K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

CHƠI PHÚ QUỐC

Con tàu từ từ rẽ sóng... tiến lên. Đã ba tiếng đồng hồ rồi, chúng tôi lênh đênh ở biển khơi bát ngát. Trông ra quanh mình toàn một màu xanh nhạt, mặt nước liền chân mây. Thỉnh thoảng, một vài cù lao loáng thoáng ở chỗ mênh mông trời nước. Về phía tây, rặng núi Tà Lơn bệ vệ nằm dài trong mây khói. Đảo Phú Quốc. Một vệt xanh xanh to lớn nằm chắn ngang phía trước, mây toà lờ mờ, như dán dính với da trời... Đảo Phú Quốc! Cảnh bấy lâu trong mộng tưởng thì kìa đã hiện ra trước mắt.

Con tàu từ từ rẽ sóng... tiến lên. Tiếng sóng vỗ vào bệ tàu như một khúc nhạc hùng hồn oanh liệt. Chúng tôi cảm thấy lòng sung sướng, mạnh mẽ. Tựa vào bệ tàu, đăm đăm tôi ngó về phía trước: Nước biển một màu xanh bóng như dầu lụt chân mây. Hôm nay trời râm mát, mấy đám mây đen lơ lửng bóng tối, tưởng tượng như con chim đại bàng to lớn xoè đôi cánh bay lướt qua biển Nam Minh.

Con tàu từ từ rẽ sóng... tiến lên. Cảnh mờ mờ dần dần xô lùi lại. Bấy giờ đã thấy rõ ràng màu cây lá xanh biếc gần với màu nước biển xanh dờn, một vệt cát trắng chạy dài ở giữa. Hàm Ninh đã ở trước mặt. Tàu không áp bờ được vì bờ còn xa.

Quận lị Phú Quốc ở Dương Đông. Dương Đông ở về phía bên tây đảo. Về mùa này, sóng to gió lớn, tàu thuyền vô cửa bất tiện nên phải đỗ ở đây rồi đáp ô tô qua Dương Đông. Ngồi trên ca nô dòm xuống: nước trong như lọc, thấy tận đáy, những con chang chang sứa biển ngo ngoe đang bò, chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thuỷ tinh. Gần mé bãi, trên giàn cây của người thuyền chài cắm để phơi lưới, một đàn chim nhạn đậu ríu rít rỉa lông, nghe tiếng chèo bơi bì bõm, giật mình cất cánh một loạt bay vù.

Đến bờ đã có ô tô đón sẵn. Chúng tôi đáp xe qua Dương Đông. Con đường quan lộ tuy chẳng được khang trang rộng rãi lắm, nhưng được cái sạch sẽ sáng sủa.

Xe chạy độ non một tiếng đồng hồ thì đến Dương Đông. Tính ra cuộc hành trình mất sáu tiếng đồng hồ chẵn. Sáu giờ sáng, khởi hành ở Hà Tiên, 12 giờ trưa đã ở Dương Đông rồi! Nhớ lại những chuyện nguy hiểm khó khăn của người đi biển bằng thuyền buồm nói lại mà chúng tôi lấy làm sung sướng quá. Trong sáu tiếng đồng hồ đi một cách bình yên mà đã được trải qua cái cảnh bềnh bồng trên mặt biển, được hít thở cái không khí thanh tân man mác chốn biển khơi, và được trông thấy bao nhiêu cảnh vật thanh kì ở chốn trời nước gió mây thần tiên xa lạ, đối với cái đời êm lặng kín đáo của người con gái ở chốn buồng khuê, thật là một dịp may đặc biệt.

Dương Đông ở về phía tây đảo Phú Quốc, một dải đất màu mỡ, cây cỏ xanh tươi, nhà cửa ở chen chúc nhau, một con sông xinh xinh chắn đôi, mơn man chảy trong lòng cát trắng.

Cơm nước nghỉ ngơi xong, chiều lại rủ nhau đi tắm biển. Bãi cát trắng phau, chạy dài hàng mấy nghìn thước. Ngoài khơi xa, lác đác mấy chiếc thuyền đánh cá, cánh buồm trắng in vào đám mây hồng. Bên rặng núi mờ xanh, nhởn nhơ đàn nhạn lạc, tạc thành một bức tranh ảnh khổng lồ tuyệt đẹp.

Chúng tôi nô giỡn với làn sóng bạc trong khoảng trời nước mênh mông thoải thích. Bỗng một đám mây đen kéo đến phá cuộc vui chơi. Sắp có mưa. Cả bọn cùng dắt nhau về. Đến nhà thì trời mưa vừa lấm tấm đổ hạt. Trời tối. Mưa vừa ngớt hạt thì chúng tôi lại ra đi.

Chúng tôi đi trong các ngõ đường để xem cảnh đêm nơi hòn bãi. Trăng mười một. Đêm mờ, sương lạnh, ở đây thật có cái vẻ tĩnh mịch vô cùng. Trên mặt biển, lác đác có những thuyền con đi "thẻ" mực, ánh đèn soi xuống đáy nước, xa trông lấp lánh như gương. Người ở đây làm việc thật không mấy lúc nghỉ ngơi, những việc nặng nhọc thì làm về ban ngày, còn những việc nhẹ nhàng thì làm về buổi tối. Dưới ngọn đèn mờ, người vá lưới, kẻ chuốt mây, vừa làm vừa chuyện vãn, trông có vẻ sung sướng, ung dung, an vui về công việc.

Trời sáng. Không được cái cảnh bình minh trong trẻo như lòng ao ước đêm rồi. Trời lấm tấm mưa. Mặc gió mưa, vì không lẽ để lỡ cuộc đi chơi nên sau khi điểm tâm xong và đi dạo qua một vòng chợ, chúng tôi khởi hành. Suối Đá ở trên con đường Hàm Ninh – Dương Đông. Con đường này hôm qua đã có đi rồi, nhưng ngồi xe, nên không xem ngắm được phong cảnh hai bên.

Cũng con đường này hôm qua, thì cây cỏ như vô tình, mà hôm nay cảnh vật dường như hữu ý đón chào. Đi độ hơn cây số thì đến giếng Tiên. Giếng Tiên, huyền diệu lạ lùng như cái tên của nó, là một vũng nước nhỏ cạn ở kề liền bờ sông nước mặn, mà nước vẫn ngon ngọt và đầy tràn luôn. Bỏ qua về khoa học, thì nó có tính cách thần tiên huyền diệu như thế, nên gọi là giếng Tiên vậy.

Từ giếng Tiên đến suối Đá còn hơn ba cây số nữa, thỉnh thoảng có một cái vườn tiêu, còn hai bên toàn là rừng sim cả. Chúng tôi từng được nghe nói lại cái thú mùa sim đi hái trái: cái thú vui vẻ nên thơ lắm, trên cành nặng trĩu trái cây, điểm có mấy chùm hoa nở muộn trắng trắng hồng hồng. Đây một cô bé xinh tay mang giỏ tay hái trái, nét mặt ngây thơ hớn hở; kia một người thiếu phụ luẩn quẩn dưới gốc cây, nét mặt vô tư lự ở giữa chốn bông trái đầy rẫy nhẹ nhàng uốn éo, rồi cất tiếng hát ca véo von êm ái. Giờ phút ấy tưởng như đã lạc loài vào chốn rừng tiên cảnh lạ.

Nghe nói mà thích quá, những ước ao được một dịp đi hái sim. Nhưng nay đây, mùa này, thì chỉ có cành không trơ trọi thổi qua một ngọn gió vô tình.

Hôm nay trời râm mát, nên đi đường dễ chịu lắm. Lại hai bên toàn là cảnh đẹp, mải xem ngắm mà quên mỏi chân. Cái chân được cha mẹ "cũng" không mấy khi để dẫn trên đường cát bụi. Nghĩ cái lòng thương con của cha mẹ thật là vô cùng, không nói cái lòng thương đó nên như thế hay không nên như thế.

(Theo Mộng Tuyết, Báo Nam Phong, số 188, ngày 16-6-1934)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Văn bản "Chơi Phú Quốc" thuộc kiểu văn bản gì?

Câu 2. Khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh nào đã gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước biển?

Câu 3. Xác định ngôi kể của văn bản "Chơi Phú Quốc". Việc sử dụng ngôi kể này có tác dụng gì?

Câu 4. Tác giả đã nhắc đến những hoạt động gì của người dân Phú Quốc? Những hoạt động đó cho thấy điều gì về cuộc sống của họ?

Câu 5. Qua văn bản "Chơi Phú Quốc", em rút ra những bài học gì về ý nghĩa của việc trải nghiệm, khám phá những vùng đất mới? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)

51
13 tháng 11 2025

Câu 1.

Văn bản “Chơi Phú Quốc” thuộc kiểu văn bản nhật ký – bút ký du lịch (văn bản tự sự – miêu tả, ghi chép cảm xúc và trải nghiệm thực tế trong một chuyến đi).


Câu 2.

Khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả là:

“Nước trong như lọc, thấy tận đáy, những con chang chang sứa biển ngo ngoe đang bò, chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thuỷ tinh.”

→ Hình ảnh này cho thấy nước biển Phú Quốc trong vắt, tinh khiết và đầy sức sống.


Câu 3.

  • Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (người kể xưng “tôi”, “chúng tôi”).
  • Tác dụng: Giúp lời kể trở nên chân thực, sinh động, thể hiện trực tiếp cảm xúc, cảm nhận cá nhân của người viết về phong cảnh và con người Phú Quốc, khiến người đọc cảm thấy gần gũi và tin cậy hơn.

Câu 4.

  • Những hoạt động của người dân Phú Quốc:
    • Ban ngày: đánh cá, phơi lưới, làm việc nặng nhọc.
    • Ban đêm: vá lưới, chuốt mây, đi “thẻ” mực, chuyện trò.

→ Các hoạt động đó cho thấy người dân nơi đây cần cù, chăm chỉ, yêu lao động, dù vất vả nhưng vẫn vui vẻ, an nhiên trong cuộc sống.


Câu 5.

Qua văn bản “Chơi Phú Quốc”, em hiểu rằng việc trải nghiệm và khám phá những vùng đất mới giúp con người mở mang hiểu biết, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống, đồng thời trân trọng công sức lao động của con người. Những chuyến đi còn giúp ta biết yêu quê hương đất nước hơnbồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc.

13 tháng 11 2025

Câu 1:

Văn bản “Chơi Phú Quốc” thuộc kiểu văn bản nhật ký – kí sự (ký du lịch, bút kí), ghi chép lại hành trình và cảm xúc của tác giả trong chuyến đi thăm đảo Phú Quốc.


Câu 2:

Khi đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả là nước biển trong như lọc, thấy tận đáy, nhìn rõ cả những con chang chang, sứa biển đang bò. Hình ảnh ấy thể hiện sự trong lành, tinh khiết của biển Phú Quốc.


Câu 3:

Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (“chúng tôi”, “tôi”).
→ Tác dụng: giúp người đọc cảm nhận được trực tiếp cảm xúc, ấn tượng chân thật, sinh động của người viết về cảnh vật và con người nơi đảo Phú Quốc.


Câu 4:

Tác giả nhắc đến các hoạt động của người dân Phú Quốc như: đánh cá, vá lưới, chuốt mây, phơi lưới, đi thẻ mực về đêm...
→ Những hoạt động đó cho thấy người dân nơi đây cần cù, chịu khó, yêu lao động và có cuộc sống thanh bình, yên vui bên biển đảo quê hương.


Câu 5:

Qua văn bản “Chơi Phú Quốc”, em nhận ra rằng việc đi đến và khám phá những vùng đất mới giúp ta mở mang hiểu biết, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và con người ở nhiều nơi khác nhau. Qua trải nghiệm, ta biết thêm trân trọng quê hương, yêu thiên nhiên và có thêm nhiều bài học quý về cuộc sống, con người Việt Nam.

13 tháng 11 2025

Câu 1. Văn bản "Chơi Phú Quốc" thuộc kiểu văn bản gì? Văn bản "Chơi Phú Quốc" thuộc kiểu văn bản du kí, ghi lại hành trình và cảm xúc của tác giả trong chuyến đi đến Phú Quốc.

13 tháng 11 2025

Câu 2. Khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh nào đã gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước biển? Khi đến Hàm Ninh, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả là nước biển "trong như lọc, thấy tận đáy", đến mức tác giả có thể thấy rõ "những con chang chang sứa biển ngo ngoe đang bò" và gọi đó là "cái thế giới thuỷ tinh".

13 tháng 11 2025

Câu 3. Xác định ngôi kể của văn bản "Chơi Phú Quốc". Việc sử dụng ngôi kể này có tác dụng gì?

- Ngôi kể: Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất, với người kể xưng "tôi" và "chúng tôi".

- Tác dụng: Việc sử dụng ngôi kể thứ nhất giúp tác giả bộc lộ trực tiếp những cảm xúc, suy nghĩ, và đánh giá của cá nhân mình về chuyến đi ("lòng sung sướng, mạnh mẽ", "lấy làm sung sướng quá"). Điều này làm tăng tính chân thực, gần gũi cho câu chuyện, khiến người đọc như được đồng hành và trải nghiệm chuyến đi cùng tác giả.

13 tháng 11 2025

Câu 4. Tác giả đã nhắc đến những hoạt động gì của người dân Phú Quốc? Những hoạt động đó cho thấy điều gì về cuộc sống của họ?

- Hoạt động của người dân: Tác giả nhắc đến các hoạt động gắn liền với biển như: phơi lưới, đánh cá, đi "thẻ" mực (ban đêm), vá lưới, chuốt mây.

➙ Điều đó cho thấy: Những hoạt động này cho thấy người dân Phú Quốc có cuộc sống gắn bó mật thiết với biển, chủ yếu sống bằng nghề chài lưới. Họ là những người cần cù, chăm chỉ, làm việc không quản ngày đêm ("không mấy lúc nghỉ ngơi"). Dù vất vả, họ vẫn "sung sướng, ung dung, an vui về công việc", thể hiện sự lạc quan và yêu mến cuộc sống lao động của mình.

13 tháng 11 2025

Câu 5. Qua văn bản "Chơi Phú Quốc", em rút ra những bài học gì về ý nghĩa của việc trải nghiệm, khám phá những vùng đất mới? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)


Qua văn bản, em nhận thấy việc trải nghiệm, khám phá những vùng đất mới mang lại ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó không chỉ giúp chúng ta mở mang tầm mắt, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước ("cảnh vật thanh kì") mà còn mang lại niềm vui, sự hứng khởi ("sung sướng, mạnh mẽ"). Quan trọng hơn, những chuyến đi cho ta cơ hội thấu hiểu về những cuộc sống khác, trân trọng hơn sự đa dạng văn hoá và con người ở mỗi miền đất.

23 tháng 12 2025

Jxbhzb

23 tháng 12 2025

câu 1: thuộc văn bản lục bác

23 tháng 12 2025

Câu một 1:

- thể loại: kí,du kí




23 tháng 12 2025

Câu1: thuộc thể loại du kí

Câu2: hình ảnh “nước trong như lọc, thấy tận đáy”

Câu3: dùng ngôi kể thứ nhất. Có tác dụng tạo cảm giác chân thực, giúp tác giả dễ bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ và tình cảm tinh tế của tác giả trước cảnh vật Phú Quốc

Câu4: đánh cá / thẻ mực vào ban đêm. Những hoạt động ấy cho thay người Phú Quốc sống chủ yếu bằng nghề biển

Câu5: Qua văn bản “Chơi Phú quốc” em rút ra những bài học về việc mở rộng hiểu biết, trân trọng thiên nhiên và cuộc sống

23 tháng 12 2025

Thuộc

23 tháng 12 2025

câu 1

văn bản "Chơi Phú Quốc " thuộc kiểu văn bản du kí

23 tháng 12 2025

câu 1:

Văn bản " Chơi Phú Quốc" thuộc kiểu văn bản du kí.

câu 2:

Khi đặt chân lên bãi biển Hàm Ninh , hình ảnh gấy ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước biển là " nước trong như nước lọc , thấy tận đáy , những con chang chang , sứa biển ngo ngoe đang bò , chúng nó sinh hoạt trong vái thế giới thủy tinh"

Câu 3:

-Văn Bản "Chơi Phú Quốc" sử dụng ngôi kể thứ nhất số nhiều ,người kể chuyện xưng "chúng tôi"

-tác dụng của việc sử dụng ngôi kể thứ nhất :

+Giúp người đọc cảm nhận được câu chuyện một cách chân thực , gần gũi như đang cùng tác giả trải nghiệm.

+Thể hiện trực tiếp cảm xúc, suy nghĩ của nhóm người trải nghiệm , làm cho bài viết trở nên sinh động và có hồn hơn.

câu 4:

-Những hoạt động của người Phú Quốc được nhắc đến trong văn bản:

+Đánh Cá.

+Phơi lưới.

+Đi "thẻ" mực vào ban đêm.

+vá lưới , chuốt mây vào buổi tối.

+hái trái sim.

-Cuộc sống của những người dân Phú Quốc :

+ Cuộc sống của người dân Phú Quốc gắn liền với biển cả và thiên nhiên , họ làm việc chăm chỉ , cần cù từ sáng đến đêm khuya cả những công việc nặng nhọc lẫn nhẹ nhàng.

+Người dân vẫn tìm thấy niềm vui , sự sung sướng , ung dung , an vui trong công việc và cuộc sống của mình.

Câu 5:

Học Sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của việc trải nghiệm, Khám phá những vùng đất mới :

-Trải nghiệm giúp ta mở mang tầm mắt , hiểu biết thêm nhiều cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước .

-Khám phá vùng đất mới đem lại những cảm xúc mới mẻ ,hứng khởi , và niềm vui trong cuộc sống.

-Hành trình trải nghiệm giúp ta thêm trân trọng vẻ đẹp quê hương đất nước và còn người lao động.

-Những hành trình trải nghiệm là cơ hội để rèn luyện sự quan sát , cảm nhận , bồi dưỡng tâm hồn vào tình yêu cuộc sống.

23 tháng 12 2025

Câu 1

Văn bản chơi phú Quốc là kiểu văn bản du kí

23 tháng 12 2025

Câu 1: thuộc kiểu văn bản du kí

Câu 2 :

23 tháng 12 2025

Câu1:Văn bản thuộc văn du kí

Câu2: hình ành gây ấn tượng với tác giả là " nước trong như nước lọc,thấy tận đáy những con chang chang sữa biển ngo ngoe đang bò,chúng nó sinh hoạt trong thế giới thủy tinh."

Câu3: Văn bản "Chơi Phú Quốc"sử dụng ngôi kể thứ nhất số nhiều,người kể chuyện xưng tôi

-tác dụng giúp người đọc cảm nhận được câu chuyện trân thực

Câu4: hoạt động của người dân phú Quốc là: đánh cá,phơi lưới,đi thẻ mực vào ban đêm,vá lưới,hái trái sim.






23 tháng 12 2025

1: văn bản " Chơi Phú Quốc" thuộc thể văn du kí. 2: Khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước biển là "nước trong như nước lọc , thấy tận đáy , những con chang chang sứa biển ngo ngeo lên bò , chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thủy tỉnh.". 3.

- Văn bản "Chơi Phú Quốc" ngôi kể thứ nhất số nhiều , người kể chuyện xưng " chúng tôi ".

-Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể thứ nhất:

+ Giúp người đọc cảm nhận câu chuyện một cách chân thực, gần gũi như đang cùng tác giả trải nghiệm

+ Thể hiện trực tiếp cảm xúc , suy nghĩ của nhóm người trải nghiệm,làm cho bà gia viết trở nên sinh động và có hồn hơn

Câu 4 :

- những hoạt động của người dân Phú Quốc được nhắc đến trong bài văn là : Phơi lưới,đánh cá,đi thẻ mực vào bạn đêm,vá lưới,hái sim

- Cuộc sống của người dân Phú Quốc gắn liền với biển cả và thiên nhiên.Người dân tìm thấy niềm vui trong công việc và cuộc sống của mình

Câu 5 :

Ý nghĩa của việc trải nghiệm là giúp ta mở mạng tầm mắt,biết đến nhiều cảnh đẹp của thiên nhiên liệu đất nước.Đêm lại cảm xúc mới mẻ hứng khởi niềm vui trong cuộc sống.Giúp ta thêm trân trọng vẻ đẹp quê hương.




24 tháng 12 2025

Câu 1.

-Văn bản "Chơi Phú Quốc"thuộc kiểu văn bản du kí.

-Khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh,hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước là "nước trong như nước lọc,thấy tận đáy,những con chang chang sứa biển ngo ngoe đang bò,chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thủy tinh.".

Câu 2.

- Văn bản"Chơi Phú Quốc"sử ngôi kể thứ nhất .

-Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể thứ nhất.

+Giúp người đọc cảm nhận được câu chuyện một cách chân thực , gần gũi như đang cùng tác giả trải nghiệm .

+ Thể hiện trực tiếp cảm xúc , suy nghĩ của nhóm người trải nghiệm , làm cho bài viết trở nên sinh động và có hồn hơn .

Câu .3

- Những hoạt động của người dân Phú Quốc :

+ Đánh cá .

+ Phơi lưới .

+ Đi " thẻ " mực vào ban đêm.

+Hái trái sim.

Câu.4

- Cuộc sống của người dân Phú Quốc gắn liền với biển cả và thiên nhiên,họ làm việc chăm chỉ , cần cù từ sáng đến đêm khuya cả những công việc nhẹ nhành đến nặng nhọc.

Câu 5

- Người dân vẫn tìm thấy niềm vui,sự sung sướng,ứng dụng,ăn vui trong công việc và cuộc sống của mình .

- Trải Nghiệm giúp ta mở mang tầm mắt , hiểu biết thêm nhiều cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước .

24 tháng 12 2025

Câu 1. 

Văn bản "Chơi Phú Quốc" thuộc kiểu văn bản du kí.

Câu 2. 

Khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước biển là "nước trong như nước lọc, thấy tận đáy, những con chang chang sứa biển ngo ngoe đang bò, chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thủỷ tinh."

Câu 3. 

- Văn bản "Chơi Phú Quốc" sử dụng ngôi kể

thứ nhất số nhiều, người kể chuyện xưng

"chúng tôi".

- Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể thứ nhất:

+ Giúp người đọc cảm nhận được câu chuyện một cách chân thực, gần gũi như đang cùng tác giả trải nghiệm.

+ Thể hiện trực tiếp cảm xúc, suy nghĩ của nhóm người trải nghiệm, làm cho bài viết trở nên sinh động và có hồn hơn.

Câu 4. 

- Những hoạt động của người dân Phú Quốc được nhắc đến trong văn bản:

+ Đánh cá.

+ Phơi lưới.

+ Đi "thẻ" mực vào ban đêm.

+ Vá lưới, chuốt mây vào buổi tối.

+ Hái trái sim.

- Cuộc sống của những người dân Phú Quốc:

+Cuộc sống của người dân Phú Quốc găn liền với biển cả và thiên nhiên, họ làm việc chăm chỉ, cần cù từ sáng đến đêm khuya cả những công việc nặng nhọc lẫn nhẹ nhàng.

+ Người dân vẫn tìm thấy niềm vui, sự sung sướng, ung dung, an vui trong công việc và cuộc sống của mình.

Câu 5. 

Học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của việc trải nghiệm, khám phá những vùng đất mới. Gợi ý:

  • Trải nghiệm giúp ta mở mang tầm mắt, hiểu biết thêm nhiều cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước.
  • Khám phá vùng đất mới đem lại những cảm xúc mới mẻ, hứng khởi và niềm vui trong cuộc sống.
  • Hành trình trải nghiệm giúp ta thêm trân trọng vẻ đẹp quê hương, đất nước và con người lao động.
  • Những hành trình trải nghiệm là cơ hội đế rèn luyện sự quan sát, cảm nhận, bôi dưỡng tâm hồn và tình yêu cuộc sống.
24 tháng 12 2025

Câu 1:văn bản "Chơi Phú Quốc" thuộc kiểu văn du kí

Câu 2: khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước biển là"nước trong như nước lọc, thấy tận đáy, những con chang chang sứa biển ngo ngoe đang bò,chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thủy tinh

Câu 3: văn bản " Chơi Phú Quốc" sử dụn

24 tháng 12 2025

HoàngVuThienBao yeu v i t

25 tháng 12 2025

Câu 1:Văn bản “Chơi Phú Quốc” thuộc kiểu văn bản du kí.

câu2Khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước biển là “nước trong như nước lọc, thấy tận đáy, những con chang chang sứa biển ngo ngoẹ đang bò, chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thuỷ tinh.

Câu 3–

Văn bản “Chơi Phú Quốc” sử dụng ngôi kể thứ nhất số nhiều, người kể chuyện xưng “chúng tôi”.

Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể thứ nhất
Giúp người đọc cảm nhận được câu chuyện một cách chân thực, gần gũi như đang cùng tác giả trải nghiệm

Thể hiện trực tiếp cảm xúc, suy nghĩ của nhóm người trải nghiệm, làm cho bài viết trở nên sinh động và có hồn hơ

Caau 4Những hoạt động của người dân Phú Quốc được nhắc đến trong văn bản:


  • Đánh cá.
  • Phơi lưới.
  • Đi “thẻ” mực vào ban đêm.
  • Vá lưới, chuốt mây vào buổi tối.
  • Hái trái sim.



– Cuộc sống của những người dân Phú Quốc:


  • Cuộc sống của người dân Phú Quốc gắn liền với biển cả và thiên nhiên, họ làm việc chăm chỉ, cần cù từ sáng đến đêm khuya cả những công việc nặng nhọc lẫn nhẹ nhàng.
  • Người dân vẫn tìm thấy niềm vui, sự sung sướng, ung dung, an vui trong công việc và cuộc sống của mình.


Câu 5

18 tháng 1

Câu 1 phú quôc

26 tháng 12 2025

Chơi phú quốc thuộc kiểu văn bản du kí


27 tháng 12 2025

Văn bản “ Chơi Phú Quốc" thuộc văn bản kí

27 tháng 12 2025

Văn bản(Chơi Phú Quốc)thuộc kiểu văn bản du kí

27 tháng 12 2025

Câu 1.thuộc kiểu văn du kí

27 tháng 12 2025

Phú quốc thuộc kiểu văn bản du kí

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau: NGHE THẦY ĐỌC THƠ     Em nghe thầy đọc bao ngàyTiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà      Mái chèo nghiêng mặt sông xaBâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa      Nghe trăng thở động tàu dừaRào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời     Đêm nay thầy ở đâu rồiNhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe… (Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

NGHE THẦY ĐỌC THƠ

     Em nghe thầy đọc bao ngày

Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà

      Mái chèo nghiêng mặt sông xa

Bâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa

      Nghe trăng thở động tàu dừa

Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời

     Đêm nay thầy ở đâu rồi

Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe…

(Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hoá dân tộc, 1999)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Chỉ ra các tiếng hiệp vần với nhau trong hai dòng thơ sau:

     Đêm nay thầy ở đâu rồi

Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe…

Câu 3. (1.0 điểm) Biện pháp tu từ nhân hoá trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" đem lại tác dụng gì?

Câu 4. (1.0 điểm) Hình ảnh quê hương hiện lên như thế nào khi thầy đọc thơ?

Câu 5. (1.0 điểm) Em thích hình ảnh nào nhất trong bài thơ? Vì sao?

13
24 tháng 12 2025

Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"

Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:

- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.

- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.

- Gợi lên tình cảm thầy trò.

Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.

Câu 1: Thể thơ Lục Bát

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM) Tôi là đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo. Mùa xuân đến, từ trên cánh tay và mái tóc của mẹ, từng nụ hoa dẻ nhú ra như quả cầu xanh có tua gai nhỏ. Rồi hoa lớn dần thành những trái dẻ xù xì gai góc. Anh chị em chúng tôi ra đời như thế đó. Chúng tôi lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông. Những cơn mưa ào đến...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Tôi là đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo.

Mùa xuân đến, từ trên cánh tay và mái tóc của mẹ, từng nụ hoa dẻ nhú ra như quả cầu xanh có tua gai nhỏ. Rồi hoa lớn dần thành những trái dẻ xù xì gai góc. Anh chị em chúng tôi ra đời như thế đó.

Chúng tôi lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông. Những cơn mưa ào đến gội ướt đẫm tóc mẹ và tắm mát cho chúng tôi. Nắng làm bỏng rát cả làn da và mái tóc của mẹ.

Khi thu về, trái dẻ khô đi, lớp áo gai đã chuyển sang màu vàng cháy. Hạt dẻ căng tròn làm nứt bung cả tấm áo gai xù đã quá chật chội. Tôi vẫn nằm im trong lớp áo gai xù, nép vào một cánh tay của mẹ. Tôi chẳng muốn chui khỏi tấm áo ấm áp, an toàn đó chút nào.

Nhưng rồi những ngày thu êm ả cũng trôi qua. Gió lạnh buốt bắt đầu thổi ù ù qua khu rừng. Gió vặn vẹo những cánh tay dẻo dai của mẹ. Gió lay giật tấm thân vững chãi của mẹ. Nhưng mẹ vẫn bền gan đứng trên sườn núi cheo leo.

Khi mùa đông đến, tôi cứ thu mình mãi trong tấm áo gai xù ấm áp của họ nhà dẻ gai và nép mãi vào tay mẹ, tóc mẹ. Tôi sợ phải xa mẹ, sợ phải tự sống một mình. Tôi sợ những gì lạ lẫm trong rừng già. Nhưng tôi nghe tiếng mẹ thì thầm:

– Bé Út của mẹ, con nhỏ nhất nhà so với các anh chị nhưng con cũng đã lớn rồi đấy. Con là một bé dẻ gai rất khoẻ mạnh. Hãy dũng cảm lên nào, con sẽ bay theo gió và sẽ trở thành một cây dẻ cường tráng trong cánh rừng này nhé!

Tôi cố quẫy mình… Tấm áo gai dày và ấm bất chợt bung ra. Và tôi nhìn rõ cả cánh rừng già, cả sườn núi cao, cả bầu trời mây gió lồng lộng ào ạt trôi trên đầu mẹ. Hoá ra tôi là trái dẻ cuối cùng đang nép trên cánh tay vươn cao nhất của mẹ. Mẹ đưa tay theo chiều gió và thì thầm với riêng tôi: “Tạm biệt con yêu quý, hạt dẻ bé bỏng nhất của mẹ. Dù thế nào con cũng sẽ lớn lên, hãy dũng cảm và đón nhận cuộc sống mới nhé!”.

Tôi bỗng thấy mình bay nhẹ theo làn gió, tung mình vào khoảng không bao la rồi rơi êm xuống thảm lá ấm sực của rừng già… “Tạm biệt mẹ! Con yêu mẹ!” – tôi gọi với theo gió trước khi chìm vào giấc ngủ đông ấm áp. Và tôi mơ…

(Theo Phương Thanh Trang, trích Câu chuyện của hạt dẻ gai, tạp chí Văn học và tuổi trẻ, số 12 (465), 2020)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. (0.5 điểm) Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong hoàn cảnh như thế nào?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra 02 từ láy có trong văn bản trên và giải thích nghĩa của các từ vừa tìm được.

Câu 4. (1.0 điểm) Nhân vật “tôi” thể hiện những đặc điểm gì của nhân vật trong truyện đồng thoại?

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ văn bản trên?

15
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.

Câu 2.

Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông (điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt).

Câu 3.

Hai từ láy trong văn bản:

  • xù xì: chỉ bề mặt thô ráp, không nhẵn.
  • chật chội: chật, gây cảm giác bức bối, khó chịu.

Câu 4.

Nhân vật “tôi” (hạt dẻ gai) mang đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại:

  • Vừa mang đặc điểm của loài vật/thực vật (có vỏ xù xì, gai góc).
  • Vừa mang đặc điểm của con người: biết suy nghĩ, cảm xúc, lo sợ, được mẹ an ủi (nhân hoá).

Câu 5.

Bài học rút ra:

Muốn trưởng thành, mỗi người cần dũng cảm rời vòng tay che chở, tin vào bản thân và sẵn sàng đối diện với thử thách trong cuộc sống.


18 tháng 12 2025

Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại

Câu 2: Theo văn bản ,những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa ,mưa dông

Câu 3: Hai từ láy là :"xù xì", "chật chội"

-Nghĩa của từ "chật chội": chật, gây nên cảm giác bức bối khó chịu

- Nghĩa của từ "xù xì": bù xù, gây nên cảm giác khó chịu

Câu 4: Nhân vật tôi ( dẻ gai) là mội loài thực vật , vừa mang đặc điểm của lòa vật vừa mang đặc điểm của con người  (được nhân các hóa)

Câu 5: Qua bài đọc em rút ra được bài học là : Muốn trưởng thành, ta phải dũng cảm bước ra khỏi vòng tay che  chở, tin vào bản thân, sẵn sàng đối diện với thử thách

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:    Lặng rồi cả tiếng con veCon ve cũng mệt vì hè nắng oi.    Nhà em vẫn tiếng ạ ờiKẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.   Lời ru có gió mùa thuBàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.    Những ngôi sao thức ngoài kiaChẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.     Đêm nay con ngủ giấc trònMẹ là ngọn gió của con suốt đời. (Mẹ, Trần...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

    Lặng rồi cả tiếng con ve

Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.

    Nhà em vẫn tiếng ạ ời

Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.

   Lời ru có gió mùa thu

Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.

    Những ngôi sao thức ngoài kia

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

     Đêm nay con ngủ giấc tròn

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

(Mẹ, Trần Quốc Minh)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. (0.5 điểm) Bên cạnh tiếng ve, những âm thanh nào xuất hiện trong văn bản trên?

Câu 3. (1.0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai dòng thơ sau:

    Những ngôi sao thức ngoài kia

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

Câu 4. (1.0 điểm) Nêu nhận xét của em về hình ảnh người mẹ trong văn bản trên.

Câu 5. (1.0 điểm) Theo em, lời ru của mẹ có vai trò như thế nào trong cuộc sống của mỗi chúng ta?

11
17 tháng 12 2025

Íhdhdhfgfhfhfj

16 tháng 2

CÂU1:Thơ lục bát

CÂU2:BÊN CẠNH TIẾNG VE , NHỮNG ÂM THANH SAU XUẤT HIỆN TRONG VĂN BẢN: TIẾNG VÕNG, TIẾNG MẸ RU..

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:HƯƠNG HOA HOÀNG LAN Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

HƯƠNG HOA HOÀNG LAN

Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn cây hoàng lan, nó như một cậu anh cả trong vườn, to lớn, vững chắc…

– Bà ơi, cây hoàng lan này có lâu chưa bà?

Bà cười, tay bà vẫn cẩn thận gài những nhành cây nhót phủ đầy hoa trắng ngà vào hàng rào:

– Nó có từ lâu lắm, hồi bằng các cháu, bà đã thấy nó to và cao như thế này rồi. Bao năm trôi qua, cứ tưởng nó sẽ già đi, nhưng không, mỗi mùa xuân tới nó lại trẻ trung như hồi nào.

– Bà ơi, thế bà có biết ai trồng nó không hả bà? Bà lắc đầu:

– Hồi trước, bà cũng hỏi như cháu ấy, nhưng chẳng ai biết.

Hà đến bên cây hoàng lan, thân nó mốc thếch và nứt nẻ. Những chú kiến đen hối hả leo cây. Từ trên cành cây cao, đôi chim sâu chuyền cành tíu tít.

– Cháu biết không, cứ mỗi dịp cây hoàng lan ra hoa thì cả vùng này thơm nức…

– Bà ơi, bên kia sông có ngửi thấy hương của cây hoàng lan này không? – Hà tò mò hỏi.

– Có chứ! Hương hoa lan còn bay xa hơn nữa cháu ạ.

– Xa nữa cơ ạ? Con sông rộng thế mà gió cũng đưa nó qua sông được bà nhỉ…

Bà dừng tay, đôi mắt nhìn xa xôi:

– Hồi ông đi bộ đội, thư nào về ông cũng hỏi cây hoàng lan. Ông nhớ nó lắm. Rồi ông bảo bà gửi cho ông mấy cánh hoa vàng của cây hoàng lan này.

– Bà có gửi cho ông không? – Hà chăm chú. Bà gật đầu rồi dắt Hà vào nhà. Bà lần mở cái rương mây nhỏ trên đầu giường và lấy ra mấy cánh hoa đã héo quắt queo và đen sẫm lại.

– Những cánh hoa này đấy cháu ạ. Các chiến sĩ trong đơn vị đã tìm thấy nó ở dưới đáy ba lô của ông… Hà run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà. Cô bé ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ. Hà thấy bà cũng nhìn theo… Bây giờ thì cô bé đã hiểu vì sao bà yêu quý cây hoàng lan và mảnh vườn này đến thế. Những cánh hoa hoàng lan đã đen sậm trên tay Hà như vẫn còn phảng phất hương thơm.

(Hương hoa hoàng lan, Nguyễn Phan Khuê, NXB Kim Đồng)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. (0.5 điểm) Theo câu chuyện trên, ai là người trồng cây hoàng lan?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nhân hoá được sử dụng trong câu sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó:

     Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà.

Câu 4. (1.0 điểm) Theo em, vì sao Hà “run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà” và “ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ”?

Câu 5. (1.0 điểm) Từ câu chuyện về cây hoàng lan, em hãy viết một đoạn văn khoảng 3 –5 câu trình bày suy nghĩ của em về vai trò của gia đình đối với cuộc sống của mỗi người.

69
27 tháng 10 2025

gia đình là chụ cột tinh thần của chúng ta và cũng là nơi sưởi ấm trái tim ta

5 tháng 11 2025

manager là gì


I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc bài thơ sau:        TÓC CỦA MẸ TÔI     Mẹ tôi hong tóc buổi chiềuQuay quay bụi nước bay theo gió đồng     Tóc dài mẹ xoã sau lưngBao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.     Tóc sâu của mẹ tôi tìmNgón tay lần giữ ấm mềm yêu thương     Bao nhiêu sợi bạc màu sươngBấy nhiêu lần mẹ lo buồn vì tôi.    Con ngoan rồi đấy mẹ ơiƯớc gì tóc mẹ bạc...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc bài thơ sau:

        TÓC CỦA MẸ TÔI

     Mẹ tôi hong tóc buổi chiều
Quay quay bụi nước bay theo gió đồng
     Tóc dài mẹ xoã sau lưng
Bao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.

     Tóc sâu của mẹ tôi tìm
Ngón tay lần giữ ấm mềm yêu thương
     Bao nhiêu sợi bạc màu sương
Bấy nhiêu lần mẹ lo buồn vì tôi.

    Con ngoan rồi đấy mẹ ơi
Ước gì tóc mẹ bạc rồi lại xanh.

  (Phan Thị Thanh Nhàn, Con muốn mặc áo đỏ đi chơi, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Bài thơ trên là lời của ai viết cho ai?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó:

Tóc dài mẹ xoã sau lưng
Bao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.

Câu 4. (1.0 điểm) Em hiểu như thế nào về hai dòng thơ sau?

         Con ngoan rồi đấy mẹ ơi
  Ước gì tóc mẹ bạc rồi lại xanh.

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ bài thơ trên?

4
29 tháng 10 2025

ky thuat ki m tra chc nang

25 tháng 12 2025

−ω−

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi.SỰ TÍCH CÂY NGÔ     Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi.

SỰ TÍCH CÂY NGÔ

     Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng Aưm đã trở thành chỗ dựa của mẹ. Hằng ngày, cậu dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ. Nhưng trời ngày càng hạn hán hơn. Có những lần cậu đi cả ngày mà vẫn không tìm được thứ gì để ăn. Một hôm, vừa đói vừa mệt cậu thiếp đi bên bờ suối. Trong mơ, cậu nhìn thấy một con chim cắp quả gì to bằng bắp tay, phía trên có chùm râu vàng như mái tóc của cậu. Con chim đặt quả lạ vào tay Aưm rồi vỗ cánh bay đi. Tỉnh dậy Aưm thấy quả lạ vẫn ở trên tay. Ngạc nhiên, Aưm lần bóc các lớp vỏ thì thấy phía trong hiện ra những hạt màu vàng nhạt, xếp thành hàng đều tăm tắp. Aưm tỉa một hạt bỏ vào miệng nhai thử thì thấy có vị ngọt, bùi. Mừng quá, Aưm cầm quả lạ chạy một mạch về nhà.

     Mẹ của cậu vẫn nằm thiêm thiếp trên giường. Thương mẹ mấy ngày nay đã đói lả, Aưm vội tỉa những hạt lạ đó mang giã và nấu lên mời mẹ ăn. Người mẹ dần dần tỉnh lại, âu yếm nhìn đứa con hiếu thảo. Còn lại ít hạt, Aưm đem gieo vào mảnh đất trước sân nhà. Hằng ngày, cậu ra sức chăm bón cho cây lạ. Nhiều hôm phải đi cả ngày mới tìm được nước uống nhưng Aưm vẫn dành một gáo nước để tưới cho cây. Được chăm sóc tốt nên cây lớn rất nhanh, vươn những lá dài xanh mướt. Chẳng bao lâu, cây đã trổ hoa, kết quả.

     Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ. Aưm hái những quả lạ có râu vàng hoe như mái tóc của cậu biếu bà con để làm hạt giống. Quý tấm lòng thơm thảo của Aưm, dân bản lấy tên cậu bé đặt tên cho cây có quả lạ đó là cây Aưm, hay còn gọi là cây ngô. Nhờ có cây ngô mà từ đó, những người dân Pako không còn lo thiếu đói nữa.

(Theo truyencotich.vn)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. (0.5 điểm) Aưm có hoàn cảnh như thế nào?

Câu 3. (1.0 điểm) Tìm 01 từ láy có trong câu chuyện và đặt 01 câu với từ láy đó.

Câu 4. (1.0 điểm) Chi tiết "Hằng ngày, Aưm dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ." đã chứng minh Aưm là người thế nào?

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

22

Câu 1:
Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ ba

Câu 2:
Aưm sống trong hoàn cảnh nghèo khó, mồ côi cha, mẹ thì đau ốm liên miên, bản làng lại bị hạn hán, đói khát

Câu 3:

- từ láy: thiêm thiếp

- đặt câu: Bé ngủ thiêm thiếp trong vòng tay mẹ.

Câu 4: chi tiết đó chứng minh Aưm là một cậu bé hiếu thảo, chăm chỉ, yêu thương và hết lòng lo lắng cho mẹ

Câu 5:
Bài học em rút ra từ câu chuyện:cần biết yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ, sống biết sẻ chia, giúp đỡ người khác, đồng thời phải chăm chỉ, kiên trì và biết vượt qua khó khăn trong cuộc sống

25 tháng 9 2025

hay quá

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai. Một đêm kia, dưới...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA

Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai.

Một đêm kia, dưới ánh trăng mờ, ông lão bỗng thấy một cô bé đang hái trộm dưa. Ông lão bèn giữ lại hỏi, mới biết cô gái mồ côi cha mẹ sống lưu lạc ở vùng này. Thấy diện mạo cô bé khác với người thường, lại ở vào hoàn cảnh đáng thương, vợ chồng ông lão đem lòng thương mến và đem về làm con nuôi, thương quý như con đẻ của mình. Vợ chồng ông lão không hay biết rằng: chính cô bé mồ côi ấy là Thiên Y A Na hoá thân.

Đến một ngày kia vùng núi Đại An bị nạn hồng thuỷ, nước sông dâng lên một màu đỏ đục. Đứng trước cảnh tượng ấy, Thiên Y A Na bỗng nhớ tới cảnh tiên cung, mặt mày ủ dột, rồi để tự khuây khoả, Thiên Y A Na đi hái hoa quả trên núi, xếp đặt lại, tạo nên một cảnh núi non giả, ngồi ngắm nghía và đùa nghịch để khỏi bận tâm đến cảnh thuỷ tai đang diễn ra quanh mình. Vì thế, Thiên Y A Na bị ông lão quở trách nặng lời. Hối hận vì mình đã làm cho cha mẹ nuôi phiền lòng, Thiên Y A Na đã dùng phép hoá thân, nhập vào khúc gỗ trầm đang trôi ra biển cả, rồi dạt vào bờ biển Bắc. Nhân dân địa phương thấy khúc gỗ quý, xúm nhau lại, định khiêng về, nhưng lạ thay hàng trăm người ghé vai vào đều khiêng không nổi.

Tin đồn đến tai thái tử miền nọ. Thái tử ra tận bờ biển nhấc thử, thì khúc gỗ được nhấc lên một cách nhẹ nhàng. Cho là điềm lạ, thái tử đem khúc gỗ về cung cất giữ coi như một vật quý hiếm. Một đêm nằm trằn trọc mãi không sao ngủ được, thái tử định sang thư phòng xem sách, khi đi ngang qua vườn thượng uyển, bỗng thấy một cô gái trẻ, đẹp đang dạo chơi ở đó. Nghe tiếng động, cô gái vội vàng chạy về phía hoàng cung rồi biến mất. Nhưng vào một đêm khác, cô gái xuất hiện. Thái tử có ý bí mật theo dõi, dò xét để biết thực hư. Một cuộc giáp mặt diễn ra quá bất ngờ, cô gái không kịp hoá phép ẩn mình vào khúc gỗ, đành phải kể lại lai lịch của mình cho thái tử nghe. Thái tử đem lòng thương yêu cô gái. Tin này liền đến tai vua cha. Nhà vua cho mời thầy đoán quẻ. Thấy có điềm lành, vua liền cho kết duyên vợ chồng.

Sau mấy năm trời chung sống hạnh phúc nơi đất Bắc, Thiên Y A Na vẫn nhớ về vườn dưa, nơi cha mẹ nuôi sống lam lũ, hiu quạnh. Nỗi thương nhớ thôi thúc Thiên Y A Na trốn thái tử, bỏ hoàng cung, cùng hai con biến vào khúc gỗ trầm, theo dòng nước biển trôi về quê hương người Chăm-pa ở cửa biển Cù Huân.

Nhưng khi trở về Đại An, bà mới biết rằng cha mẹ nuôi đã qua đời từ lâu. Thiên Y A Na bèn lập miếu thờ hai ông bà trên núi Đại An. Trong thời gian ngắn ngủi lưu lại ở Đại An, bà đã tạo lập vườn tược nơi đất cũ, bày dân làng cách làm ruộng, cách chữa bệnh và nuôi dạy con cái.

Thái tử bên Bắc, từ khi xa cách vợ con, lòng nhớ thương sầu muộn khôn nguôi, quên ăn, quên ngủ. Thái tử bèn xin cha mẹ cấp cho một đội chiến thuyền, hướng về Nam, giong buồm chạy suốt ngày đêm để tìm tung tích mẹ con Thiên Y A Na. Khi thuyền tới biển Cù Huân, thái tử cho người lên núi hỏi thăm dân chúng về Thiên Y A Na. Nhưng từ lâu lắm, dân chúng đã không thấy tăm tích của Bà đâu nữa.

Nhân dân địa phương nhớ ơn công đức của Thiên Y A Na, tôn xưng là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”. Họ bỏ bao công sức và tâm huyết xây một ngôi tháp thật đẹp và uy nghi trên ngọn núi thiêng, nơi tiếp giáp với cửa sông, gọi là Tháp Bà. Ngôi tháp ấy là để thờ Bà, nhưng cũng để thờ Thái tử, chồng bà (tức thờ Ông), thờ vợ chồng ông lão tiều phu (cha mẹ nuôi), cùng hai con của Bà. Trải qua mưa nắng thời gian, ngôi tháp đó vẫn tồn tại bền vững uy nghi cho đến tận ngày nay.

(Theo Trần Việt Kỉnh, Văn hoá dân gian Khánh Hoà, NXB Văn hoá dân tộc, 2012)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản trên.

Câu 2. (0.5 điểm) Vì sao nhân dân tôn xưng là Thiên Y A Na là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”?

Câu 3. (1.0 điểm) Tìm 02 từ láy có trong văn bản trên và giải thích nghĩa của 02 từ láy đó.

Câu 4. (1.0 điểm) Chỉ ra 01 yếu tố kì ảo trong văn bản trên và nêu tác dụng.

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

3

Câu 1 ngôi kể thứ ba. câu 2 vì họ nhớ đến ơn Đức của bà đã tạo Lập vườn tược nơi đất cũ ,bày dân làng cách chữa bệnh làm ruộng và nuôi dạy con cái. Câu 3 từ láy là nhẹ nhàng giải thích nghĩa là có tính chất nhẹ không gây cảm giác gì ,từ láy là lam lũ có nghĩa vất vả khổ cực trong cảnh thiếu thốn. Câu 5 con người cần biết hiếu thảo kính trọng biết ơn cha mẹ kể cả cha mẹ nuôi phải luôn gắn bó với cội nguồn nhớ về quê hương không quên nơi đã sinh ra nuôi dưỡng mình biết yêu thương giúp đỡ nhân dân đêm kiến thức kinh nghiệm để làm lợi cho cộng đồng.

19 tháng 2

câu 1

câu chuyện được viết theo ngôi kể số 3

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:CON VẸT NGHÈO Hằng năm, mỗi khi mùa xuân về, các giống chim và thú vật lại rủ nhau tới rừng mở hội. Nào Voi, Gấu, Hổ, Lợn Lòi… trổ tài thi khoẻ. Nào Khỉ, Vượn, Sóc… đua nhau leo trèo. Còn các giống chim khác thì thi giọng hát. Trong bầy chim muôn hình ngàn vẻ kia, có chú Vẹt áo đen. Chú ta cũng khấp khởi đi thi. Gặp ai, nó cũng khoe mình có...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

CON VẸT NGHÈO

Hằng năm, mỗi khi mùa xuân về, các giống chim và thú vật lại rủ nhau tới rừng mở hội. Nào Voi, Gấu, Hổ, Lợn Lòi… trổ tài thi khoẻ. Nào Khỉ, Vượn, Sóc… đua nhau leo trèo. Còn các giống chim khác thì thi giọng hát.

Trong bầy chim muôn hình ngàn vẻ kia, có chú Vẹt áo đen. Chú ta cũng khấp khởi đi thi. Gặp ai, nó cũng khoe mình có rất nhiều giọng hót. Nhìn thấy Vượn, nó hú tiếng Vượn. Nhác thấy Ếch bì bộp nhảy ra, nó cũng hé mỏ “ộp ộp” luôn. Trên đường đi, gặp Hoạ Mi đang cố luyện giọng, Vẹt tỏ vẻ thương hại. Nó nghĩ: “Việc gì mà phải hót lên hót xuống mãi thế?”. Gặp Sáo líu lo khúc hát đồng quê, Vẹt không thèm lắng nghe. Cậy mình biết hót nhiều giọng còn tuyệt vời hơn thế, nên nó huênh hoang lắm. Gặp ai, nó cũng khoe trước:

– Kì thi này, tôi chiếm giải nhất cho mà xem!

Vào cuộc thi, tất cả đều rất vui và cũng rất lo. Sẽ có và đang có ở đây biết bao nhiêu tài năng, chưa thể rõ ai xuất sắc nhất. Bởi thế, loài chim nào cũng yên lặng đợi chờ. Chỉ có Vẹt là cứ lăng xăng, chạy chỗ nọ chỗ kia, làm như mình sắp đoạt giải đến nơi.

Đã tới giờ thi tài. Giám khảo Chim Khuyên và Ếch mời các bạn trong rừng hãy hăng hái ghi tên biểu diễn. Trong lúc chờ đợi xem ai ra trước, Vẹt nhấp nhổm nhưng chưa dám xung phong. Bỗng nghe “quạc quạc”, Vẹt quay lại. A, Vịt à? Vịt ra trước à? Thấy vậy, Vẹt ta liền nhảy vào hót lên một chuỗi âm thanh líu ríu. Chim Khuyên nhấc bút định chấm cho Vẹt tám điểm, thì Liếu Điếu kêu:

– Đấy là tiếng hót của tôi!

Ban giám khảo bảo Vẹt hót lại. Vẹt liền đập cánh, vươn cổ gáy một hơi dài. Gà Trống lên tiếng:

– Đấy là tiếng hót của tôi!

Vẹt tức mình, huýt một hồi lanh lảnh. Chích Choè đứng bên cạnh nhận ngay đấy là giọng hót của Chích Choè.

Giám khảo Ếch liền bảo Vẹt hãy hót lên tiếng hót của chính mình. Vẹt nhướn cổ, hú rõ to. Ngay lúc đó, Vượn nhào tới túm lấy Vẹt:

– Sao lại hú tiếng của tớ?

Vẹt hoảng hốt bay lên. Nó không làm sao nghĩ ra cho được tiếng hót của mình nữa. Nó ngượng nghịu nhìn các bạn. Từ xưa đến nay, Vẹt chỉ biết bắt chước, hót theo tiếng hót của người khác mà thôi. Nó hót đấy mà nó không hiểu gì cả. Tới lúc này, nó mới biết là nó rất nghèo. Nó không có tiếng hót riêng…

(Theo Phong Thu, NXB Kim Đồng, 2018, tr.149 – 151)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5.

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi kể nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Chỉ ra 02 từ láy trong câu chuyện trên.

Câu 3. (1.0 điểm) Giải thích vì sao câu chuyện trên thuộc thể loại truyện đồng thoại.

Câu 4. (1.0 điểm) Em có đồng tình với hành động bắt chước của Vẹt không? Vì sao?

Câu 5. (1.0 điểm) Từ câu chuyện trên, em rút ra bài học gì cho bản thân?

23
14 tháng 12 2025
Câu 1. Ngôi kể Ngôi thứ ba. Câu 2. Hai từ láy: bắt chướclăng xăng. Câu 3. Đây là truyện đồng thoại vì nhân vật là loài vật (Vẹt) được nhân cách hóa và truyện mang ý nghĩa giáo dục. Câu 4. Em không đồng tình. Vẹt bắt chước mù quáng mà không hiểu gì, thiếu bản sắc riêng. Câu 5. Bài học rút ra: Cần sống độc lậptự tin và phát huy năng khiếu riêng của bản thân.


17 tháng 12 2025

1,kể theo ngôi thứ ba


21 tháng 9 2025

Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống


Dàn ý:

  1. Mở bài:
    • Giới thiệu khái quát về thói quen bắt chước. Bắt chước có thể là một phần tự nhiên của quá trình học hỏi, nhưng bắt chước mù quáng lại là một thói quen tiêu cực.
    • Nêu vấn đề chính: Thói bắt chước mù quáng mang lại nhiều tác hại nghiêm trọng cho con người.
  2. Thân bài:
    • Làm mất đi bản sắc và cá tính: Khi bắt chước, con người không còn là chính mình. Họ sống theo khuôn mẫu của người khác, dần dần đánh mất những nét riêng, sở thích và giá trị cá nhân. Đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin và hèn nhát trong việc thể hiện bản thân.
    • Gây ra sự thất bại: Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Bắt chước cách làm của người khác mà không có sự cân nhắc, sáng tạo sẽ rất dễ dẫn đến thất bại. Chẳng hạn, một người khởi nghiệp bắt chước mô hình kinh doanh của một công ty lớn mà không xem xét thị trường, vốn và năng lực của mình sẽ khó thành công.
    • Gây cản trở sự phát triển: Khi chỉ biết bắt chước, con người sẽ không còn động lực để tư duy, sáng tạo và tìm tòi cái mới. Xã hội sẽ dậm chân tại chỗ nếu ai cũng đi theo lối mòn cũ.
    • Mất đi sự tôn trọng của người khác: Một người chỉ biết bắt chước thường không được đánh giá cao, vì họ không có ý kiến độc lập và không thể tự đưa ra quyết định.
  3. Kết bài:
    • Khẳng định lại vấn đề: Thói bắt chước mù quáng là một rào cản lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội.
    • Nêu giải pháp: Mỗi người cần học cách sống là chính mình, biết lắng nghe, học hỏi nhưng phải có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên dấu ấn riêng.


Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em


Dàn ý:

  1. Mở bài:
    • Giới thiệu về trải nghiệm đó. Nêu cảm nhận ban đầu của bạn về nó. Ví dụ: "Trong cuộc đời mỗi người, có những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc..." hoặc "Đó là một buổi chiều mưa, nhưng lại là lúc tôi nhận ra giá trị của lòng nhân ái..."
  2. Thân bài:
    • Bối cảnh: Kể lại bối cảnh xảy ra câu chuyện: thời gian, địa điểm, những nhân vật liên quan.
    • Diễn biến:
      • Tường thuật lại toàn bộ câu chuyện theo trình tự thời gian.
      • Tập trung vào những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng mạnh. Dùng các từ ngữ miêu tả sinh động để người đọc cảm nhận được cảm xúc của bạn khi đó (vui, buồn, thất vọng, bất ngờ...).
      • Điểm mấu chốt: Sự kiện nào đã làm thay đổi suy nghĩ, cảm xúc của bạn?
    • Ý nghĩa: Phân tích sâu sắc ý nghĩa của trải nghiệm đó.
      • Bạn đã học được điều gì từ câu chuyện? (ví dụ: sự kiên trì, lòng biết ơn, tình yêu thương, sự tha thứ...)
      • Trải nghiệm đó đã thay đổi bạn như thế nào? (ví dụ: giúp bạn tự tin hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn, thay đổi cách nhìn về một vấn đề nào đó...).
  3. Kết bài:
    • Tổng kết lại giá trị của trải nghiệm.
    • Khẳng định lại rằng trải nghiệm đó sẽ mãi là một bài học quý giá, một kỷ niệm không thể quên.
25 tháng 12 2025

Bài làm

Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau

Trong kho tàng truyền thuyết phong phú của Việt Nam, câu chuyện về Sự Tích Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm luôn chiếm một vị trí đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa lịch sử mà còn vì vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của nó. Truyền thuyết này gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV

Truyền thuyết kể rằng, khi đất nước đang chìm trong ách đô hộ của giặc Minh, lòng người căm phẫn và khao khát độc lập. Thấu hiểu ý trời và lòng dân, Đức Long Quân đã quyết định trao cho Lê Lợi một bảo vật thiêng liêng để giúp ông hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc: đó là Thanh Gươm Thần. Thanh gươm không được trao trực tiếp. Lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy dưới đáy sông, còn chuôi gươm nạm ngọc lại được tìm thấy trên ngọn cây, tỏa ánh sáng rực rỡ, tất cả đều do người của Lê Lợi tình cờ nhặt được

khi lưỡi và chuôi hợp lại, thanh gươm trở nên hoàn chỉnh, mang sức mạnh phi thường. Nhờ có Thanh Gươm Thần, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, liên tiếp giành thắng lợi vang dội, cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước. Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên nhà Hậu Lê, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị

Saukhi đất nước yên bình, tong một lần nhà vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) dạo chơi trên chiếc thuyền rồng ở hồ Tả Vọng (tên cũ của Hồ Gươm), một Con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước. Rùa Thần tiến đến gần thuyền vua, cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hoàn trả lại gươm cho Long Quân!” Nhà vua hiểu ra rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành. Vua bèn rút gươm trao cho Rùa Vàng.Rùa Thần đón lấy gươm, ngậm vào miệng rồi lặn xuống đáy hồ. Kể từ đó, hồTả Vọng được đổi tên thành Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm) minh chứng cho lòng nhân ái, hòa bình của dân tộc và sự đồng lòng giữa Trời – Đất – Người trong công cuộc cứu nước

Truyền thuyết này không chỉ là một câu chuyện thần kỳ mà còn thể hiện tinh thần thượng võ và yêu chuộng hòa bình của người Việt, nhắc nhở các thế hệ về công lao của cha ông và ý nghĩa thiêng liêng của độc lập, tự do

26 tháng 9 2025

Trong số các truyền thuyết cổ xưa của dân tộc Việt Nam, câu chuyện về Sơn Tinh và Thủy Tinh không chỉ là một huyền thoại giải thích hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người Việt trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai.

Truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Hùng thứ 18, có một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Vua Hùng muốn kén cho con gái một người chồng xứng đáng nên đã mở hội thi tuyển rể. Từ khắp nơi, nhiều chàng trai tài giỏi tìm đến, nhưng nổi bật nhất là hai vị thần: Sơn Tinh và Thủy Tinh.

Sơn Tinh là một chàng trai khôi ngô, có tài lạ: chỉ cần vẫy tay, núi đồi trùng điệp sẽ mọc lên, cây cối xanh tươi. Thủy Tinh cũng không kém cạnh, chàng có khả năng hô mưa gọi gió, làm cho biển cả và sông ngòi cuộn trào. Cả hai đều tài giỏi ngang sức ngang tài, khiến Vua Hùng khó lòng lựa chọn.

Cuối cùng, Vua Hùng đặt ra điều kiện thách cưới: "Sáng sớm hôm sau, ai mang đến sính lễ gồm một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao đến trước, người đó sẽ được cưới Mị Nương."

Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng, Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến trước. Vua Hùng giữ lời hứa, gả Mị Nương cho Sơn Tinh. Thần Núi rước vợ về núi Tản Viên.

Khi Thủy Tinh đến nơi, thấy Mị Nương đã theo chồng, chàng vô cùng giận dữ. Cảm thấy bị sỉ nhục, Thủy Tinh đã nổi cơn lôi đình, dốc toàn lực để báo thù. Thần Nước hô mưa, gọi gió, làm nước biển dâng cao, dìm chìm đồng bằng, muốn nhấn chìm núi Tản Viên để cướp lại Mị Nương.

Trước sức mạnh kinh hoàng của nước, Sơn Tinh không hề nao núng. Thần Núi dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên bao nhiêu, Sơn Tinh đắp đất, nâng núi cao lên bấy nhiêu. Cuộc chiến kéo dài ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng, sức Thủy Tinh kiệt dần, đành phải rút lui.

Tuy nhiên, mối thù này không bao giờ dứt. Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh để đòi Mị Nương, gây ra cảnh lũ lụt khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và năm nào cũng vậy, Sơn Tinh vẫn chiến thắng, giữ vững bờ cõi và bảo vệ cuộc sống của người dân.