này nhằm lên án những ng sao chép bản quyền của ngkhc và những ng xúc phạm ngkhc.

''những ng xúc phạm ngkhac'' --> xúc phạm có lý do đc ko cj ơi :)))

10 giờ trước (20:40)

@Jelly ý cj là, những ng đi xúc phạm ngkhc vì lý do tẩy chay, bôi bẩn danh dự chứ ko pk là những ng xúc phạm ngkhc vì mục đích nhắc nhở.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO

      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã được vẽ ra như là một cách tố cáo cái xã hội tàn bạo đã huỷ hoại cả đến nhân hình, nhân dạng của con người). Dường như mọi đặc sắc nghệ thuật của ông đều gắn với sở trường ấy. Trong "Chí Phèo", có những đoạn tả ánh trăng rất thú vị: ánh trăng in cái bóng thằng Chí Phèo trên đường làng "Nó xệch xạc về phía bên phải, nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách ra vài chỗ. Nó cứ quần quật dưới chân Chí Phèo"; ánh trăng chiếu trên "những tàu lá chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy đành đạch như là hứng tình". Đó là nghệ thuật diễn tả tâm lí hơn là vẽ cảnh thiên nhiên: tâm lí thằng say rượu sắp sửa gặp thị Nở. Ở truyện này, ông ghép nên những cặp nhân vật tâm sự (Lão Hạc − ông giáo hàng xóm; Chí Phèo − thị Nở; Lang Rận − mụ Lợi,...), ở truyện kia, ông lại tạo những nhân vật gây sự (vợ chồng anh trí thức nghèo chẳng hạn). Xét ở một phương diện nào đấy, đó cũng là một cách sắp đặt tình huống độc đáo để bộc lộ những tâm sự sâu kín của các vai truyện. Nếu so sánh Nam Cao với Ngô Tất Tố, thì dễ dàng nhận thấy Ngô Tất Tố chủ yếu dùng bút pháp ngoại hiện để diễn tả tâm lí nhân vật hơn là trực tiếp quan sát và phân tích thế giới nội tâm của chúng. Nếu so sánh với Nguyễn Công Hoan thì thấy nhà văn trào phúng thường chỉ thành công khi diễn tả những khoảnh khắc tâm lí đơn giản, giới hạn trong một truyện ngắn có một chủ để hết sức rõ ràng. Còn Nam Cao thì có khả năng "du lịch" triền miên trong thế giới nội tâm của nhân vật để theo dõi những quá trình tâm lí phức tạp, quanh co, nhiều khi thật khó phân biệt là vui hay buồn, cười hay khóc, say hay tỉnh, ghét hay thương,...

      Chính vì thông thuộc tâm lí con người mà Nam Cao có lối kể chuyện rất biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật như thế tạo ra ở nhiều tác phẩm Nam Cao một lối kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tuỳ tiện, xáo trộn trật tự tự nhiên của không gian, thời gian, mà thực ra rất chặt chẽ như không thể nào phá vỡ nổi. Đây cũng là lối trần thuật nhiều giọng điệu rất độc đáo và hấp dẫn của Nam Cao.

      (2) Như đã nói, Nam Cao luôn băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người, ông dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục vì nghèo đói cùng đường. Nam Cao đặt vấn đề này ra là để minh oan chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị một cách bất công: "Chí Phèo", "Một bữa no", "Lang Rận",... Để giải quyết vấn đề này, nhiều khi ông phải đặt nhân vật của mình vào tình thế cheo leo nơi ranh giới giữa con người và thú vật. Và như thế thì ngòi bút của nhà văn cũng thật cheo leo. Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không. Nam Cao không làm xiếc ngôn từ, không làm trò kĩ thuật, ông tự thử thách mình về tư tưởng, về cái tâm đối với con người. Nhiều cây bút khác, đi trên đất bằng mà có lúc cũng vấp ngã, Nam Cao đi trên dây làm sao tránh khỏi có lúc ngả nghiêng. Nhưng người đọc, sau những giây phút hồi hộp, căng thẳng, càng cảm thấy khoan khoái khi thấy nhà văn đã đạt tới đích mà không hề sa chân hụt bước.

      Một cái tâm vững vàng, đằm thắm, đó là nền tảng của mọi tác phẩm của Nam Cao. Cho nên dù ông nhiều khi có cố tình làm ra vẻ lạnh lùng, cố tình dùng những từ vô cảm, thậm chí có sắc thái miệt thị và châm biếm nữa đối với các nhân vật của mình (như những đại từ nhân xưng: hắn, y, thị...), thì người ta vẫn thấy có biết bao đau xót, biết bao nước mắt trong đó.

      Ấy cũng là một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao.

(Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000, trang 276 - 278)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2. Văn bản trên đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên những phương diện nào?

Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không." có tác dụng gì?

Câu 4. Nhận xét về ngôn ngữ nghị luận được sử dụng trong phần (2).

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. 

0
(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ

      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm "tĩnh" là gốc của "động", "tĩnh" là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, "tĩnh tại" và "thanh vắng" cũng trở thành tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không − một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của "Tràng giang" được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ. Có lẽ vì thế mà "Tràng giang" còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. [...]

     Và sự phủ định cuối cùng "không khói hoàng hôn...". Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng cổ điển của "Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén. Ngày vắng xem hoa bợ cây" (Nguyễn Trãi), "Lác đác bên sông chợ mấy nhà" (Bà huyện Thanh Quan), hay "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" (Nguyễn Khuyến) nữa. "Tràng giang" hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế! Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh thế này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê:

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)"

     Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần có khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên cớ đâu! Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy khỏi nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."

      Dòng sông chảy mênh mang giữa trời đất đến đây như bỗng dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê! Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất?

     (2) Đứng trước dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau, khi ta đã tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không thèm biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn và hình như trong bài thơ, Huy Cận đã thâu tóm được nhịp chảy trôi miên viễn ấy rồi thể hiện một cách tinh vi trong âm hưởng chảy trôi thao thiết của ngôn từ. Những từ láy nằm rải trong chiều dài bài thơ, nhất là láy nguyên: "điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn..." không chỉ gợi được sự đường bệ, mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song". Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối lên tiếp như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu". Rồi những từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu: "hàng nối hàng", "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng",... tất cả những yếu tố ngôn từ ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau, phụ hoạ lẫn nhau, tạo thành một âm hưởng trôi xuôi vô tận miên viễn cứ ngầm chảy trong lòng bài thơ này khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt: có một dòng tràng giang thầm chảy trong âm điệu. Và ta như nghe thấy dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian, mà còn chảy trong thời gian − từ thuở khai thiên lập địa, chảy miết qua các thời đại mà về đây! Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian "Tràng giang"?

     (3) Tôi đọc bài thơ bao nhiêu lần và không sao xoá được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng "Tràng giang" kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó?... Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ? Mà dường như cũng là của một người già? Bởi vì tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng?

(Theo Thơ Huy Cận − Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội, 2007, tr. 356 − 361)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2.  Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?

Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"?

Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang?

Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?

14
19 tháng 9 2025

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).


Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.


Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:

  • Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
  • Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.

Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:

  • Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
  • Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
  • Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
  • Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
    → Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.

Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)

Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.

30 tháng 9 2025

Fjfjrjfjf


(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN

Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...

Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.

Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].

Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...

[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?

[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...

(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: "Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...".

Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?

4
16 tháng 12 2025

Câu1 Thể loại: Tùy bút.

Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về

Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.

Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.

Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...

tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.

Câu 5.

Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân

Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau

17 tháng 12 2025

Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3.  Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂNThế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày “chưa cười đã tối” vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN

Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày “chưa cười đã tối” vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...

Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.

Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].

Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...

[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?

[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi “hôi” cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...

(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: “Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi “hôi” cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...”

Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?

2
1 tháng 12 2024

Xhcjfjgcc

23 tháng 6

Câu 1.
Thể loại của văn bản: Tùy bút (mang tính trữ tình, giàu cảm xúc, kết hợp miêu tả và suy ngẫm).

Câu 2.
Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác là cuối năm, cận Tết Nguyên Đán (tháng Chạp – “tháng củ mật”), khi không khí chuẩn bị đón xuân rộn ràng.

Câu 3.
Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về hiện lên rộn ràng, tươi mới và đầy sắc màu: đình chùa, giếng làng được quét vôi trắng; chợ Tết đông đúc với đủ loại hàng hóa; tranh Đông Hồ, câu đối đỏ, mâm ngũ quả… Tất cả tạo nên một không khí nhộn nhịp, ấm áp, tràn đầy sức sống và hi vọng.

Câu 4.
Biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn giúp:

  • Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng của những điều tốt đẹp mà mùa xuân mang lại.
  • Tạo nhịp điệu dồn dập, rộn ràng, gợi không khí náo nức của Tết và mùa xuân.
  • Nhấn mạnh ý nghĩa của mùa xuân như một mùa của niềm vui, hạnh phúc, sum vầy và hướng thiện cho con người.

Câu 5.
Nội dung chính của văn bản:
Bài tùy bút khắc họa khung cảnh mùa xuân và không khí Tết ở làng quê Việt Nam, đồng thời thể hiện những suy ngẫm về con người, cuộc sống, niềm vui sum họp và khát vọng hướng tới điều tốt đẹp trong mùa xuân.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. ANH BÉO VÀ ANH GẦY     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi....
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài − đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại − đó là con trai anh ta.

     − Pơ-phi-ri đấy à? − anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. − Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!

     − Trời! − anh gầy sửng sốt. − Mi-sa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?

     Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.

     − Cậu ạ, − anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong. − Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Lui-đa, nguyên họ là Van-xen-bắc, theo đạo Luy-te(1)... Còn đây là con trai mình, Na-pha-na-in, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.

     Na-pha-na-in ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.

    − Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! − anh gầy nói tiếp − À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gê-rô-xtrát(2) vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là E-phi-an(3) vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Na-pha-na-in! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Van-xen-bắc... theo đạo Luy-te...

    Na-pha-na-in suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.

    − Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? - anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. - Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?

   − Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay Xta-ni-xláp(4). Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?

    − Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, − anh béo nói. − Mình là viên chức bậc ba rồi... có hai mề đay của Nhà nước.

    Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...

    − Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn... từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì.

    − Thôi, cậu đừng nói thế đi! - anh béo cau mặt. − Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ − việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế.

    − Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... − anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. − Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Na-pha-na-in... và vợ là Lui-đa, theo đạo Luy-te đấy ạ...

    Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.

    Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Na-pha-na-in kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống.

    Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.

(Sê-khốp, theo docsach24)

Chú thích:

(1) Đạo Luy-te: một trong những biến dạng của đạo Tin lành (cùng với đạo Thiên Chúa và Chính giáo là ba nhánh chính của Ki-tô giáo). Ra đời trong thế kỷ XVI, do những nỗ lực của Luy-te (1483-1546) và những tông đồ của ông ở nước Ðức.

(2) Gê-rô-xtrát: người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Ác-tê-mi-đa E-phe-xcai-a để tên mình trở thành bất tử.

(3) E-phi-an: (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên) - nhà hoạt động chính trị của A-ten thời cổ. Năm 480 trước công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phen-nô-pin-xki. Toán dân binh Xpác-ta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng.

(4) Mề đay Xta-ni-xláp: thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. 

Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy.

Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?

Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản. 

45
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.


Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:

“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”

Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.


Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.


Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo

  • Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
  • Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.

19 tháng 12 2025

Câu 1

Thể loại: truyện ngắn.

Câu 2

Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:

"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3.

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.

Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4.

Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Cầu 5.


Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 – 4.Có rất nhiều người đinh ninh rằng hiện tại của mình đã được số mệnh định sẵn, nhưng thực ra không phải như vậy. Khả năng kỳ diệu nhất của con người đó là có được quyền tự do chọn lựa, chọn lựa một thái độ, chọn lựa một cách sống, một cách nhìn…Chúng ta vẫn quen đổ lỗi cho những người khác. Có những lúc tôi cũng cho là...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 – 4.

Có rất nhiều người đinh ninh rằng hiện tại của mình đã được số mệnh định sẵn, nhưng thực ra không phải như vậy. Khả năng kỳ diệu nhất của con người đó là có được quyền tự do chọn lựa, chọn lựa một thái độ, chọn lựa một cách sống, một cách nhìn…Chúng ta vẫn quen đổ lỗi cho những người khác. Có những lúc tôi cũng cho là mình kém may mắn, nhưng rồi tôi hiểu ra rằng không ai có thể kiểm soát được những biến cố xảy đến, nhưng mỗi người luôn có quyền chọn lựa cách đối phó với chúng. Những người suy sụp tinh thần hay thất bại, thường đưa ra những lý do như là: do không có tiền, không có thời gian, do kém may mắn, do quá mệt mỏi hay tâm trạng chán nản… để biện minh cho việc bỏ qua những cơ hội thuận lợi trong cuộc sống. Nhưng sự thực chỉ là do họ không biết sử dụng quyền được lựa chọn của mình. Chính vì thế, họ chỉ là đang tồn tại chứ không phải đang sống thực sự. Điều đó cũng giống như việc bạn muốn mở khóa để thoát khỏi nơi giam cầm, nhưng lại không biết rằng chiếc chìa khóa đang ở ngay trong chính bản thân mình, trong cách suy nghĩ của mình. Cuộc sống là do chúng ta lựa chọn chứ không phải do may rủi. Bản chất của sự việc xảy đến không quan trọng bằng cách chúng ta đối phó với nó. Chính điều chúng ta chọn để nghĩ và chọn để làm mới là quan trọng hơn cả. (Theohttps://sachvui.com/doc-sach/nhung-bai-hoc-cuocsong/chuong-4.html)

Câu 1. Khả năng kì diệu của con người được nói đến là gì? (0,5 điểm)

Câu 2. Những người nào được xem là những người đang tồn tại chứ không phải sống thực sự? (0,5điểm)

Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến của tác giả “Bản chất của sự việc xảy đến không quan trọng bằng cách chúng ta đối phó với nó” (1,0 điểm)

Câu 4. Anh/chị đồng tình với quan điểm “Cuộc sống là do chúng ta lựa chọn chứ không phải do may rủi” không? Vì sao? (1,0 điểm)

B. PHẦN LÀM VĂN 3 Từ gợi ý phần Đọc hiểu trên, anh (chị) hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về việc chọn để nghĩ và chọn để làm trong cuộc sống.

giúp mk với mn ơi

1
1 tháng 5 2020

Câu 1:

Khả năng kỳ diệu nhất của con người đó là có được quyền tự do chọn lựa, chọn lựa một thái độ, chọn lựa một cách sống, một cách nhìn

Câu 2:

Những người suy sụp tinh thần hay chấp nhận sự thất bại rồi đưa ra những lý do như là: do không có tiền, không có thời gian, do kém may mắn, do quá mệt mỏi hay tâm trạng chán nản… để biện minh cho việc bỏ qua những cơ hội thuận lợi trong cuộc sống.

Câu 3:

Ý kiến của tác giả là "Bản chất của sự việc xảy đến không quan trọng bằng cách chúng ta đối phó với nó" có nghĩa là đứng trước bất cứ một biến cố, khó khăn hay sự việc nào, con người có quyền được lựa chọn cách đối mặt, cách giải quyết và đương đầu với nó để mà thành công. Những sự việc, biến cố đến bất cứ lúc nào nhưng việc mà chúng ta sẵn sàng dám đối mặt thay vì lấy lí do để mà buông xuôi, thất bại chính là chìa khóa để chúng ta có thể vượt qua được những khó khăn ấy và sống 1 cuộc sống thực sự.

Câu 4:

Em hoàn toàn đồng ý với quan điểm "Cuộc sống là do chúng ta lựa chọn chứ không phải do may rủi". Vì khi đứng trước một biến cố nào đó, con người có thể lựa chọn cách mà mình đối mặt chứ nó không hề phụ thuộc vào việc mya rủi ra sao. Nếu như ta thực sự cố gắng để mà vượt qua thì chắc chắn sẽ vượt qua được còn khi ta chấp nhận thất bại thì ta sẽ phải nhận thất bại. Đó là do cách chúng ta chọn cách để mà đối mặt chứ ko phải do may rủi.

B.PHẦN LÀM VĂN :

Trong cuộc sống, cách mà mọi người chọn để nghĩ, chọn để làm để đối mặt với mọi vấn đề là yếu tố quyết định thành công. Thật vậy, cuộc sống là khoảng 10% những gì mà xảy đến với con người, còn 90% còn lại là thái độ sống mà chúng ta chọn để mà đối diện với những biến cố đó. Đầu tiên, khi đứng trước một vấn đề khó khăn, người lạc quan và có niềm tin vào bản thân sẽ nhìn thấy cơ hội trong chính những khó khăn đó. Họ sẽ trao cho bản thân quyền được thử, được nghĩ và được làm để mà đương đầu với những khó khăn đó. Họ có tinh thần thép và ý chí, nỗ lực kiên cường vượt qua được mọi gian truân khó khăn. Cuối cùng, khi họ thành công, thành quả mà họ nhận được sẽ tương xứng với những công sức bỏ ra. Họ sẽ nhận thấy rằng quyết định dấn thân tiếp tục vào công việc đó của mình là đúng. Trái ngược lại, những người bi quan và thiếu niềm tin vào bản thân sẽ chỉ nhìn thấy toàn là những ngang trái và trắc trở từ những khó khăn của cuộc sống. Những khó khăn ấy làm cho họ không dám làm gì hết. Họ sẽ chẳng bao giờ thành công; vậy là một cơ hội trong đời lại bị bỏ qua. Trên thực tế, để thành công thì phải thấy được cơ hội từ những khó khăn và nhớ rằng lấy lí do thì bao giờ cũng dễ hơn làm. Tóm lại, con người hoàn toàn có quyền được lựa chọn cách nghĩ, cách làm để mà đương đầu với những khó khăn.
Học tốt!

17 tháng 9 2025

câu 1

Nhân vật bé Em trong truyện "Áo Tết" của Nguyễn Ngọc Tư là một hình ảnh tiêu biểu cho sự ngây thơ, trong sáng nhưng cũng đầy sâu sắc và tình cảm. Bé Em, một cô bé khoảng 10 tuổi, sống cùng bà trong một ngôi nhà nghèo khó ở miền Tây Nam Bộ. Dù hoàn cảnh khó khăn, bé Em luôn giữ trong mình niềm vui và hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Chiếc áo Tết mới không chỉ là một món quà vật chất mà còn là biểu tượng của những ước mơ giản dị nhưng đầy ý nghĩa của em. Bé Em rất yêu quý chiếc áo này, không chỉ vì nó đẹp mà còn vì đó là món quà duy nhất mà bà có thể tặng.

Tính cách của bé Em được thể hiện qua sự nhạy cảm và tinh tế trong cách em đối xử với mọi người xung quanh. Em luôn quan tâm, chăm sóc bà, hiểu được nỗi khổ của bà và không phàn nàn về hoàn cảnh khó khăn. Tình bạn chân thành của bé Em với Bích cũng là một điểm sáng trong truyện. Dù hoàn cảnh gia đình khác nhau, bé Em luôn quan tâm và chia sẻ với bạn, không khoe khoang về những bộ đồ mới của mình khi biết Bích chỉ có một bộ đồ mới cho Tết.

Những hành động nhỏ nhưng đầy ý nghĩa của bé Em thể hiện sự cảm thông sâu sắc và lòng yêu thương vô bờ bến. Em luôn cố gắng làm cho bạn cảm thấy vui vẻ và không bị tự ti về hoàn cảnh của mình. Qua nhân vật bé Em, Nguyễn Ngọc Tư đã truyền tải một thông điệp sâu sắc về tình cảm gia đình, sự hy sinh và lòng yêu thương, đồng thời khắc họa một hình ảnh tuổi thơ trong sáng nhưng cũng đầy nghị lực và hy vọng.

câu 2

Từ truyện ngắn "Áo Tết", chúng ta học được rằng tình bạn và sự đồng cảm còn quý hơn vật chất. Nhân vật bé Em đã cho thấy sự trưởng thành khi nhận ra giá trị tinh thần này, nhắc nhở mỗi người cần biết cân bằng giữa nhu cầu vật chất và giá trị tinh thần, đặt tình cảm, sự sẻ chia lên trên vật chất phù phiếm. Để xây dựng lối sống hài hòa, ta cần rèn luyện lòng nhân ái, thực hành sẻ chia từ việc nhỏ, tham gia các hoạt động cộng đồng và xây dựng môi trường giáo dục đề cao giá trị tinh thần. 
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Nhân vật “em” trong văn bản Áo Tết hiện lên là một cô bé hồn nhiên, giàu cảm xúc và có sự trưởng thành trong nhận thức. Ban đầu, “em” mang tâm lí rất tự nhiên của tuổi thơ: háo hức, mong chờ chiếc áo Tết mới như một niềm vui vật chất cụ thể, gắn với ước mơ được bằng bạn bằng bè. Khi không có được chiếc áo như mong muốn, “em” buồn tủi, chạnh lòng, thậm chí có phần tủi thân trước bạn bè. Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh ấy, “em” đã có sự chuyển biến quan trọng trong suy nghĩ. Qua tình bạn chân thành, sự quan tâm và chia sẻ mộc mạc của bạn bè, “em” nhận ra rằng niềm vui tinh thần, sự yêu thương và gắn bó mới là điều đáng trân trọng. Nhân vật “em” vì thế không chỉ đáng yêu mà còn đáng quý ở khả năng tự nhận thức và lớn lên trong tâm hồn. Hình ảnh “em” góp phần làm nổi bật thông điệp nhân văn của tác phẩm: giá trị tinh thần bền vững hơn những niềm vui vật chất nhất thời.

Câu 2.

Trong văn bản Áo Tết, nhân vật “em” đã nhận ra rằng tình bạn chân thành quý giá hơn chiếc áo đầm mới. Câu chuyện giản dị ấy gợi ra một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống hiện đại: làm thế nào để xây dựng lối sống hài hòa, cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần.

Không thể phủ nhận vai trò của vật chất trong cuộc sống. Vật chất đáp ứng những nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở, học tập, giúp con người sống thuận tiện và an toàn hơn. Đối với tuổi trẻ, những mong muốn về trang phục đẹp, đồ dùng mới hay tiện nghi hiện đại là điều hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, khi con người quá đề cao vật chất, dễ rơi vào lối sống chạy theo hình thức, so sánh hơn thua, từ đó đánh mất niềm vui giản dị và các mối quan hệ chân thành.

Giá trị tinh thần, ngược lại, là nền tảng bền vững nuôi dưỡng tâm hồn con người. Đó là tình bạn, tình thân, lòng nhân ái, sự sẻ chia và cảm giác được yêu thương. Những giá trị này không thể đo đếm bằng tiền bạc nhưng lại quyết định hạnh phúc lâu dài của mỗi người. Câu chuyện trong Áo Tết cho thấy khi “em” nhận được sự cảm thông và tình bạn chân thành, nỗi buồn vì thiếu thốn vật chất dần được xoa dịu. Điều đó chứng tỏ đời sống tinh thần có sức mạnh lớn lao trong việc giúp con người vượt qua khó khăn.

Để xây dựng lối sống hài hòa giữa vật chất và tinh thần, trước hết mỗi người cần biết đủ. Biết trân trọng những gì mình có sẽ giúp ta không bị cuốn vào vòng xoáy chạy theo vật chất. Bên cạnh đó, cần rèn luyện thói quen quan tâm đến người khác: lắng nghe, chia sẻ, giúp đỡ khi có thể. Chính những hành động nhỏ ấy nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú. Ngoài ra, việc tham gia các hoạt động tập thể, đọc sách, rèn luyện thể thao, sống gần gũi với gia đình cũng giúp con người cân bằng giữa nhu cầu vật chất và đời sống nội tâm.

Đặc biệt với học sinh, việc cân bằng này càng quan trọng. Không nên đánh giá bản thân hay bạn bè qua quần áo, đồ dùng, mà cần coi trọng nhân cách, sự chân thành và nỗ lực trong học tập. Khi biết đặt giá trị tinh thần song hành với vật chất, con người sẽ sống nhẹ nhàng, nhân ái và hạnh phúc hơn.

Tóm lại, câu chuyện Áo Tết gửi gắm bài học sâu sắc: vật chất cần thiết nhưng không phải là tất cả. Một lối sống hài hòa, biết trân trọng cả giá trị vật chất lẫn tinh thần chính là con đường giúp con người đạt tới hạnh phúc bền lâu.


Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:“Những kẻ ở vườn thấy quan sang, quan quyền, cũng bén mùi làm quan. Nào lo cho quan, nào lót cho lại, nào chạy ngược nào chạy xuôi, dầu cố ruộng dầu bán trâu cũng vui lòng, chỉ cần được lấy một chức xã trưởng hoặc cai tổng, đặng ngồi trên, đặng ăn trước, đặng hống hách thì mới thôi. Những kẻ như thế mà vẫn không...
Đọc tiếp

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

“Những kẻ ở vườn thấy quan sang, quan quyền, cũng bén mùi làm quan. Nào lo cho quan, nào lót cho lại, nào chạy ngược nào chạy xuôi, dầu cố ruộng dầu bán trâu cũng vui lòng, chỉ cần được lấy một chức xã trưởng hoặc cai tổng, đặng ngồi trên, đặng ăn trước, đặng hống hách thì mới thôi. Những kẻ như thế mà vẫn không ai khen chê, không ai khinh bỉ, thật cũng lạ thay! Thương ôi! Làng có một trăm dân mà người này đối với kẻ kia đều ngó theo sức mạnh, không có một chút gì gọi là đạo đức là luân lí cả. Đó là nói người trong một làng đối với nhau, chí như đối với dân kiều cư kí ngụ thì lại càng hà khắc hơn nữa. Ôi! Một dân tộc như thế thì tư tưởng cách mạng nảy nở trong óc chúng làm sao được! Xã hội chủ nghĩa trong nước Việt Nam ta không có là cũng là vì thế”.

      (SGK Ngữ văn 11, tập 2)

Tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ nào? Ý nghĩa sử dụng của những biện pháp ấy?

1
20 tháng 4 2019

Các biện pháp tu từ: Ẩn dụ, điệp cấu trúc, câu cảm thán. Tác dụng nhấn mạnh thái độ căm ghét cao độ của tác giả đối với tầng lớp quan lại lúc bấy giờ.

14 tháng 2

quân1