K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:

– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về Ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi sách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:

– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?

– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

– Vậy mầy được mấy bộ?

– Có một bộ hà.

Con bé Em trợn mắt:

– Ít quá vậy?

– Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.

– Vậy à?

Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.

Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:

– Còn mầy?

– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.

– Mầy sướng rồi.

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:

– Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?

Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:

– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.

(Nguyễn Ngọc Tư, theo isach.info)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản “Áo Tết”?

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

45
14 tháng 12 2025


Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:

→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.

Câu 3.

  • Sự thay đổi điểm nhìn:
    Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích.
  • Tác dụng:
    Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

  • Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
  • Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
    → Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện.
  • Câu 5.

 Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.


14 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".

Gợi ý:

Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.

Tác dụng:

• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.

• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).

• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?

Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):

Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).

Bộc lộ tính cách nhân vật:

Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).

Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

Bài học:

• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.

• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.

• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.

• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.

27 tháng 12 2025

Câu 1:

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn

Câu 2:

văn bản viết về đề tài bạn

Câu 3:

- sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản

+ đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện

+ sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật bé Em

+ tiếp đó, có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích

- tác dụng:

+ làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật

+ giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích

+ tạo sự chân thực, sinh động, khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên, vừa cảm động

Câu 4:

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách các nhân vật:

- với nhân vật bé Em :

+ ban đầu, nó thể hiện hồn nhiên, vui tươi, có chút tự hào, muốn được khoe khoang

+ sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu, lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé Em

- với nhân vật bé Bịch: sự hiền lành, hiểu chuyện và biết trân trọng tình bạn

Câu 5:

Bài học:

- tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất hào nhoáng

- tình bạn cần sự thấu hiểu, đồng cảm và sẻ chia

- chia sẻ không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong đối xử, quan tâm đến cảm xúc của người khác


30 tháng 12 2025

Câu 1. (0,5 điểm)

Văn bản "Áo Tết" thuộc thể loại truyện ngăn.

Câu 2. (0,5 điểm)

Văn bản "Áo Tết" viết về đề tài tình bạn.

Câu 3. (1,0 điễm)

- Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ Đoạn trích ban đầu được kế theo ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện.

+ Sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật bé Em (Những suy nghĩ, cảm xúc khi muốn khoe áo mới rồi sự ngập ngừng, trăn trở khi nhìn bạn).

+ Tiếp đó, có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích (Cảm thấy tủi thân nhưng vẫn thể hiện sự quý mến bạn).

- Tác dụng của sự thay đối điểm nhìn trong văn bản:

+ Làm nổi bật sự khát biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật.

+ Giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích.

+ Tạo nên sự chân thực, sinh động, khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên, vừa cảm động.

Câu 4. (1,0 điễm)

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách các nhân vật:

- Với nhân vật bé Em:

+ Ban đầu, nó thể hiện hồn nhiên, vui tươi, có chút tự hào, muốn được khoe khoang.

+ Sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu, lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé Em.

- Với nhân vật bé Bích: Sự hiền lành, hiểu chuyện và biết trân trọng tình bạn.

Câu 5. (1,0 điểm)

Bài học về tình bạn và sự sẻ chia:

  • Tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất hào nhoáng.
  • Tình bạn cần có sự thấu hiểu, đồng cảm và sự sẻ chia.
  • Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong cách đối xử, quan tâm đến cảm xúc của người khác.


5 tháng 1

Câu 1

Văn bản trên thuộc thể loạitruyện ngan

Câu 1

Thuộc thề loại truyện ngắn

Câu 2

Tình bạn sự sẻ chia thấu hiẻu trong cuộc sống

Câu 3

Điểm nhìn thay đổi từ người kể chuyện (ngôi thứ ba) sang suy nghĩ, cảm nhận của nhân vật Bích.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu thể hiện tính cách các nhân vật:


Bé em :Ban đầu, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, vui sướng của trẻ thơ khi được mặc đồ mới. Sau đó, việc bé Em không mặc chiếc áo này khi đi chơi Tết với Bích thể hiện sự tinh tế, thấu hiểu hoàn cảnh bạn, không muốn bạn tủi thân.

Bé bích : Chiếc áo làm nổi bật sự mặc cảm, tự ti của Bích khi thấy bạn có áo đẹp còn mình thì không.

Người mẹ : Cách nhìn nhận "Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được" thể hiện quan điểm vật chất, bề ngoài, đối lập với suy nghĩ sâu sắc của Bích

Câu 5

Từ câu chuyện có thể rút ra bài học về tình bạn và sự sẻ chia

Tình bạn chân chính không dựa trên vật chất hay vẻ bề ngoài mà dựa trên sự thấu hiểu, tôn trọng và đồng cảm. Cần có sự tinh tế, biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để có cách ứng xử phù hợp, không làm tổn thương bạn bè. Sự sẻ chia, thấu hiểu là yếu tố quan trọng giúp xây dựng mối quan hệ bền vững và tốt đẹp. Lòng chân thành và sự quan tâm sâu sắc có giá trị hơn vẻ bề ngoài hào nhoáng

18 tháng 1

c1:văn bản "áo tết " thuộc thể loại truyện ngắn  

c2:văn bản" áo tết" viết về tình bạn 

c3:Sự thay đổi điểm nhìn: Đoạn trích có sự chuyển đổi điểm nhìn từ ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, xưng "Bích" và "bé Em") sang điểm nhìn bên trong nhân vật bé Em (qua suy nghĩ nội tâm của bé Em về chiếc áo đầm hồng và cảm xúc của Bích).Tác dụng: Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên khách quan hơn khi miêu tả sự việc, đồng thời cho phép người đọc thấu hiểu sâu sắc thế giới nội tâm, những suy nghĩ tinh tế, lòng trắc ẩn của nhân vật bé Em và tình bạn đẹp của các em, khiến câu chuyện trở nên cảm động và chân thực hơn.

c4:Chi tiết chiếc áo đầm hồng trong văn bản "Áo Tết" là một chi tiết trung tâm, bộc lộ rõ nét tính cách và hoàn cảnh của các nhân vật:Với bé Em: Chiếc áo đầm hồng đại diện cho niềm khao khát có quần áo mới để đón Tết, một ước mơ giản dị nhưng xa vời với hoàn cảnh gia đình thiếu thốn, có mẹ kế. Nó làm nổi bật sự tủi thân, mặc cảm và nỗi niềm thầm kín của một đứa trẻ mồ côi cha.Với bé Bích: Khi được mẹ kế của Em tặng chiếc áo này, Bích đã nhận ra ý nghĩa của nó đối với bạn mình. Hành động Bích nhường lại chiếc áo cho Em thể hiện tính cách nhân hậu, biết quan tâm, thấu hiểu và sẵn sàng sẻ chia với bạn bè, dù đó là món đồ mà mới mà có lẽ cô bé cũng thích.

Câu 1

Văn bản thuộc thể loại Truyện ngắn.

Câu 2.

Đề tài về trẻ em và tình bạn (cụ thể là sự thấu hiểu, sẻ chia giữa những đứa trẻ có hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết).

Câu 3.

Điểm nhìn ban đầu tập trung vào suy nghĩ, cảm xúc của bé Em (hào hứng về chiếc áo mới, muốn khoe với bạn). Sau đó, điểm nhìn chuyển sang hoàn cảnh và nội tâm của Bích (sự tủi thân vì nhà nghèo, sự hiếu thảo nhường nhịn đồ mới cho em). Cuối cùng, điểm nhìn quay lại với sự thức tỉnh trong suy nghĩ của bé Em. tác dụng Giúp người đọc hiểu rõ hoàn cảnh và tâm lý của cả hai nhân vật một cách khách quan, đa chiều. Làm nổi bật sự tương phản giữa cái giàu - cái nghèo, từ đó làm tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn và tình bạn chân thành của hai đứa trẻ.

Câu 4.

Chiếc áo đầm hồng là chi tiết đắt giá nhất, mang nhiều tầng ý nghĩa:

  • Với bé Em: Ban đầu nó là niềm kiêu hãnh, là biểu tượng của sự đủ đầy. Nhưng sau đó, việc bé Em quyết định không mặc nó để mặc bộ đồ bình thường giống bạn cho thấy sự tinh tế, lòng trắc ẩn và sự hy sinh vì tình bạn.
  • Với Bích: Là thứ khiến Bích thoáng buồn vì sự thua thiệt của bản thân, nhưng cũng là thước đo cho thấy Bích yêu quý bé Em không vì vật chất ("mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em").
  • Bộc lộ tính cách: Chiếc áo là "phép thử" cho thấy bé Em là cô bé biết quan tâm, không muốn bạn mình bị tổn thương; còn Bích là cô bé hiểu chuyện, bao dung.

Câu 5. Từ câu chuyện, ta rút ra bài học sâu sắc: Tình bạn chân chính không xây dựng trên sự hào nhoáng bên ngoài hay sự tương đồng về vật chất, mà dựa trên sự thấu hiểu và lòng trắc ẩn. Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất, mà đôi khi là sự tiết chế niềm vui riêng để bảo vệ cảm xúc của bạn (như cách bé Em không mặc áo đẹp để Bích không thấy tự ti). Hãy luôn biết đặt mình vào vị trí của người khác để cảm thông và gìn giữ những mối quan hệ tốt đẹp, vì "người bạn thân" thật sự là người nhìn thấy giá trị con người nhau chứ không phải qua tấm áo họ mặc.

18 tháng 1

Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).


Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là tình bạn tuổi thơ gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những đứa trẻ có hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.


Câu 3.

– Điểm nhìn được thay đổi từ bên ngoài (người kể chuyện) sang bên trong – suy nghĩ, cảm xúc của bé Em.

– Việc thay đổi điểm nhìn giúp người đọc hiểu sâu hơn tâm trạng, sự trưởng thành trong nhận thức của bé Em, làm câu chuyện trở nên chân thật, xúc động hơn.


Câu 4.

Chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

– Thể hiện niềm vui, sự háo hức ban đầu của bé Em.

– Đồng thời làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh giữa bé Em và bé Bích.

– Qua đó bộc lộ sự thay đổi trong tính cách bé Em: từ thích khoe sang biết nghĩ cho bạn, biết yêu thương và trân trọng tình bạn hơn vật chất.


Câu 5.

Câu chuyện giúp em hiểu rằng tình bạn chân thành không dựa trên quần áo hay vật chất. Biết sẻ chia, cảm thông với hoàn cảnh của bạn là điều rất đáng quý. Khi yêu thương thật lòng, ta sẽ nghĩ cho cảm xúc của người khác. Sự sẻ chia giúp tình bạn bền chặt và làm con người trở nên tốt đẹp hơn.


18 tháng 1

Câu 1 : văn bản " áo tết " thuộc thể loại truyện ngắn .

Câu 2 : chủ đề của văn bản " áo tết " là tình bạn .

Câu 3 : Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản :

+ Đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi thứ 3 , điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện .

+ Sau đó điểm nhìn chuyển sang nội tâm của nhân vật bé Em .

+ Tiếp đó có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích .

Tác dụng :

+ Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của 2 nhân vật .

+ Giúp người đọc đồng cảm , thấu hiểu được suy nghĩ , cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích .

+ Tạo sự chân thực , sinh động , khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên , vừa cảm động .

Câu 4 :

Chi tiết chiếc đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách :

- Với nhân vật bé Em :

+ Ban đầu , nó thể hiện sự hồn nhiên vui tươi , có chút tự hào , muốn được khoe khoang .

+ Sau đó , nó bộc lộ được sự tinh tế , thấu hiểu , lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé Em .

- Với bé Bích :  sự hiền lành , hiểu chuyện và trân trọng tính bạn .

Câu 5 :

Từ văn bản " áo tết " em rút ra được bài học về tình bạn và sự sẻ chia . Tình bạn đẹp không phụ thuộc vào vật chất , mà dựa trên sự quan tâm , trân trọng và sẻ chia . Sự quan tâm trân thành sẽ giúp người khác cảm nhận được sự trân trọng . Khi biết nghĩ cho bạn bè , thì tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn . Đó chính là vẻ đẹp của tình bạn trong cuộc sống .






 



 


 

19 tháng 1

Câu 1

Văn bản "Áo Tết" thuộc thể loại truyện ngắn.

Câu 2.

Văn bản "Áo Tết" viết về đề tài tình bạn.

Câu 3.

- Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ Đoạn trích ban đầu được kế theo ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện.

+ Sau đó, điễm nhìn chuyến sang nội tâm nhân vật bé Em (Những suy nghĩ, cảm xúc khi muốn khoe áo mới rôi sự ngập ngừng, trăn trở khi nhìn bạn).

+ Tiếp đó, có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích (Cảm thấy tủi thân nhưng vẫn thế hiện sự quý mến bạn).

- Tác dụng của sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ Làm nổi bật sự khát biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật.

+ Giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích.

+ Tạo nên sự chân thực, sinh động, khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên, vừa cảm động.

Câu 4.

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách các nhân vật:

- Với nhân vật bé Em:

+ Ban đầu, nó thể hiện hồn nhiên, vui tươi, có chút tự hào, muốn được khoe khoang.

+ Sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu,lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé Em.

- Với nhân vật bé Bích: Sự hiền lành, hiểu chuyện và biết trân trọng tình bạn.

Câu 5.

Bài học về tình bạn và sự sẻ chia:

Tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất hào nhoáng.Tình bạn cần có sự thấu hiểu, đồng cảm và sự sẻ chia.Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong cách đối xử, quan tâm đến



20 tháng 1

Câu 1. Văn bản “Áo Tết” thuộc thể loại truyện ngắn. Câu 2. Văn bản “Áo Tết” viết về đề tài tình bạn, đặc biệt là tình bạn hồn nhiên, trong sáng giữa những đứa trẻ. Câu 3. Trong đoạn trích, điểm nhìn được thay đổi linh hoạt. Ban đầu, câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba, với điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện. Sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật bé Em, thể hiện những suy nghĩ, cảm xúc khi bé mặc áo mới rồi chạnh lòng khi nghĩ đến bạn. Tiếp theo, điểm nhìn lại chuyển sang nội tâm của bé Bích, bộc lộ sự tủi thân nhưng vẫn đầy yêu thương, trân trọng tình bạn. Việc thay đổi điểm nhìn giúp làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật, đồng thời giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc suy nghĩ, cảm xúc của các em, khiến câu chuyện trở nên chân thực và giàu cảm xúc hơn. Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật. Đối với bé Em, ban đầu chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, vui tươi và chút tự hào khi có áo mới, nhưng sau đó lại bộc lộ sự tinh tế, lòng nhân ái và biết nghĩ cho bạn. Đối với bé Bích, chi tiết này cho thấy em là một đứa trẻ hiền lành, hiểu chuyện, dù hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn biết trân trọng và yêu quý tình bạn. Câu 5. Qua câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học rằng tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất. Tình bạn cần được xây dựng bằng sự thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ. Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong cách cư xử và biết quan tâm đến cảm xúc của người khác. Đây chính là điều làm nên một tình bạn đẹp và bền lâu.

Câu 1: Thể loại Văn bản "Áo Tết" thuộc thể loại: Truyện ngắn. Câu 2: Đề tài Đề tài của văn bản: Tình bạn (cụ thể là sự thấu hiểu và sẻ chia giữa những người bạn có hoàn cảnh khác nhau). Câu 3: Điểm nhìn trần thuật và tác dụng Sự thay đổi điểm nhìn: Ban đầu, truyện được kể theo ngôi thứ ba, điểm nhìn từ bên ngoài của người kể chuyện để bao quát bối cảnh. Sau đó, điểm nhìn chuyển vào nội tâm nhân vật bé Em: Cho thấy sự háo hức muốn khoe áo mới, nhưng sau đó là sự ngập ngừng, trăn trở khi đối diện với hoàn cảnh của bạn. Tiếp theo là điểm nhìn nội tâm của bé Bích: Bộc lộ sự tủi thân vì nhà nghèo nhưng vẫn giữ sự hồn nhiên, quý mến bạn. Tác dụng: Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh sống và thế giới tâm hồn tinh tế của hai đứa trẻ. Giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc cảm xúc của từng nhân vật, tạo nên sự chân thực và xúc động cho câu chuyện. Câu 4: Ý nghĩa chi tiết "chiếc áo đầm hồng" Chiếc áo đầm hồng là chi tiết quan trọng nhất trong truyện: Với bé Em: Lúc đầu nó là niềm tự hào, là sự hãnh diện về vật chất. Tuy nhiên, qua chi tiết này, ta thấy bé Em là một cô bé nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn. Khi nhận ra bạn mình chịu thiệt thòi, bé Em đã chọn không mặc chiếc áo đó để đi chơi cùng bạn, nhằm xóa bỏ khoảng cách giàu nghèo. Với bé Bích: Chiếc áo là biểu tượng cho ước mơ về một cái Tết đủ đầy mà em chưa có được. Dù vậy, Bích không hề đố kỵ mà vẫn khen bạn "sướng rồi". Ý nghĩa chung: Chiếc áo đầm hồng là "phép thử" cho tình bạn. Nó bộc lộ sự tinh tế, biết hy sinh cái tôi cá nhân vì cảm xúc của bạn bè. Câu 5: Bài học về tình bạn và sự sẻ chia (Khoảng 5-7 dòng) Từ câu chuyện của bé Em và bé Bích, em rút ra bài học quý giá rằng tình bạn chân chính không dựa trên sự tương đồng về vật chất hay giàu nghèo. Tình bạn thực sự cần có sự thấu hiểu, đồng cảm và đặc biệt là sự sẻ chia một cách tinh tế. Sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất, mà đôi khi là việc biết kìm nén niềm vui riêng, biết đặt mình vào hoàn cảnh của bạn để hành xử sao cho bạn không cảm thấy tủi thân. Chính sự chân thành và tinh tế ấy mới là sợi dây gắn kết bền chặt nhất giữa người với người. Bạn có cần mình hỗ trợ phân tích sâu hơn về một chi tiết cụ thể nào khác trong truyện không?

Câu 1. Văn bản Áo Tết thuộc thể loại truyện ngắn. Câu 2. Văn bản viết về đề tài tình bạn, đặc biệt là tình bạn hồn nhiên, trong sáng giữa những đứa trẻ có hoàn cảnh khác nhau. Câu 3. Sự thay đổi điểm nhìn: Ban đầu: điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba, quan sát từ bên ngoài. Sau đó: chuyển sang điểm nhìn nội tâm của bé Em (suy nghĩ, do dự khi muốn khoe áo). Cuối cùng: chuyển sang điểm nhìn nội tâm của bé Bích (tủi thân nhưng vẫn trân trọng bạn). Tác dụng: Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng hai nhân vật. Giúp người đọc hiểu sâu, đồng cảm với cả bé Em và bé Bích. Khiến câu chuyện chân thực, cảm động hơn. Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng có ý nghĩa tiêu biểu: Với bé Em: Ban đầu thể hiện sự hồn nhiên, thích khoe, tự hào. Sau đó cho thấy sự tinh tế, biết nghĩ cho bạn, trân trọng tình bạn hơn vật chất. Với bé Bích: Thể hiện sự hiền lành, hiểu chuyện, không ganh tị và rất quý mến bạn. Câu 5. Từ câu chuyện, em rút ra bài học: Tình bạn chân chính không dựa vào giàu nghèo hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết thấu hiểu, quan tâm và sẻ chia với nhau. Sự sẻ chia đôi khi chỉ là biết đặt mình vào cảm xúc của người khác. Khi trân trọng tình bạn, niềm vui sẽ trở nên trọn vẹn hơn.

C1 truyện ngắn

C2

Đề tài về tình bạn, sự thấu hiểu và sẻ chia trong cuộc sống, đặc biệt là tâm lý trẻ thơ trong bối cảnh chuẩn bị đón Tết.

Câu 3: Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn và tác dụng.

Chỉ ra sự thay đổi: Đoạn trích có sự chuyển dịch điểm nhìn từ người kể chuyện ngôi thứ ba (người kể giấu mặt, quan sát câu chuyện) sang điểm nhìn của nhân vật (suy nghĩ, cảm xúc bên trong của bé Bích và bé Em).

Tác dụng:

Giúp câu chuyện trở nên khách quan nhưng cũng đầy sâu sắc, tinh tế.

Diễn tả chân thực những chuyển biến tâm lý, sự thấu hiểu và lòng vị tha của các nhân vật nhỏ tuổi.

Làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của trẻ thơ: sự hồn nhiên, không tính toán và luôn trân trọng tình bạn chân chính hơn những giá trị vật chất bên ngoài.

C4

Chi tiết này khẳng định giá trị của tình bạn cao hơn mọi giá trị vật chất. Nó cho thấy vẻ đẹp của sự thấu hiểu và đức hy sinh thầm lặng của trẻ thơ.

C5

Qua câu chuyện của bé Em và bé Bích, em nhận ra rằng tình bạn chân chính không xây dựng trên sự hào nhoáng bên ngoài mà dựa trên sự thấu hiểu và sẻ chia. Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất, mà đôi khi là sự tinh tế khi biết tiết chế cái tôi của mình để bảo vệ lòng tự trọng và niềm vui cho bạn. Trong cuộc sống, chúng ta cần biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để cảm thông và yêu thương. Đó chính là sợi dây gắn kết bền chặt nhất giúp tình bạn trở nên cao đẹp và ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Câu 5: Bài học về tình bạn và sự sẻ

18 tháng 3

câu 1 : truyện ngắn

câu 2 : viết về tình bạn

cấu 3 : Giúp câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi và giàu cảm xúc hơn.Cho phép người đọc thấu hiểu sâu sắc tâm tư, tình cảm, và sự trưởng thành trong nhận thức của nhân vật "tôi" về tình yêu thương vô điều kiện của mẹ.Tạo sự đồng cảm mạnh mẽ giữa độc giả với nhân vật và thông điệp ý nghĩa của tác phẩm về tình mẫu tử.

câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm màu hồng, thắt nơ, viền kim tuyến trong áo tết là điểm nhấn nghệ thuật quan trọng, thể hiện sự tinh tế, giàu tình cảm và lòng nhân hậu của nhân vật bé Em. Nó không chỉ là bộ quần áo đẹp nhất mà còn là biểu tượng của sự sẻ chia, tình bạn chân thành vượt lên trên điều kiện vật chất. 

câu 5



18 tháng 3

Câu 1.Văn bản thuộc thể loại: truyện ngắn 

Câu 2.Văn bản “Áo Tết” viết về đề tài tình bạn

Câu 3.

Sự thay đổi điểm nhìn:
Ban đầu câu chuyện được kể theo điểm nhìn của bé Em, sau đó chuyển sang bé Bích rồi lại quay về bé Em.

Tác dụng:Giúp câu chuyện trở nên chân thực, sâu sắc hơn.Làm nổi bật cảm xúc, suy nghĩ của cả hai nhân vật.Tăng tính đồng cảm, giúp người đọc hiểu rõ hoàn cảnh và tấm lòng của từng người.

Câu 4.

Ý nghĩa chi tiết chiếc áo đầm hồng:

Là biểu tượng cho niềm vui, sự háo hức của bé Em trong dịp Tết.Thể hiện sự hồn nhiên, thích khoe nhưng cũng biết nghĩ cho bạn của bé Em.Đồng thời làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh với bé Bích
Qua đó làm nổi bật:

Bé Em: vô tư nhưng biết quan tâm, dần trưởng thành trong suy nghĩ.

Bé Bích: hiền lành, tự trọng, không ganh tị.

Câu 5. Từ câu chuyện, em rút ra rằng tình bạn không nằm ở vật chất mà ở sự chân thành và thấu hiểu. Dù hoàn cảnh khác nhau, những người bạn thật sự vẫn biết quan tâm và nghĩ cho nhau. Không nên khoe khoang hay so sánh làm tổn thương bạn bè. Thay vào đó, hãy học cách chia sẻ, đồng cảm và trân trọng nhau. Một tình bạn đẹp là khi ta ở bên nhau bằng sự chân thành, không vì giàu nghèo. Điều đó mới làm nên giá trị bền lâu của tình bạn.




18 tháng 3

câu 1:văn bản thuộc thể loại truyện ngắn

câu2: văn bản viết về đề tài tình bạn

câu 3: Điểm nhìn trong đoạn trích có sự chuyển dịch linh hoạt

Điểm nhìn từ ngừời kể chuyện: Giúp bao quát toàn bộ câu chuyện và bối cảnh.

Điểm nhìn từ bé Sâu : Đi sâu vào thế giới nội tâm, những suy nghĩ ngây thơ nhưng đầy thấu cảm của đứa trẻ.

Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên khách quan nhưng cũng rất sâu sắc; giúp người đọc hiểu rõ hơn về tâm tư, tình cảm và sự tinh tế trong tâm hồn của các nhân vật nhỏ tuổi.

câu 4: vẻ đẹp của con người không nam ơ manh áo bên ngoại mà ở tầm lòng danh cho nhau.


Câu 1. Văn bản "Áo Tết" thuộc thể loại truyện ngắn.

Câu 2. Văn bản khai thác đề tài về tình bạn trong cuộc sống, đặc biệt là tình bạn giữa những đứa trẻ trong hoàn cảnh có sự khác biệt về điều kiện kinh tế, qua đó làm nổi bật ý nghĩa của sự sẻ chia và thấu hiểu.

Câu 3. Trong đoạn trích, điểm nhìn trần thuật có sự thay đổi linh hoạt. Ban đầu, câu chuyện được nhìn chủ yếu từ góc nhìn của bé Em với tâm trạng háo hức, vui vẻ khi có áo mới. Sau đó, điểm nhìn chuyển sang bé Bích để làm nổi bật hoàn cảnh nghèo khó cũng như tâm trạng của nhân vật này. Việc thay đổi điểm nhìn như vậy giúp câu chuyện trở nên chân thực và giàu cảm xúc hơn, đồng thời giúp người đọc hiểu rõ cả hai nhân vật, từ đó làm nổi bật ý nghĩa nhân văn của tác phẩm.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang nhiều ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện nội dung và tính cách nhân vật. Đối với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm tự hào và là điều em muốn chia sẻ với bạn, qua đó thể hiện sự hồn nhiên, vô tư của tuổi nhỏ. Ngược lại, đối với bé Bích, chiếc áo lại gợi lên sự thiếu thốn và hoàn cảnh khó khăn của em, khiến em có chút chạnh lòng nhưng vẫn giữ được sự hiền lành và tự trọng. Từ đó, chiếc áo trở thành biểu tượng cho sự khác biệt giàu – nghèo, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp của tình bạn khi hai đứa trẻ vẫn gắn bó, quan tâm và nghĩ cho nhau.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn chân thành không phụ thuộc vào vật chất hay sự hơn thua. Trong cuộc sống, mỗi người cần biết yêu thương, tôn trọng và thấu hiểu bạn bè, không nên vô tình làm tổn thương người khác chỉ vì sự khác biệt hoàn cảnh. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần học cách chia sẻ, đồng cảm với những khó khăn của người xung quanh và trân trọng những gì mình đang có. Chính sự chân thành và cảm thông sẽ giúp tình bạn trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn.


18 tháng 3

Câu 1: văn bản áo tết thuộc thể loại truyện ngắn

Câu2: văn bản áo tết viết về đề tài tình bạn

Câu3:

-sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ Đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi thứ 3, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện

+ Sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật bé Em (những suy nghĩ cảm xúc khi muốn khoe áo mới rồi sự ngập ngưng trăn trở khi nhìn bạn)

+ Tiếp đó, có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích (cảm thấy tủi thân nhưng vẫn thể hiện sự quý mến bạn)

- Tác dụng của sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của 2 nhân vật

+ giúp người đọc đồng cảm thấu hiểu được suy nghĩ cảm xúc sâu kín của ca bé em và bé bích

+ tạo nên sự chân thực sinh động khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên vừa cảm động

Câu 4: chi tiết chụp áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách của các nhân vật:

-với nhân vật bé em:

+ ban đầu, nó thể hiện hồn nhiên, vui tươi ,có chút tự hào muốn được khoe khoang

+ sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu ,lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé em

-với nhân vật bé bích: sự hiền lành, hiểu chuyện và biết trân trọng tình bạn

Câu 5: bài học về tình bạn và sự sẻ chia:

- tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất hào nhoáng

- tình bạn cần có sự thấu hiểu đồng cảm và sự sẻ chia

- Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong cách đối xử quan tâm đến cảm xúc của người khác

bài làm

câu 1: văn bản thuộc thể loaị truyện ngắn

câu 2: đề tài của văn bản "Áo tết" là đề tài tình bạn , sự thấu hiểu và sẻ chia trong cuộc sống

câu 3: điểm nhìn trần thuật thay đổi từ người kể chuyện( ngôi thứ ba) sang điểm nhìn của các nhân vật ( bé Em , bé Bích)

tác dụng: việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên đa chiều , khách quan hơn. nó giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc tâm tư , tình cảm và cach suy nghĩ hồn nhiên nhưng đầy nhân hâu của các nhân vật, từ đó làm nổi bật lên chủ đề tình bạn chân thành

câu 4 ý nghĩa của chiếc áo đầm hồng là thưoc đo lòng nhân hậu, khẳng định tình bạn thật sự không bị ngăn cách bởi vật chất hay vẻ bề ngoài

câu 5: qua câu chuyện "áo tết" em rút ra được bài học quý giá về sự chân thành trong tình ban. một tình bạn đẹp không xây dựng trên sự hao nhoáng của nhân vật hay vẻ bề ngoài mà kết nối bằng sự thấu hiểu và sẻ chia. chúng ta cần biết quan tâm đến cảm xúc của bạn be, đặt minh vào hoàn canh của ngưoi khác để cảm thong. chỉ một hành động nho cũng giúp tình bạn của chúng ta theem bền chặt

Câu 1 : văn bản thuộc thể loại truyện ngắn.

Câu 2: Văn bản viết về đề tài tình bạn

Câu 3: Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản : đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi kể thứ ba,điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện.

Sau đó điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật em bé

  Tiếp đó có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích

Tác dụng là :

Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của nhân vật.

Giúp người đọc đồng cảm thấu hiểu được suy nghĩ ,cảm xúc sâu kín của bé Em và bé Bích

Câu 4 :

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách của các nhân vật :

Nhân vật bé Em:

+ Nan đầu hồn nhiên vui tươi có chút tự hào,muốn được khoe khoang

+ Sau đó sự tinh tế, thấu hiểu, lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạ của bé Em

Nhân vật bé Bích : sự hiền lành ,hiểu chuyệnvà biết trân trọng tình bạn

Câu 5

Tình bạn là một thứ tình cảm vô cùng quan trọng đối với con người.Vậy liệu có ai lại không xó tình bạn? Nếu thế thì tôi tin chắc rằng không hề có người như vậy.Tình bạn là thứ tình cảm tốt đẹp ,bền vững. Nó giúp cuộc sốnh thêm nhiều người tốt, ,giúo ta xả stress sau những lầm mệt mởi. Tình bạn thật tuyệt vời! Những người bạn này sẽ luôn cùng ta tiến bước và ủng hộ ta. Giúp ta có thên nhiều động lực trong cuộc sống. Vì vậy hãy trân trọng tình bạn khi còn có thể.


câu 1 văn bản trên thuộc theer loại truyện ngắn

câu 2 đề tài của văn bản là nói về Tình bạn

câu 3 thay đổi điểm nhìn và tác dụng là

sự thay đổi : điểm nhìn chuyển từ suy nghĩ của bé Em lo lắng cho bạn muốn mặc đồ xấu để bạn không tự ti sang suy nghĩ của Bích sự trân trọng tình cảm của bạn dù bạn mặc gì đi nưa

câu 4 ý nghĩa chi tiết “ chiếc áo đầm hồng”

với bé Em: thể hiện lòng vị tha và một tình bạn chân thành sẵn sàng từ bỏ niềm vui mặc đồ đẹp để bảo vệ lòng tự trọng của bạn

với Bích: là sự hồn nhiên của trẻ thơ nhưng cũng rất chu đáo và thấu hiểu Bích yêu quý bé Em vì con người thật của bé Em chứ không phải vi vẻbề ngoài hay đồ áo đẹp

câu 5 Qua câu chuyện của bé Em và Bích em rút ra được bài học quý giá rằng tình bạn thực sự không hình thành từ những điều hào nhoáng bên ngòai hay vật chất xa xỉ .Sự sẽ chia đôi khi không phải cho đi tiền bạc mà là sự thấu hiểu biết đặt mình vào hoàn cảnh của bạn để thấu hiểu và giữ gìn lòng tự trọng cho nhau Mootj người bạn tốt là một người trân trọng giá trị của tâm hồn đẹp đẽ chứ không phải qua cái áo cái quần hay vật chất bên ngoài . Chúng ta nên học cách yêu thương nhau một cách giản dị như tình bạn của bé Em và Bích

18 tháng 3

Câu 1

Văn bản áo tết thuộc thể loại truyện ngắn

Câu 2

Văn bản trên viết về đề tài tình bạn

Câu 3

Sự thay đổi điểm nhìn của văn bản là từ đầu dùng ngôi kể thứ ba sau chuyển sang nhân vật bé em , tác dụng tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài văn giúp người đọc hiểu được suy nghĩ của nhân vật thấu hiểu được tình bạn

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản thể hiện tính cách của nhân vật đối với bé em lúc đầu vui tươi hồn nhiên dần về sau bộc lộ sự thấu hiểu trong tình bạn còn với Bích là hiểu chuyện và trân trọng tình bạn

Câu 5

Văn bản trên cho ta thấy được ở tình bạn không chỉ là vật chất hay sự giàu nghèo mà nó nằm ở tinh thần sự sẻ chia cảm thông với nhau biết thấu hiểu san sẽ nỗi buồn cũng như niềm vui của nhau cũng như quan tâm chăm sóc lẫn nhau


20 tháng 3

Câu 1: Văn bản thuộc thể loại: truyện ngắn.

Câu 2: Văn bản “ Áo Tết” thuộc đề tài tình bạn

Câu 3: Sự thay đối điếm nhìn trong văn bản:

+ Đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện.

+ Sau đó, điếm nhìn chuyến sang nội tâm nhân vật bé Em (Những suy nghĩ, cảm xúc khi muốn khoe áo mới rồi sự ngập ngừng, trăn trở khi nhìn bạn).

+ Tiếp đó, có những đoạn lại theo điếm nhìn nội tâm của bé Bích (Cảm thấy tủi thân nhưng vẫn thể hiện sự quý mến bạn).

- Tác dụng của sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ Làm nổi bật sự khát biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật.

+ Giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích.

+ Tạo nên sự chân thực, sinh động, khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên, vừa cảm động.

Câu 4:Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách các nhân vật:

- Với nhân vật bé Em:

+ Ban đầu, nó thế hiện hồn nhiên, vui tươi, có chút tự hào, muốn được khoe khoang.

+ Sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu, lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn cúa bé Em.

- Với nhân vật bé Bích: Sự hiền lành, hiếu chuyện và biết trân trọng tình bạn.

Câu 5:

Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn chân thành không phụ thuộc vào vật chất mà nằm ở sự thấu hiểu và quan tâm lẫn nhau. Trong cuộc sống, mỗi người có hoàn cảnh khác nhau nên cần biết cảm thông, tránh khoe khoang làm tổn thương bạn bè. Sự tinh tế trong cách cư xử sẽ giúp giữ gìn tình bạn bền lâu. Đồng thời, chúng ta nên biết chia sẻ, giúp đỡ những người khó khăn hơn mình. Một tình bạn đẹp là khi cả hai luôn nghĩ cho nhau và cùng nhau vượt qua những thiếu thốn trong cuộc sống.



Câu 1:

Văn bản “Áo Tết” thuộc thể loại truyện ngắn.

Câu 2:

Văn bản “Áo Tết” viết về tình bạn, thể hiện sự quan tâm, thấu hiểu và sẻ chia giữa những người bạn nhỏ.

Câu 3:

  • Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:
  • Phần đầu được kể theo ngôi thứ ba, với điểm nhìn của người kể chuyện từ bên ngoài.
  • Sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm của bé Em.
  • Tiếp theo, điểm nhìn lại chuyển sang nội tâm của bé Bích.
  • Tác dụng:
  • Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật.
  • Giúp người đọc hiểu rõ hơn suy nghĩ, cảm xúc của từng nhân vật.
  • Làm cho câu chuyện trở nên chân thực, sinh động và thể hiện tình bạn hồn nhiên, cảm động.

Câu 4:

Chi tiết chiếc áo đầm hồng có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật:

  • Đối với bé Em:
  • Ban đầu, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, vui vẻ và một chút tự hào của bé.
  • Sau đó, chi tiết này cho thấy bé Em là người tinh tế, biết quan tâm, thấu hiểu và trân trọng tình bạn.
  • Đối với bé Bích:
    Chi tiết chiếc áo cho thấy bé Bích là người hiền lành, hiểu chuyện và biết quý trọng tình bạn.

Câu 5:

Qua câu chuyện, tác giả gửi gắm bài học về tình bạn và sự sẻ chia. Tình bạn chân thành không phụ thuộc vào điều kiện vật chất hay sự giàu nghèo. Trong tình bạn cần có sự thấu hiểu, đồng cảm và quan tâm đến cảm xúc của nhau. Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn thể hiện ở cách cư xử tinh tế, biết nghĩ cho người khác.


Câu 1 Văn bản “Áo Tết” thuộc thể loại truyện ngắn Câu 2 Văn bản “Áo Tết” viết về đề tài tình bạn Câu 3 – Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản: + Đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện + Sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật bé Em: Những suy nghĩ, cảm xúc khi muốn khoe áo mới rồi sự ngập ngừng, trăn trở khi nhìn bạn + Tiếp đó, có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích: Cảm thấy tủi thân nhưng vẫn thể hiện sự quý mến bạn – Tác dụng của sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản: + Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật + Giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích. + Tạo nên sự chân thực, sinh động, khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên, vừa cảm động

Câu 4 Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách các nhân vật: – Với nhân vật bé Em: + Ban đầu, nó thể hiện hồn nhiên, vui tươi, có chút tự hào, muốn được khoe khoang + Sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu, lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé Em – Với nhân vật bé Bích: Sự hiền lành, hiểu chuyện và biết trân trọng tình bạn Câu 5 Bài học về tình bạn và sự sẻ chia: – Tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất hào nhoáng – Tình bạn cần có sự thấu hiểu, đồng cảm và sự sẻ chia – Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong cách đối xử, quan tâm đến cảm xúc của người khác

7 tháng 4

câu 1 văn văn thuộc thể loại là

10 tháng 4

7sjsjsj

Câu 1. (2,0 điểm)Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá hình ảnh "Hoa chanh nở giữa vườn chanh" trong bài thơ dưới đây.            CHÂN QUÊ     Hôm qua em đi tỉnh về,     Đợi em ở mãi con đê đầu làng.     Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.     Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!     Nào đâu cái yếm lụa sồi?     Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?     Nào...
Đọc tiếp

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá hình ảnh "Hoa chanh nở giữa vườn chanh" trong bài thơ dưới đây.

            CHÂN QUÊ

     Hôm qua em đi tỉnh về,

     Đợi em ở mãi con đê đầu làng.

     Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.

     Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!

     Nào đâu cái yếm lụa sồi?

     Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?

     Nào đâu cái áo tứ thân?

     Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?


     Nói ra sợ mất lòng em,

     Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa.

     Như hôm em đi lễ chùa,

     Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

     Hoa chanh nở giữa vườn chanh,

     Thầy u mình với chúng mình chân quê.

     Hôm qua em đi tỉnh về,

     Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

                                      (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của anh/chị về ý kiến sau đây: Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại. (Barack Obama)

10
19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ:

Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là một điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc, giàu ý nghĩa. Hoa chanh vốn nhỏ bé, giản dị, không rực rỡ như hoa hồng, hoa cúc nhưng lại tinh khiết, trong sáng và tỏa hương thầm. Đặt trong “vườn chanh”, hoa chanh càng trở nên đồng điệu với không gian quê mùa, dân dã. Hình ảnh ấy chính là biểu tượng cho vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết, gần gũi của người con gái thôn quê. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm trân trọng đối với những nét đẹp giản dị, đồng thời gửi gắm lời nhắn nhủ tha thiết: đừng để lớp son phấn thị thành làm phai nhòa vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Hình ảnh “hoa chanh nở giữa vườn chanh” còn khẳng định quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Bính – đề cao sự chân chất, quê mùa, coi đó là vẻ đẹp bền vững và đáng quý hơn cả. Từ hình ảnh thơ này, ta cảm nhận được nỗi lo lắng của nhà thơ trước nguy cơ mai một bản sắc quê hương khi con người chạy theo lối sống thị thành. Như vậy, chỉ bằng một câu thơ giản dị, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân quê – vừa mộc mạc, vừa tinh khiết, vừa bền chặt trong lòng người đọc.


Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ:

Trong một bài phát biểu, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhấn mạnh: “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại.” Quả thực, giữa thời đại toàn cầu hóa hôm nay, biến đổi khí hậu không còn là vấn đề xa vời, mà đã trở thành mối đe dọa trực tiếp, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người trên khắp hành tinh.

Trước hết, biến đổi khí hậu là hệ quả tất yếu của hoạt động sản xuất và sinh hoạt thiếu ý thức của con người. Sự gia tăng khí thải nhà kính, nạn chặt phá rừng, ô nhiễm môi trường,… đã làm Trái Đất nóng lên, thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập. Hậu quả là băng tan, mực nước biển dâng, nhiều vùng đất ven biển đứng trước nguy cơ biến mất. Bên cạnh đó, thiên tai, hạn hán, lũ lụt, bão tố diễn ra khốc liệt hơn, gây thiệt hại lớn về người và của, đặc biệt đối với các quốc gia nghèo, dễ bị tổn thương. Biến đổi khí hậu còn làm suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến nguồn nước, lương thực, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của loài người.

Từ thực trạng ấy, ta càng thấm thía tính đúng đắn trong lời cảnh báo của Obama. Quả thật, trong các thách thức toàn cầu như chiến tranh, dịch bệnh, khủng bố,… biến đổi khí hậu nguy hiểm hơn vì nó diễn ra âm thầm nhưng lâu dài, tác động đến mọi mặt đời sống và không chừa một ai. Đặc biệt, nó đe dọa đến tương lai của thế hệ mai sau, làm lung lay nền tảng phát triển bền vững của nhân loại.

Để đối mặt với thách thức này, cần có sự chung tay của toàn thế giới. Các quốc gia phải tăng cường hợp tác, thực hiện cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng sạch, trồng và bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường: hạn chế sử dụng nhựa, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, sống thân thiện với thiên nhiên. Chỉ khi cả cộng đồng cùng hành động, nhân loại mới có thể vượt qua thách thức khổng lồ này.

Tóm lại, biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại, đúng như lời Obama từng khẳng định. Ý kiến ấy không chỉ là lời cảnh báo mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải hành động ngay hôm nay, để bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung duy nhất của loài người.

19 tháng 9 2025

tặng mik mấy xu đi

1 xu cx đc nha

17 tháng 9 2025

e

19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ):

Trong khổ thơ cuối của Tương tư, Nguyễn Bính đã mượn hình ảnh “giầu” và “cau” để gửi gắm nỗi niềm tình yêu và khát vọng gắn bó đôi lứa:

“Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau
Bao giờ giầu bén duyên cau
Thì ta sẽ cưới nhau về một nhà.”

Giầu và cau vốn là hình ảnh quen thuộc trong đời sống văn hóa cưới hỏi của người Việt, tượng trưng cho tình duyên vợ chồng gắn bó bền chặt. Nguyễn Bính đã đưa chất liệu dân gian ấy vào thơ, biến chúng thành biểu tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Qua đó, ta thấy được khát vọng tình yêu chân thành, mãnh liệt của chàng trai nông thôn: yêu không chỉ để thương nhớ mà còn mong đến sự kết trái, mong tình yêu được đơm hoa kết quả bằng hạnh phúc hôn nhân. Hình ảnh “giầu – cau” còn cho thấy quan niệm tình yêu của Nguyễn Bính rất mộc mạc, thuần khiết, gắn bó với phong tục và nếp sống thôn quê. Như vậy, bằng hình ảnh dân dã, giàu tính biểu tượng, nhà thơ đã khẳng định sức mạnh, sự bền chặt và thiêng liêng của tình yêu lứa đôi.


Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (600 chữ):

Trong một phát biểu nổi tiếng, Leonardo DiCaprio từng nhấn mạnh: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó.” Đây là một quan điểm đúng đắn và đầy tính cảnh báo trong bối cảnh môi trường toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng.

Trước hết, Trái Đất là ngôi nhà chung duy nhất của nhân loại. Cho đến nay, dù khoa học vũ trụ đã phát triển, con người vẫn chưa tìm được một hành tinh nào khác có điều kiện sống phù hợp như Trái Đất. Không khí, nguồn nước, đất đai, rừng cây, đại dương – tất cả đều là những yếu tố không thể thay thế cho sự tồn tại của con người và muôn loài. Vì vậy, bảo vệ Trái Đất cũng chính là bảo vệ sự sống của chính chúng ta.

Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là môi trường Trái Đất đang bị tàn phá nặng nề. Ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu, rừng bị chặt phá, băng tan, nước biển dâng… đang đe dọa sự cân bằng sinh thái và kéo theo nhiều hậu quả khôn lường: thiên tai, dịch bệnh, khan hiếm lương thực, suy giảm đa dạng sinh học. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chính con người: khai thác tài nguyên quá mức, lối sống tiêu dùng thiếu ý thức, chạy theo lợi ích kinh tế mà bỏ quên môi trường.

Ý kiến của Leonardo DiCaprio vì thế mang ý nghĩa cảnh tỉnh mạnh mẽ. Nó nhắc nhở chúng ta rằng không ai có thể thoát khỏi hậu quả nếu hành tinh này bị hủy hoại. Cần phải thay đổi từ nhận thức đến hành động: các quốc gia phải chung tay thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải, phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ rừng và đại dương. Ở cấp độ cá nhân, mỗi người cũng có thể góp phần bằng những hành động nhỏ bé nhưng thiết thực: hạn chế sử dụng túi nilon, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, phân loại rác thải, sống thân thiện hơn với tự nhiên.

Tóm lại, Trái Đất là mái nhà duy nhất của nhân loại, không có nơi nào khác để thay thế. Bảo vệ hành tinh này không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người đối với tương lai chung. Ý kiến của Leonardo DiCaprio vừa là lời nhắc nhở vừa là lời kêu gọi hành động, để chúng ta cùng nhau gìn giữ ngôi nhà xanh này cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. ANH BÉO VÀ ANH GẦY     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi....
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài − đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại − đó là con trai anh ta.

     − Pơ-phi-ri đấy à? − anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. − Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!

     − Trời! − anh gầy sửng sốt. − Mi-sa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?

     Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.

     − Cậu ạ, − anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong. − Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Lui-đa, nguyên họ là Van-xen-bắc, theo đạo Luy-te(1)... Còn đây là con trai mình, Na-pha-na-in, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.

     Na-pha-na-in ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.

    − Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! − anh gầy nói tiếp − À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gê-rô-xtrát(2) vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là E-phi-an(3) vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Na-pha-na-in! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Van-xen-bắc... theo đạo Luy-te...

    Na-pha-na-in suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.

    − Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? - anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. - Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?

   − Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay Xta-ni-xláp(4). Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?

    − Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, − anh béo nói. − Mình là viên chức bậc ba rồi... có hai mề đay của Nhà nước.

    Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...

    − Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn... từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì.

    − Thôi, cậu đừng nói thế đi! - anh béo cau mặt. − Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ − việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế.

    − Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... − anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. − Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Na-pha-na-in... và vợ là Lui-đa, theo đạo Luy-te đấy ạ...

    Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.

    Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Na-pha-na-in kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống.

    Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.

(Sê-khốp, theo docsach24)

Chú thích:

(1) Đạo Luy-te: một trong những biến dạng của đạo Tin lành (cùng với đạo Thiên Chúa và Chính giáo là ba nhánh chính của Ki-tô giáo). Ra đời trong thế kỷ XVI, do những nỗ lực của Luy-te (1483-1546) và những tông đồ của ông ở nước Ðức.

(2) Gê-rô-xtrát: người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Ác-tê-mi-đa E-phe-xcai-a để tên mình trở thành bất tử.

(3) E-phi-an: (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên) - nhà hoạt động chính trị của A-ten thời cổ. Năm 480 trước công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phen-nô-pin-xki. Toán dân binh Xpác-ta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng.

(4) Mề đay Xta-ni-xláp: thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. 

Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy.

Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?

Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản. 

45
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.


Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:

“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”

Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.


Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.


Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo

  • Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
  • Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.

19 tháng 12 2025

Câu 1

Thể loại: truyện ngắn.

Câu 2

Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:

"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3.

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.

Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4.

Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Cầu 5.


19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Đoạn văn khoảng 200 chữ:

Đọc Những dặm đường xuân của Băng Sơn, em cảm nhận được một bức tranh mùa xuân thật đẹp và giàu sức gợi. Trên những nẻo đường, sắc xuân lan tỏa từ cành đào phai, cành mai vàng đến những gánh hoa, gánh quất rực rỡ nối nhau về phố thị. Mùa xuân hiện ra không chỉ trong thiên nhiên mà còn trong gương mặt con người, trong tiếng rao hàng, trong nhịp sống rộn ràng của phố phường. Ẩn sau đó là tình yêu tha thiết của nhà văn dành cho quê hương, đất nước, cho mùa xuân truyền thống của dân tộc. Bằng những chi tiết giản dị, gần gũi, tác giả đã khắc họa được vẻ đẹp thanh khiết, trong lành và tràn đầy sức sống của mùa xuân Việt Nam. Đọc văn bản, em thấy lòng mình thêm rạo rực, bâng khuâng; cũng cảm nhận rõ hơn hương vị Tết cổ truyền – một nét đẹp văn hóa ngàn đời mà ai đi xa cũng nhớ. Qua đó, em nhận ra cần biết trân trọng những giá trị giản dị, quen thuộc quanh mình, bởi chính chúng làm nên cội nguồn hạnh phúc và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người.


Câu 2. (4,0 điểm)

Bài văn khoảng 600 chữ:

Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên dấu ấn không thể hòa lẫn trong cộng đồng nhân loại. Với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc đã kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, thể hiện trong tiếng nói, phong tục, lễ hội, trang phục, ẩm thực, kiến trúc và trong cả tâm hồn, tính cách con người. Giữ gìn những nét đẹp ấy là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.

Trước hết, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là giữ lấy cội nguồn, giữ lấy căn tính để không bị hòa tan trong dòng chảy hội nhập. Trong thời đại toàn cầu hóa, văn hóa ngoại lai du nhập mạnh mẽ, dễ khiến một bộ phận giới trẻ chạy theo xu hướng hiện đại mà quên mất gốc rễ truyền thống. Nếu không biết trân trọng, gìn giữ, chúng ta có thể đánh mất bản sắc, mất đi điểm tựa tinh thần quan trọng nhất.

Thế hệ trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị ấy. Trách nhiệm ấy thể hiện trước hết ở sự trân trọng, tự hào về những di sản mà cha ông để lại: từ tiếng Việt trong sáng đến những câu ca dao, dân ca; từ tà áo dài thướt tha đến những phong tục ngày Tết. Đồng thời, thế hệ trẻ cũng cần chủ động học hỏi, tìm hiểu để am hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, văn hóa dân tộc. Khi đã có tri thức, chúng ta mới có thể truyền bá, giới thiệu và lan tỏa những nét đẹp ấy đến bạn bè quốc tế.

Không chỉ dừng ở ý thức, trách nhiệm còn cần thể hiện bằng hành động thiết thực. Đó có thể là việc tham gia bảo vệ di tích lịch sử, giữ gìn phong tục tốt đẹp, ứng xử văn minh nơi công cộng, hoặc đơn giản là biết nói lời hay, giữ gìn tiếng mẹ đẻ trong sáng. Trong thời đại công nghệ số, trách nhiệm ấy còn là việc sử dụng mạng xã hội để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới một cách đúng đắn, sáng tạo.

Tất nhiên, giữ gìn bản sắc không có nghĩa là khước từ cái mới. Thế hệ trẻ cần biết dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc, chứ không để nó phai nhạt.

Tóm lại, gìn giữ những nét đẹp bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ trẻ. Thực hiện tốt trách nhiệm ấy, chúng ta không chỉ bảo vệ cội nguồn dân tộc mà còn góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam giàu bản sắc trong mắt bạn bè thế giới. Và quan trọng hơn, chính chúng ta – những người trẻ – sẽ tìm thấy niềm tự hào, sự tự tin khi bước vào đời bằng đôi cánh của truyền thống và hiện đại.

21 tháng 12 2025

Zjkizox

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.       NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,     Cây đàn sum họp đứt từng dây.     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...     Có lần tôi thấy hai cô bé,     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.     Hai bóng chung lưng thành một bóng,     “− Đường về nhà chị...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

      NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA

     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,
     Cây đàn sum họp đứt từng dây.
     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,
     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...

     Có lần tôi thấy hai cô bé,
     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.
     Hai bóng chung lưng thành một bóng,
     “− Đường về nhà chị chắc xa xôi?”

     Có lần tôi thấy một người yêu,
     Tiễn một người yêu một buổi chiều,
     Ở một ga nào xa vắng lắm!
     Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu.

     Hai chàng tôi thấy tiễn chân nhau,
     Kẻ ở sân toa, kẻ dưới tàu,
     Họ giục nhau về ba bốn bận,
     Bóng nhoà trong bóng tối từ lâu.

     Có lần tôi thấy vợ chồng ai,
     Thèn thẹn đưa nhau, bóng chạy dài,
     Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
     “− Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”

     Có lần tôi thấy một bà già,
     Đưa tiễn con đi trấn ải xa.
     Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng,
     Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.

     Có lần tôi thấy một người đi,
     Chẳng biết vì đâu, nghĩ ngợi gì!
     Chân bước hững hờ theo bóng lẻ,
     Một mình làm cả cuộc phân ly.

     Những chiếc khăn mầu thổn thức bay,
     Những bàn tay vẫy những bàn tay,
     Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt,
     Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

                                  (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Xác định vần và kiểu vần được gieo trong khổ cuối của văn bản.

Câu 3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Câu 4. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Theo em, yếu tố tự sự được thể hiện trong bài thơ này như thế nào? Hãy phân tích tác dụng của yếu tố ấy trong việc thể hiện cảm xúc, tư tưởng của bài thơ.

45
15 tháng 12 2025

!!

20 tháng 12 2025

Câu 1:

Thể thơ: Thơ bảy chữ

Câu 2:

Vần: Vần "ay" (bay - tay).

Kiểu vần: Vần chân, vần liền.

Câu 3:


Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".

• Tác dụng:

• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.

• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.

• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.

Câu 4:


-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.

-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.

Câu 5:


-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....

- Tác dụng:

+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.

+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN

Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...

Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.

Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].

Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...

[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?

[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...

(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: "Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...".

Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?

4
16 tháng 12 2025

Câu1 Thể loại: Tùy bút.

Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về

Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.

Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.

Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...

tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.

Câu 5.

Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân

Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau

17 tháng 12 2025

Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3.  Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.                     TƯƠNG TƯ     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,Một người chín nhớ mười mong một người.     Gió mưa là bệnh của giời,Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.     Hai thôn chung lại một làng,Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?     Ngày qua ngày lại qua ngày,Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.     Bảo rằng...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

                    TƯƠNG TƯ

     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
     Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
     Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
     Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
     Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
     Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...

     Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
     Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

     Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
     Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

                                           Hoàng Mai, 1939

                                 (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả nỗi nhớ như thế nào? 

Câu 3. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

Câu 4. Những dòng thơ Bao giờ bến mới gặp đò? / Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau? đem đến cho em cảm nhận gì?

Câu 5. Từ tâm trạng tương tư tha thiết trong bài thơ, em có suy nghĩ gì về giá trị của tình yêu trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

63
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.


Câu 2.

Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.


Câu 3.


  • Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
  • Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.



Câu 4.

Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.


Câu 5.

Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.


14 tháng 12 2025

Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát

Câu 2.

Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.

Câu 3.

Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó

Câu 4.

- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.

- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.

Câu 5.

Giá trị của cuộc sống là:

- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.

- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.

- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.

- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ

      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm "tĩnh" là gốc của "động", "tĩnh" là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, "tĩnh tại" và "thanh vắng" cũng trở thành tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không − một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của "Tràng giang" được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ. Có lẽ vì thế mà "Tràng giang" còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. [...]

     Và sự phủ định cuối cùng "không khói hoàng hôn...". Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng cổ điển của "Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén. Ngày vắng xem hoa bợ cây" (Nguyễn Trãi), "Lác đác bên sông chợ mấy nhà" (Bà huyện Thanh Quan), hay "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" (Nguyễn Khuyến) nữa. "Tràng giang" hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế! Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh thế này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê:

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)"

     Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần có khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên cớ đâu! Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy khỏi nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."

      Dòng sông chảy mênh mang giữa trời đất đến đây như bỗng dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê! Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất?

     (2) Đứng trước dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau, khi ta đã tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không thèm biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn và hình như trong bài thơ, Huy Cận đã thâu tóm được nhịp chảy trôi miên viễn ấy rồi thể hiện một cách tinh vi trong âm hưởng chảy trôi thao thiết của ngôn từ. Những từ láy nằm rải trong chiều dài bài thơ, nhất là láy nguyên: "điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn..." không chỉ gợi được sự đường bệ, mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song". Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối lên tiếp như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu". Rồi những từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu: "hàng nối hàng", "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng",... tất cả những yếu tố ngôn từ ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau, phụ hoạ lẫn nhau, tạo thành một âm hưởng trôi xuôi vô tận miên viễn cứ ngầm chảy trong lòng bài thơ này khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt: có một dòng tràng giang thầm chảy trong âm điệu. Và ta như nghe thấy dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian, mà còn chảy trong thời gian − từ thuở khai thiên lập địa, chảy miết qua các thời đại mà về đây! Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian "Tràng giang"?

     (3) Tôi đọc bài thơ bao nhiêu lần và không sao xoá được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng "Tràng giang" kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó?... Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ? Mà dường như cũng là của một người già? Bởi vì tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng?

(Theo Thơ Huy Cận − Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội, 2007, tr. 356 − 361)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2.  Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?

Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"?

Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang?

Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?

14
19 tháng 9 2025

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).


Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.


Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:

  • Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
  • Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.

Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:

  • Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
  • Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
  • Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
  • Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
    → Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.

Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)

Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.

30 tháng 9 2025

Fjfjrjfjf


(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.            Nghe lời khuyên nhủ thong dong,    Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.           Rạng ra gửi đến xuân đường,    Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.           Tiễn đưa một chén quan hà,    Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.           Sông Tần một dải xanh xanh,    Loi thoi bờ liễu mấy cành...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

           Nghe lời khuyên nhủ thong dong,
    Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.
           Rạng ra gửi đến xuân đường,
    Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.
           Tiễn đưa một chén quan hà,
    Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.
           Sông Tần một dải xanh xanh,
    Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan.
           Cầm tay dài ngắn thở than,
    Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời.
           Nàng rằng: "Non nước xa khơi,
    Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.
           Dễ lòa yếm thắm, trôn kim, 
    Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng!
          Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
    Đến nhà, trước liệu nói sòng cho minh.
          Dù khi sóng gió bất bình,
    Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi.
          Hơn điều giấu ngược giấu xuôi,
    Lại mang những tiếng tày trời đến sau.
          Thương nhau xin nhớ lời nhau,
    Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy!
          Chén đưa nhớ bữa hôm nay, 
    Chén mừng xin đợi bữa này năm sau!"
          Người lên ngựa, kẻ chia bào,
    Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.
          Dặm hồng bụi cuốn chinh an, 
    Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
          Người về chiếc bóng năm canh,
    Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
          Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
    Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

                                   (Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?

Câu 3. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ dưới đây.

        Người về chiếc bóng năm canh,
   Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên là gì?

Câu 5. Hãy đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do. 

35
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản

Đoạn trích được viết bằng thể thơ lục bát (6 – 8) đặc trưng của Truyện Kiều, gắn với truyền thống văn học dân tộc.


Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?

Đoạn trích kể về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa Thúy Kiều và Kim Trọng trước khi chàng lên đường đi thi, thể hiện nỗi đau, niềm tiếc nuối và tình cảm sâu nặng của đôi lứa.


Câu 3. Xác định và nêu tác dụng biện pháp tu từ

Hai câu:

Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

  • Biện pháp tu từ: so sánh, hình ảnh tượng trưng.
  • Tác dụng: nhấn mạnh nỗi xa cách, cô đơn, thương nhớ; diễn tả không gian và thời gian cách biệt giữa hai người.

Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản

Cảm hứng chủ đạo là tình yêu thủy chung, nỗi thương nhớ và nỗi đau chia ly của đôi lứa trước những thử thách của số phận.


Câu 5. Đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do

Gợi ý nhan đề: Cuộc chia tay lưu luyến của Thúy Kiều và Kim Trọng.

  • Lí do: Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích, làm nổi bật tình cảm sâu nặng và bi kịch chia ly giữa hai nhân vật.
24 tháng 12 2025

Câu 1.

-Thể thơ: Lục bát.

Câu 2.

-Sự việc được kể: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.

Câu 3.

-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là biện pháp tu từ đối:
“Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.”

-Tác dụng: Biện pháp đối làm nổi bật sự chia lìa đầy đau xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời nhấn mạnh cảm giác thời gian lê thê, không gian xa vời vợi, diễn tả nỗi cô đơn, trống trải của cả người ở lại lẫn kẻ ra đi.

Câu 4.

Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là niềm cảm thương, xót xa của tác giả trước khát vọng hạnh phúc nhỏ bé nhưng mong manh, bấp bênh và đầy bất trắc của Thúy Kiều, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Truyện Kiều.

Câu 5.

-Nhan đề mà em sẽ chọn là : “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều”

Giải thích:
Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích là cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời gợi lên nỗi buồn chia phôi, đau đớn, cô đơn của đôi lứa trước biến cố tình duyên, góp phần làm nổi bật giá trị nội dung và cảm xúc của văn bản.