(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

ÔNG LÝ TIẾN

Tương truyền vào đời Hùng Vương thứ sáu, dưới triều Hùng Huy Vương, nhà nước Văn Lang đang trong thời kì bị giặc phương Bắc đe dọa xâm lược.

Thuở ấy, có hai ông bà già, tuổi cao mà chưa có con, ngày ngày chồng đi đánh cá ven sông Tô Lịch, còn vợ thì thành tâm đi cầu tự ở chùa Khán gần đó. Mãi về sau, bà mới có mang và sinh ra một cậu con trai khôi ngô, tuấn tú, đặt tên là Lý Tiến. Lớn lên, Lý Tiến nổi tiếng là tháo vát, khoẻ khoắn và có tướng gan lì. Bọn trai làng Long Đỗ tại trại Tiến Ngư, cạnh rừng tre, bên bờ sông Tô vừa mền vừa phục. Ông thường tụ tập bọn cùng tuổi tập đánh trận giả trong rừng tre và cùng nhau ra sông bắt cá.

Đến giữa đời Hùng Vương thứ sáu, Lý Tiến được Vua Hùng cử làm tướng và giao cho việc rèn luyện một đội quân ven bờ sông Tô. Khi nghe tin có giặc Ân phương Bắc sang xâm lược nước Văn Lang, vua Hùng một mặt cử người lên trấn ải, mặt khác cho người đi loan tin cầu người tài giỏi ra giúp dân giúp nước. Lý Tiến được cử mang quân ra gần biên ải cự giặc. Khi quân của ông đến đất Vũ Ninh (nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh) thì gặp giặc Ân. Hai bên đánh nhau quyết liệt. Lý Tiến chém giết được rất nhiều giặc. Trong một trận, chẳng may ông bị một tên giặc bắn trúng ngực. Ông gắng gượng trở về đến bờ sông Tô rồi mới mất. Sau khi chết, ông đã báo mộng vua Hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ, cầu hiền. Do đó mà tìm được Thánh Gióng đánh giặc sau này. Về sau, người dân địa phương đã chôn cất ông ngay trên nền nhà cũ và dựng trên nền đất cũ ấy một ngôi đền để thờ ông. Đó là đình Giáp Đông, thôn Đông Thuận xưa, nay còn lại hậu cung ở phố Hàng Cá (Hà Nội).

(Theo Nguyễn Văn Tùng (Tổng Chủ biên), Đọc hiểu mở rộng văn bản Ngữ văn 6,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.11 − 12)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.

Câu 2. Xác định các chi tiết có liên quan đến sự thật lịch sử trong văn bản.

Câu 3. Hãy chỉ ra và nêu tác dụng của các chi tiết kì ảo, hoang đường được sử dụng trong văn bản.

Câu 4. Nhân vật Lý Tiến có những phẩm chất nào đáng quý? Phẩm chất đó được thể hiện thông qua những chi tiết nào?

Câu 5. Chi tiết cuối truyện: "Về sau, người dân địa phương đã chôn cất ông ngay trên nền nhà cũ và dựng trên nền đất cũ ấy một ngôi đền để thờ ông." đã cho thấy thái độ và tình cảm gì của nhân dân đối với anh hùng Lý Tiến? Từ đó, em hãy cho biết thế hệ trẻ ngày nay cần có thái độ và hành động gì đối với những người đã có công với đất nước? (Trình bày khoảng 5 − 7 dòng)

43
6 tháng 2

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự (kể lại các sự việc theo trình tự thời gian và có liên quan đến các nhân vật).

Câu 2. Các chi tiết liên quan đến sự thật lịch sử và vai trò:

- Các chi tiết sự thật lịch sử: * Thời đại: Đời Hùng Vương thứ sáu (triều Hùng Huy Vương).

+ Sự kiện: Giặc Ân phương Bắc xâm lược nước Văn Lang.

+ Địa danh: Sông Tô Lịch, đất Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh), làng Long Đỗ, đình Giáp Đông (phố Hàng Cá, Hà Nội).

- Vai trò: Tạo nên cái khung lịch sử vững chắc, giúp câu chuyện trở nên chân thực, đáng tin cậy hơn. Nó gắn kết truyền thuyết với nguồn gốc dân tộc và những địa danh cụ thể trên bản đồ đất nước.

Câu 3. Chi tiết kì ảo và tác dụng:

- Chi tiết kì ảo: Việc bà cụ đi cầu tự rồi sinh ra Lý Tiến; đặc biệt là chi tiết sau khi chết, ông báo mộng cho vua Hùng bảo sứ giả rao mõ cầu hiền (dẫn đến sự tích Thánh Gióng).

- Tác dụng: * Làm tăng tính linh thiêng, tôn vinh vị thế anh hùng của nhân vật Lý Tiến.

+ Tạo sự kết nối logic giữa các truyền thuyết trong thời đại Hùng Vương (Lý Tiến là người "mở đường" cho Thánh Gióng).

+ Thể hiện quan niệm của nhân dân: người anh hùng tuy mất đi về thể xác nhưng linh hồn vẫn luôn canh cánh nỗi lo cứu nước.

Câu 4. Phẩm chất của nhân vật Lý Tiến:

- Tài giỏi, tháo vát và có uy tín: Thể hiện qua chi tiết từ nhỏ đã nổi tiếng tháo vát, khỏe khoắn, khiến trai làng Long Đỗ "vừa mến vừa phục", được vua Hùng tin tưởng giao quân.

- Lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm: Thể hiện qua việc ông trực tiếp cầm quân ra biên ải cự giặc, "chém giết được rất nhiều giặc", chiến đấu quyết liệt đến hơi thở cuối cùng.

- Sự trung thành, tận hiến: Ngay cả khi đã hy sinh, ông vẫn báo mộng giúp vua tìm người tài (Thánh Gióng) để tiếp tục bảo vệ đất nước.

Câu 5. Thái độ của nhân dân và trách nhiệm của thế hệ trẻ:

- Thái độ, tình cảm của nhân dân: Chi tiết lập đền thờ cho thấy sự biết ơn sâu sắc, lòng tôn kính và ngưỡng mộ đối với người anh hùng. Nhân dân muốn lưu giữ hương hỏa, để tên tuổi của ông sống mãi cùng vùng đất mà ông đã bảo vệ.

- Trách nhiệm của thế hệ trẻ: * Thái độ: Phải biết trân trọng, ghi nhớ công ơn của các thế hệ cha anh đi trước; có lòng tự hào dân tộc và ý thức giữ gìn các giá trị văn hóa, lịch sử.

- Hành động: Nỗ lực học tập, rèn luyện để xây dựng đất nước; tham gia các hoạt động "Uống nước nhớ nguồn" (như chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, bảo tồn các di tích lịch sử) và sẵn sàng cống hiến khi tổ quốc cần.

6 tháng 2

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: tự sự.
→ Văn bản kể lại cuộc đời, sự nghiệp và chiến công của nhân vật Lý Tiến theo trình tự thời gian.


Câu 2

Các chi tiết có liên quan đến sự thật lịch sử trong văn bản gồm:

  • Thời đại Hùng Vương thứ sáu, nhà nước Văn Lang.
  • Cuộc xâm lược của giặc Ân phương Bắc.
  • Địa danh có thật: sông Tô Lịch, Vũ Ninh (Quế Võ – Bắc Ninh), Tiên Du, Hà Nội.
  • Việc dựng đền thờ anh hùng sau khi mất.

Vai trò của các chi tiết lịch sử:

  • Tạo cơ sở lịch sử cho câu chuyện, giúp truyện có tính chân thực.
  • Làm nền để tôn vinh hình tượng anh hùng Lý Tiến, gắn truyền thuyết với lịch sử dân tộc.

Câu 3

Các chi tiết kì ảo, hoang đường trong văn bản:

  • Hai ông bà già cầu tự rồi sinh được con trai.
  • Sau khi chết, Lý Tiến báo mộng cho vua Hùng, giúp tìm được Thánh Gióng.

Tác dụng:

  • Tăng sức hấp dẫn, màu sắc huyền thoại cho câu chuyện.
  • Thể hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với người anh hùng.
  • Khẳng định Lý Tiến là nhân vật có công lao lớn, mang tầm vóc phi thường.

Câu 4

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật Lý Tiến:

  • Khỏe khoắn, gan dạ, dũng cảm: từ nhỏ đã tháo vát, có tướng gan lì; khi ra trận chém giết được nhiều giặc.
  • Yêu nước, có tinh thần trách nhiệm: được vua Hùng giao trọng trách, sẵn sàng ra biên ải chống giặc.
  • Hi sinh vì đất nước: bị thương nặng nhưng vẫn cố gắng trở về, chấp nhận hi sinh vì non sông.
  • Trung nghĩa, vì dân vì nước: sau khi mất vẫn báo mộng giúp vua tìm người tài cứu nước.

→ Các phẩm chất ấy được thể hiện qua hành động, việc làm cụ thể, không phải lời kể suông.


Câu 5

Chi tiết: “Người dân địa phương đã chôn cất ông ngay trên nền nhà cũ và dựng … một ngôi đền để thờ ông” cho thấy:

  • Lòng biết ơn sâu sắc,
  • Sự kính trọng, tôn vinh của nhân dân đối với anh hùng Lý Tiến – người đã hi sinh vì đất nước.

Bài học cho thế hệ trẻ ngày nay:

  • Cần trân trọng, ghi nhớ công lao của các anh hùng, liệt sĩ.
  • Có ý thức giữ gìn di tích lịch sử, truyền thống dân tộc.
  • Sống có trách nhiệm, ra sức học tập, rèn luyện, đóng góp cho đất nước để xứng đáng với sự hi sinh của cha ông.

Câu 1 PTNĐ chin là tự sự

Câu 2Nhân vật Lý Tiến là người có thật trong lịch sử.Ông tham gia chống lại chính quyền đô hộ phương Bắc.Ông được nhân dân ủng hộ và tôn trọng vì tinh thần yêu nước.Câu chuyện gắn với thời kì nước ta bị phương Bắc đô hộ.

Câu 3Khi ông Lý Tiến chết, trời đất bỗng nổi mưa gió, sấm chớp dữ dội.Nhân dân lập đền thờ và tin rằng ông rất linh thiêng, thường hiển linh giúp đỡ dân làng.

Câu 4ông đứng lên chống lại chính quyền đô hộ phương Bắc

Câu 5 Qua câu chuyện, em học được bài học phải yêu nước, dũng cảm và sống vì mọi người. Những người có công với đất nước sẽ luôn được nhân dân kính trọng và biết ơn.



6 tháng 3

Câu 1:ông lý tiến là tự sự

Câu 2:bối cảnh: đời hùng vương thứ sáu nhà nước văn lang

Sự kiện:cuộc xâm lược của giặc ân phương bác

Các địa đánh:sông tô lịch. đất vũ ninh

Câu 3: sự ra đời thần kì của lý tiến: hai ông bà già tuổi cao chưa có con sau khi thành tâm cầu nguyện thì sinh ra con trai khôi ngô tuấn Tú

lý tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua hùng

Chi tiết kì ảo

Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn ly kì

Câu 4: dũng cảm gan dạ và kiên cường

Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao

Câu 5: cuối truyện cho thấy lòng biết ơn sự kinh trong của nhân dân đối với anh hùng lý tiến

Thái độ và hành động cần có của thế hệ trẻ:cần biết trân trọng, tự hao trước công lao của cha ông ta

Cố gắng học tập và rèn luyện đạo Đức tốt để trở thành nguội có ích để xây dựng đất nước

Tích cực tham gia các hoạt động xã hội tưởng nhớ đến tri ân đến thương binh liệt sĩ

10 tháng 3

Câu 1

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Ông

Lý Tiến" là tự sự.

Câu 2.

Các chi tiết có liên quan đến sự thật lịch sử:

+ Bối cảnh: Đời Hùng Vương thứ sáu, nhà nước

Van Lang.

+ Sự kiện: Cuộc xâm lược của giặc Ân phương

Bắc.

+ Các địa danh: Sông Tô Lịch, đất Vũ Ninh, đình Giáp Đông ở phố Hàng Cá (Hà Nội).

Câu 3.

- Các chi tiết kì ảo, hoang đường trong văn bản:

+ Sự ra đời thần kì của Lý Tiến: Hai ông bà già tuổi cao chưa có con, sau khi thành tâm cầu tự thì sinh ra cậu con trai khôi ngô, tuấn tú .

+ Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua Hùng để tìm người hiền tài ra giúp nước..

- Tác dụng của chi tiết kì ảo, hoang đường:.

+ Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, ly kỳ, thể hiện sự ngưỡng mộ của nhân dân..

+ Thể hiện niềm tin của nhân dân vào các yếu tố tâm linh, anh hùng hy sinh vẫn luôn dõi theo và phù hộ cho đất nước .

Câu 4.

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật Lý.

Tiến:

- Dũng cảm, gan dạ và kiên cường: Thể hiện qua chi tiết ông được vua Hùng cử làm tướng,.

"mang quân ra gần biên ải cự giặc", "chém giết được rất nhiều giặc"

- Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả với đất nước: Ông hy sinh vì đất nước, sau khi hy sinh ông vẫn "báo mộng vua Hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ, cầu hiền" để tìm người kế tục sự nghiệp cứu nước..

Câu 5 .

  • Chi tiết cuối truyện cho thấy lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng, ngưỡng mộ của nhân dân đối với người anh hùng Lý Tiến..
  • Thái độ và hành động cần có của thế hệ trẻ đối với những người có công với đất nước..

+ Cần biết trân trọng, tự hào và biết ơn trước những công lao, hy sinh của thế hệ ông cha đi trước..

+ Cố găng học tập và rèn luyện đạo đức để trở thành những người có ích, góp phần vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước..

+ Tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội thể hiện sự tưởng nhớm tri ân đến gia đình thương binh liệt sỹ .

16 tháng 3

Câu 1:

-Phương thức biểu đạt chính của văn bản “Ông Lý Tiến” là tự sự.

Câu 2:

- Các chi tiết có liên quan đến sự thật lịch sử:

+ Bối cảnh: Đời Hùng Vương thứ 6, nhà nước Văn Lang.

+ Sự kiện: Cuộc xâm lược của giặc Ân Phương Bắc.

+ Các địa danh: sông Tô Lịch, đất Vũ Ninh, đình Giáp Nông ở phố Hàng Cá (Hà Nội).

Câu 3:

-Các chi tiết kì ảo, hoang đường trong văn bản là:

+ Sự ra đời của Lý Tiến: hai ông bà già tuổi cao chưa có con, sau khi thành tâm cầu sự thì sinh ra cậu con trai khôi ngô, tuấn tú.

+ Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua Hùng để tìm người hiền tài cứu nước.

- Tác dụng các chi tiết hoang đường, kì ảo:

+ Làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, ly kỳ thể hiện lòng ngưỡng mộ của nhân dân.

+ Thể hiện niềm tin của nhân dân vào yếu tố tâm linh, anh hùng hi sinh vẫn luôn dõi theo và bảo vệ cho đất nước.

Câu 4:

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật Lý Tiến:

- Dũng cảm, gan dạ và kiên cường: Thể hiện qua chi tiết ông được vua Hùng cử làm tướng “mang quân ra gần biên ải cử giặc”, “ chém chết được nhiều giặc”.

- Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả với đất nước: Ông hy sinh vì đất nước, sau khi hy sinh ông vẫn “báo mộng vua Hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ, cầu hiền” để tìm người kế tục sự nghiệp cứu nước.

Câu 5:

- Chi tiết cuối chuyện cho thấy lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng, ngưỡng mộ của nhân dân đối với người anh hùng Lý Tiến.

- Thái độ và hành động cần có của thế hệ trẻ đối với những người có công với đất nước.

+ Cần biết chân trọng, tự hào và biết ơn trước những công lao, hy sinh của thế hệ ông cha đi trước.

+ Cố gắng học tập và rèn luyện đạo đức để trở thành những người có ích, góp phần vào công cuộ bảo vệ quê hương, đất nước.

+ Tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, thể hiện sự tưởng nhớ, tri ân đến gia đình thương binh,liệt sĩ, …

19 tháng 3

Phương thức biểu đạt là tự sự

Các chi tiết liên quan đến lịch sử là:

Đời Hùng Vương thứ 6, của nhà văn lang

Cuộc xâm lược của giặc xâm lược phương Bắc

Sông Tô Lịch Vũ Linh, Đình giáp Đông ở phố hàng cứ

Câu3

Các chi tiết là:

Sự ra đời thần kỳ của lý Tiến

Đi Tiến chết rùi vẫn báo mộng cho vua hùng

Tác dụng hoang đường kỳ ảo là:

Làm cho câu chuyện hấp dẫn và kỳ ảo kỳ diệu hơn

Câu 4

Phẩm chất đáng quý là:

Dũng cảm, gan dạ , kiên cường

Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm

Câu 5

Cố gắng học tập rèn luyện đạo đức để trở thành những người có ích góp phần và cung cung cuộc xây dựng

Tích cực tham gia hoạt động xã hội thể hiện sự tưởng nhớ tri ân


câu 1:

- phương thức biểu đạt chính của câu chuyện là tự sự

câu 2:

-Các chi tiết liên quan đến sự thật lịch sử:

  • Thời đại Hùng Vương thứ sáu, nước Văn Lang.
  • Sự kiện giặc phương Bắc (giặc Ân) xâm lược.
  • Địa danh: sông Tô Lịch, Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh), Tiên Du, Hà Nội.
  • Việc vua Hùng chiêu mộ người tài đánh giặc.

→ Những chi tiết này gắn với bối cảnh lịch sử, địa danh có thật, làm cho câu chuyện có cơ sở lịch sử.

câu 3:

  • Chi tiết kì ảo, hoang đường:
    • Bà mẹ cầu tự ở chùa rồi mới mang thai.
    • Sau khi chết, Lý Tiến báo mộng vua Hùng để tìm người tài (Thánh Gióng).
  • Tác dụng:
    • Làm câu chuyện trở nên li kì, hấp dẫn.
    • Tôn vinh, thần thánh hóa nhân vật anh hùng.
    • Thể hiện niềm tin và sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với người có công
  • câu 4:
  • Nhân vật Lý Tiến có những phẩm chất đáng quý:
  • Khỏe mạnh, dũng cảm, gan dạ → thể hiện qua việc luyện tập võ nghệ, đánh trận giả, ra trận chống giặc.
  • Tài giỏi, có năng lực lãnh đạo → được vua Hùng giao làm tướng, huấn luyện quân.
  • Yêu nước, sẵn sàng hi sinh → chiến đấu đến khi bị thương nặng vẫn cố trở về, hi sinh vì đất nước.
  • Câu 5.
    Chi tiết cuối truyện cho thấy nhân dân biết ơn, kính trọng và tôn vinh anh hùng Lý Tiến bằng việc lập đền thờ. Điều đó thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.

Thế hệ trẻ ngày nay cần biết trân trọng, ghi nhớ công lao của những người đã hi sinh vì đất nước. Cần học tập, rèn luyện tốt, sống có trách nhiệm và góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, nên tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc.

23 tháng 3

Bbuucycyffyduhududyficugifuguf

25 tháng 3

Ông lí tiên là tự sự

Các chi tiết có liên quan sự thật đến lịch sử

Sự ra đời của Lý Tiến

Bối cảnh hùng vưng thứ sáu

Nhà nước Văn lang

Câu 1 phương thức biểu đạt chính tự sự kể lại các sự việc xoay quanh cuộc đời và công trạng của nhân vật lý Tiến

Câu 2 các chi tiết lịch sử thường bao gồm thời đại thơ Hùng Vương thứ sáu địa danh đất Văn lang quận Giao chỉ sự kiện đất nước có giặc xâm lược giặc ân nhân trên đồng lòng chống giặc dấu tích ngôi đền thờ ông tại quê hương nhà vẫn còn tồn tại

Cô ba chi tiết Kỳ ảo sau khi mất ông Lý Tiến báo mộng cho vua Hùng giúp vua tìm được người ta thánh gióng đánh giặc tác dụng làm tăng tinh tính thần kỳ hấp dẫn cho câu chuyện thần thánh Hóa nhân vật khẳng định dù đã mất nhưng linh hồn vì anh hùng vẫn luôn lo vận mệnh đất nước thể hiện sự kết quả nối giữa các thế hệ anh hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước

Câu 4 phẩm chất lòng yêu nước nồng nàn sự dũng cảm và lòng trung thành tuyệt đối chi tiết thể hiện ông hăng hái đưa ra trận đánh giặc cứu nước ngay khi tổ quốc cần dù Lâm bệnh nặng và mất khi sạc chưa tan linh hồn ông vẫn báo mộng cho vua tìm người tài kế tục sự nghiệp cứu nước

Câu 5 thái độ tình cảm của nhân dân thể hiện sự biết ơn sâu sắc lòng tôn kính và sự ngưỡng mộ đối với người anh hùng việc chôn cất và dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ cho thấy nhân dân coi ông như người thân muốn lưu giữ đời đời công lao của ông hành động của thế hệ trẻ thế hệ trẻ ngày nay cần có thái độ trân trọng và biết ơn sâu sắc đối với những người đã có công ơn với đất nước chúng ta cần tích cực học tập rèn luyện đạo đức để xứng đáng với sự hi sinh của cha ông đi trước mỗi cá nhân nên tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa chăm sóc các gia đình thương binh liệt sĩ hoặc tìm hiểu về lịch sử dân tộc qua các di tích đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là đạo lý uống nước nhớ nguồn cao đẹp của dân tộc Việt Nam quyết tâm bảo vệ và xây dựng quê hương giàu có đẹp chính là cách thiết thực nhất để trị ân những anh hùng như lý Tiến


26 tháng 3

Câu 1: Phương thức biểu đạt đạt chính của văn bản là: tự sự

Câu2: Các chi tiết có liên quân đến sự thật lịch sử trong văn bản:

+ Bối cảnh: Đời Hùng Vương thứ 6,nhà nươvs Văn Lang

+Sự kiện : Cuộc xâm lược của giaqcj ân Phương thức bắc

+Các địa danh: Sông Tô Lịch,đất Đình Giáp đông ở phố Hàng Cá(Hà Nội)

Câu 3: + Sự ra đời thần kì của Lý Tiến: Hai ông bà già tuổi cao chưa có con, sau khi thành tâm cầu tự thì sinh ra cậu con trai khôi ngô,tuấn tú.

+ Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho Vua Hùng để tìm người hiền tài ra giúp nó

- Những chi tiết kì ảo hoang đường

+ Làm ơn cho câu chuyện thêm hấp dẫn dẫn, ly kì,thể hiện ngưỡng một của nhân dân

+ Thể hiện niềm vui của nhân dân vào các yếu tố tâm linh, anh Hùng hi sinh vẫn luôn dõi theo theo và phù hộ cho đất nước .

Câu 4: Nhân vật Lý Tiến những phẩn chất đáng quý là:

Dũng cảm, gan dạ, Kiên cường : Thể hiện qua chi tiết ông được vua hùng cử làm tướng, "mang quân ra gần biển ải cử giặc chém giết được rất nhiều giặc".

-Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả với đất nước:Ông hi sinh vì đất nước,sau khi hi sinh ông vẫn"báo mộng vua hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ,cầu hiền"để tìm người kế tục sự nghiệp cứu nó.

Câu 5:-Chi tiết cuối truyện cho thấy lòng biết ơn sâu sắc sắc và sợ kinh trọng,ngưỡng mộ của nhân dân đối với người anh hùng Lý Tiến.

+Tích cực thăm gia vào các hoạt động xã hội thể hiện sự tướng nhám tri ân đến gia đình thương bình, liệt sĩ,...


27 tháng 3

Câu 1

Văn bản thể loại nghị luận

Câu 2

Dưới triều Hùng Huy Vương

Câu 3

Sự ra đời của Lý Tiến:Hai ông bà chưa có con

Câu 4

Dũng cảm và kiên cường:Thể hiện của Hùng Vương cho làm tướng

Câu 5

Biết tôn trọng,tự hào và biết ơn hy sinh và công lao động của người cha già

Câu 1: PTBĐ chính của văn bản trên là tự sự.

Câu 2:

Bối cảnh. Thời Hùng Vương thứ 16

Sự kiện. Đấu tranh với giặc .

Câu 3. Chi tiết kỳ ảo là.

Sự ra đời của Lý Tiên

Chết rồi mà vẫn báo mộng cho nhà vua.

Tác dụng. Làm cho chuyện thêm hấp dẫn. Ly kỳ, thể hiện niềm tin của dân tộc về yếu tố tâm linh, anh hùng hy sinh .

Câu 4:Dung cảm , gan dạ và kien cường qua chi tiết. Ông được vua cử làm tướng qua đánh giặc.

Câu 5:

Cần biết trân trọng, tự hào và biết ơn.

Cố gắng học tập và rèn luyện đạo đức để trở thành người có ích.

Tích cực tham gia các hoạt động xã hội thể hiện sự tưởng nhớ,tri ân.



27 tháng 3

C1 ông lý tiến là tự sự.

29 tháng 3

Câu1 phương thức biểu đạt chính là tự sự

Câu2 các chi tiết có thật là

- Đời hùng vương thứ 6

- Có nhà nước là văn Lang

- Cuộc xâm lược của giặc Ân phương bắc

- Có sông Tô tịch, chùa Khán, Làng Long Đỗ Đạt, trại Tiến Ngư, đất Vũ Ninh, Đình Giáp Đông ở phố Hàng Cá (Hà Nội)

Câu3

-Các chi tiết kì ảo, hoang đường trong văn bản:

+ Sự ra đời thần kì của Lý Tiến: Hai ông bà già tuổi cao chưa có con, sau khi thành tâm cầu tự thì sinh ra cậu con trai khôi ngô, tuấn tú.

+ Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua Hùng để tìm người hiền tài ra giúp nước.

Tác dụng của chi tiết kì ảo, hoang đường:

+ Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, ly kỳ, thể hiện sự ngưỡng mộ của nhân dân.

+ Thể hiện niềm tin của nhân dân vào các yếu tố tâm linh, anh hùng hy sinh vẫn luôn dõi theo và phù hộ cho đất nước.

Câu4

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật Lí Tiến:

– Dũng cảm, gan dạ và kiên cường: Thể hiện qua chi tiết ông được vua Hùng cử làm tướng, "mang quân ra gần biên ải cự giặc", "chém giết được rất nhiều giặc".

Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả với đất nước: Ông hy sinh vì đất nước, sau khi hy sinh ông vẫn "báo mộng vua Hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ, cầu hiền" để tìm người kế tục sự nghiệp cứu nước

Câu5

Chi tiết cuối ấy cho ta biết được rằng, sự biết ơn của người dân trong làng, Lý Tiết đã hi sinh và dành cho người dân sự biết ơn sâu sắc và lòng kính trọng dành cho người anh hùng Lí Tiết. Lòng yêu nước của ông đã dành cho nhân dân một lòng kính dân chân thành, dù đã ra đi nhưng mà ông đã báo mộng cho vua hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ, cầu hiền và tìm được Thánh Gióng đánh giặc về sau. Dù ông Lí Tiết đã đi xa nhưng vẫn đành lòng báo mộng về giúp người đánh giặc. Từ đó em đã biết thế hế trẻ em ngày nay cần phải có thái độ kính trên nhường dưới, đạo làm con cần hiếu thảo trung thành không lừa dối ai. Chúng ta cần học hành chăm chỉ để giúp đỡ cho đất nước, chỉ cần chúng ta cố gắng hơn một chút, chăm chỉ hơn một chút là có thể g đỡ được cho nhà nước và có công trong xã hội

Câu 1

Phương thức biểu đạt là tự sự

Câu 2

Đời Hùng Vương thứ sáu, nhà nc Văn Làng,cuộc xâm lược của giặc Ân phương Bắc,Sông Tô Lịch, đất Vũ Ninh, Giáp Đồng ở phố hàng cá ( Hà Nội ).

Câu 3

+ Các chi tiết kì ảo là:

- Sự ra đời thần kì của Lý Tiến

- Lý Tiến chết vẫn báo mộng cho vua Hùng để tìm ng hiền tài ra cứu nước .

+ tác dụng của những chi tiết kì ảo là:

- Giúp cho văn bản hay hơn, thú vị hơn và làm tăng sự hấp dẫn của văn bản đối với ng đọc

Câu 4

+ Các phẩm chất đáng quý của Lý Tiến là:

- Dũng cảm, kiên cường, yêu nước và gan Dạ.

Câu 5

Chi tiết cuối câu truyện cho thấy lòng biết ơn và sự yêu quý của mọi ng đối với ng anh hùng Lý Tiến.





29 tháng 3

1,

Là tự sự

2,

Sự kiện:

Cuộc xâm lược của giặc ân phương Bắc.

3,

Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua Hùng tìm người tài đi giúp nước.

4,

Lòng yêu nước và trách nhiệm cao cả với đất nước

5,

Chi tiết cuối truyện cho thấy sự biết ơn và kính trọng, ngưỡng mộ của nhân dân đối với người anh hùng lý Tiến











29 tháng 3

1 Phương thức biểu đạt tự sự

29 tháng 3

Câu 1 : phương thức biểu đạt trong bài là tự sự.

Câu 2 : các chi tiết có liên quan đến sự kiện lịch sử đó là:

+Đời Hùng Vương thứ Sáu nhà nước Văn lang

+Sự kiện cuộc xâm lược của giặc ân phương Bắc

+Các địa danh sông tô lịch ,đất Vũ Linh, đình giáp Đông ở số hàng cá( Hà Nội)

Câu 3 : chi tiết kỳ ảo hoang đường trong văn bản là :

+Sự ra đời thần kỳ của Lý Tiến: hai ông bà già cao tuổi chưa có con, sau khi thành công cầu tự sinh ra đứa con khôi ngô tuấn tú.

+Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua Hùng để tìm người hiện tại gia giúp đất nước.

-tác dụng của chi tiết Kỳ ảo hoang đường là:

+Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn ly kỳ, thể hiện sự ngưỡng mộ của nhân dân

+Thể hiện của nhân dân tin vào các yếu tố tâm linh, anh hùng vẫn luôn dõi theo và phù hộ cho đất nước.

Câu 4 : mỹ phẩm chất đáng quý của nhân vật lý Tiến:

+Dũng cảm gan dạ và kiên cường.

+Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả đối với đất nước

Câu 5 :

-chi tiết cuối của truyện chắc phải lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng của nhân dân đối với người anh hùng Lý Tiến

Thái độ và hành động suối với thế hệ trẻ có công với đất nước

- cần biết trân trọng tự hào và biết ơn với những người có công với đất nước

-cố gắng học tập và rèn luyện đạo đức để trở thành những người có ích góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước.

-tích cực tham gia vào những hoạt động xã hội thể hiện sự tưởng nhớ tri ân đến gia đình thương binh, liệt sĩ,...

29 tháng 3

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính ​Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Tự sự

Câu 2: Các chi tiết liên quan đến sự thật lịch sử ​Trong các truyện truyền thuyết như Lý Tiến, sự thật lịch sử thường là cái cốt lõi. Các chi tiết đó bao gồm: ​Thời đại: Chuyện xảy ra vào thời Hùng Vương thứ 6 ​Sự kiện: Đất nước ta bị giặc xâm lược ​Địa danh: Làng Lũng Thượng, nơi người anh hùng sinh ra.

Câu 3: Các chi tiết kì ảo, hoang đường và tác dụng ​Chi tiết kì ảo: Tiếng chim lạ hót báo điềm lành khi Lý Tiến ra đời; sự hy sinh của ông mang màu sắc thần thánh. sau khi mất vẫn hiển linh giúp dân ​Tác dụng: Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, ly kỳ. ​Tôn vinh, thần thánh hóa vẻ đẹp và sức mạnh của người anh hùng. ​Thể hiện sự ngưỡng mộ, tôn kính của nhân dân đối với người có công với nước.

​Câu 4: Phẩm chất của nhân vật Lý Tiến ​Phẩm chất: Yêu nước nồng nàn, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc. ​Chi tiết thể hiện: Khi giặc đến, ông không ngần ngại xin vua đi đánh giặc. ​Xông pha trận mạc, chiến đấu ngoan cường và anh dũng hy sinh trên chiến trường để bảo vệ bình yên cho đất nước

Câu 5: Tình cảm của nhân dân và trách nhiệm thế hệ trẻ ​Chi tiết nhân dân chôn cất và lập đền thờ ngay trên nền nhà cũ của Lý Tiến thể hiện lòng biết ơn sâu sắc, sự trân trọng và tôn vinh vĩnh viễn đối với vị anh hùng. Họ muốn lưu giữ hình bóng ông như một phần máu thịt của quê hương. Đối với thế hệ trẻ ngày nay, chúng ta cần có thái độ thành kính, biết ơn và tự hào về lịch sử dân tộc. Hành động cụ thể là ra sức học tập, rèn luyện đạo đức, tích cực tham gia các hoạt động "đền ơn đáp nghĩa" và sẵn sàng cống hiến sức trẻ để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với sự hy sinh của cha ông đi trước.

31 tháng 3

1) phương thức biểu đạt chính của văn bản Ông Lí Tiến: là tự sự

2) văn bản "Ông Lí Tiến"(truyện truyền thuyết)chứa đựng nhiều chi tiết liên quan đến sự thật lịch sử Thời Hùng Vương

3)trong truyện Ông Lí Tiến (truyện thần kì),chi tiết kì ảo khoang đường tiêu biểu là nhân vật Lí Tiến

4)-Trong truyện truyền thuyết; nhân vật Lí Tiến nổi bật với phẩm chất nhân hậu

Câu 1 tự sự câu 2 biểu cảm câu 3 không biết câu 4 chi tiết kỳ ảo

6 tháng 4

1 hheheh


7 tháng 4

câu1 Phương thức biểu đạt chính trong bài văn đó là tự sự.

câu2 Bối cảnh thời vua Hùng thứ sáu thời điểm giặc Ân xâm lược việc lập đền thờ Phù Đổng Thiên Vương tại làng Gióng cùng các dấu tích địa danh.

câu3 Các yếu tố hoang đường kì ảo là con người có khả năng đặc biệt sự giúp đỡ của thế lực siêu nhiên hay các sự kiện biến hoá.Tác dụng là khiến bài đọc hấp dẫn li kì hơn.

câu4Nhân vật Lý Tiến có tấm lòng nhân hậu yêu nước thương dân sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc

câu 5Theo em hành động đó của người dân là đang tri ân vị anh hùng và lập miếu thờ để cho con cái sau này thờ và nhớ ơn ông.Chứng tỏ người dân thời đó vô cùng biết ơn và quý trọng ông.

Ptbd chính là biểu cảm

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi.SỰ TÍCH CÂY NGÔ     Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi.

SỰ TÍCH CÂY NGÔ

     Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng Aưm đã trở thành chỗ dựa của mẹ. Hằng ngày, cậu dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ. Nhưng trời ngày càng hạn hán hơn. Có những lần cậu đi cả ngày mà vẫn không tìm được thứ gì để ăn. Một hôm, vừa đói vừa mệt cậu thiếp đi bên bờ suối. Trong mơ, cậu nhìn thấy một con chim cắp quả gì to bằng bắp tay, phía trên có chùm râu vàng như mái tóc của cậu. Con chim đặt quả lạ vào tay Aưm rồi vỗ cánh bay đi. Tỉnh dậy Aưm thấy quả lạ vẫn ở trên tay. Ngạc nhiên, Aưm lần bóc các lớp vỏ thì thấy phía trong hiện ra những hạt màu vàng nhạt, xếp thành hàng đều tăm tắp. Aưm tỉa một hạt bỏ vào miệng nhai thử thì thấy có vị ngọt, bùi. Mừng quá, Aưm cầm quả lạ chạy một mạch về nhà.

     Mẹ của cậu vẫn nằm thiêm thiếp trên giường. Thương mẹ mấy ngày nay đã đói lả, Aưm vội tỉa những hạt lạ đó mang giã và nấu lên mời mẹ ăn. Người mẹ dần dần tỉnh lại, âu yếm nhìn đứa con hiếu thảo. Còn lại ít hạt, Aưm đem gieo vào mảnh đất trước sân nhà. Hằng ngày, cậu ra sức chăm bón cho cây lạ. Nhiều hôm phải đi cả ngày mới tìm được nước uống nhưng Aưm vẫn dành một gáo nước để tưới cho cây. Được chăm sóc tốt nên cây lớn rất nhanh, vươn những lá dài xanh mướt. Chẳng bao lâu, cây đã trổ hoa, kết quả.

     Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ. Aưm hái những quả lạ có râu vàng hoe như mái tóc của cậu biếu bà con để làm hạt giống. Quý tấm lòng thơm thảo của Aưm, dân bản lấy tên cậu bé đặt tên cho cây có quả lạ đó là cây Aưm, hay còn gọi là cây ngô. Nhờ có cây ngô mà từ đó, những người dân Pako không còn lo thiếu đói nữa.

(Theo truyencotich.vn)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. (0.5 điểm) Aưm có hoàn cảnh như thế nào?

Câu 3. (1.0 điểm) Tìm 01 từ láy có trong câu chuyện và đặt 01 câu với từ láy đó.

Câu 4. (1.0 điểm) Chi tiết "Hằng ngày, Aưm dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ." đã chứng minh Aưm là người thế nào?

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

22

Câu 1:
Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ ba

Câu 2:
Aưm sống trong hoàn cảnh nghèo khó, mồ côi cha, mẹ thì đau ốm liên miên, bản làng lại bị hạn hán, đói khát

Câu 3:

- từ láy: thiêm thiếp

- đặt câu: Bé ngủ thiêm thiếp trong vòng tay mẹ.

Câu 4: chi tiết đó chứng minh Aưm là một cậu bé hiếu thảo, chăm chỉ, yêu thương và hết lòng lo lắng cho mẹ

Câu 5:
Bài học em rút ra từ câu chuyện:cần biết yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ, sống biết sẻ chia, giúp đỡ người khác, đồng thời phải chăm chỉ, kiên trì và biết vượt qua khó khăn trong cuộc sống

25 tháng 9 2025

hay quá

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai. Một đêm kia, dưới...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA

Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai.

Một đêm kia, dưới ánh trăng mờ, ông lão bỗng thấy một cô bé đang hái trộm dưa. Ông lão bèn giữ lại hỏi, mới biết cô gái mồ côi cha mẹ sống lưu lạc ở vùng này. Thấy diện mạo cô bé khác với người thường, lại ở vào hoàn cảnh đáng thương, vợ chồng ông lão đem lòng thương mến và đem về làm con nuôi, thương quý như con đẻ của mình. Vợ chồng ông lão không hay biết rằng: chính cô bé mồ côi ấy là Thiên Y A Na hoá thân.

Đến một ngày kia vùng núi Đại An bị nạn hồng thuỷ, nước sông dâng lên một màu đỏ đục. Đứng trước cảnh tượng ấy, Thiên Y A Na bỗng nhớ tới cảnh tiên cung, mặt mày ủ dột, rồi để tự khuây khoả, Thiên Y A Na đi hái hoa quả trên núi, xếp đặt lại, tạo nên một cảnh núi non giả, ngồi ngắm nghía và đùa nghịch để khỏi bận tâm đến cảnh thuỷ tai đang diễn ra quanh mình. Vì thế, Thiên Y A Na bị ông lão quở trách nặng lời. Hối hận vì mình đã làm cho cha mẹ nuôi phiền lòng, Thiên Y A Na đã dùng phép hoá thân, nhập vào khúc gỗ trầm đang trôi ra biển cả, rồi dạt vào bờ biển Bắc. Nhân dân địa phương thấy khúc gỗ quý, xúm nhau lại, định khiêng về, nhưng lạ thay hàng trăm người ghé vai vào đều khiêng không nổi.

Tin đồn đến tai thái tử miền nọ. Thái tử ra tận bờ biển nhấc thử, thì khúc gỗ được nhấc lên một cách nhẹ nhàng. Cho là điềm lạ, thái tử đem khúc gỗ về cung cất giữ coi như một vật quý hiếm. Một đêm nằm trằn trọc mãi không sao ngủ được, thái tử định sang thư phòng xem sách, khi đi ngang qua vườn thượng uyển, bỗng thấy một cô gái trẻ, đẹp đang dạo chơi ở đó. Nghe tiếng động, cô gái vội vàng chạy về phía hoàng cung rồi biến mất. Nhưng vào một đêm khác, cô gái xuất hiện. Thái tử có ý bí mật theo dõi, dò xét để biết thực hư. Một cuộc giáp mặt diễn ra quá bất ngờ, cô gái không kịp hoá phép ẩn mình vào khúc gỗ, đành phải kể lại lai lịch của mình cho thái tử nghe. Thái tử đem lòng thương yêu cô gái. Tin này liền đến tai vua cha. Nhà vua cho mời thầy đoán quẻ. Thấy có điềm lành, vua liền cho kết duyên vợ chồng.

Sau mấy năm trời chung sống hạnh phúc nơi đất Bắc, Thiên Y A Na vẫn nhớ về vườn dưa, nơi cha mẹ nuôi sống lam lũ, hiu quạnh. Nỗi thương nhớ thôi thúc Thiên Y A Na trốn thái tử, bỏ hoàng cung, cùng hai con biến vào khúc gỗ trầm, theo dòng nước biển trôi về quê hương người Chăm-pa ở cửa biển Cù Huân.

Nhưng khi trở về Đại An, bà mới biết rằng cha mẹ nuôi đã qua đời từ lâu. Thiên Y A Na bèn lập miếu thờ hai ông bà trên núi Đại An. Trong thời gian ngắn ngủi lưu lại ở Đại An, bà đã tạo lập vườn tược nơi đất cũ, bày dân làng cách làm ruộng, cách chữa bệnh và nuôi dạy con cái.

Thái tử bên Bắc, từ khi xa cách vợ con, lòng nhớ thương sầu muộn khôn nguôi, quên ăn, quên ngủ. Thái tử bèn xin cha mẹ cấp cho một đội chiến thuyền, hướng về Nam, giong buồm chạy suốt ngày đêm để tìm tung tích mẹ con Thiên Y A Na. Khi thuyền tới biển Cù Huân, thái tử cho người lên núi hỏi thăm dân chúng về Thiên Y A Na. Nhưng từ lâu lắm, dân chúng đã không thấy tăm tích của Bà đâu nữa.

Nhân dân địa phương nhớ ơn công đức của Thiên Y A Na, tôn xưng là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”. Họ bỏ bao công sức và tâm huyết xây một ngôi tháp thật đẹp và uy nghi trên ngọn núi thiêng, nơi tiếp giáp với cửa sông, gọi là Tháp Bà. Ngôi tháp ấy là để thờ Bà, nhưng cũng để thờ Thái tử, chồng bà (tức thờ Ông), thờ vợ chồng ông lão tiều phu (cha mẹ nuôi), cùng hai con của Bà. Trải qua mưa nắng thời gian, ngôi tháp đó vẫn tồn tại bền vững uy nghi cho đến tận ngày nay.

(Theo Trần Việt Kỉnh, Văn hoá dân gian Khánh Hoà, NXB Văn hoá dân tộc, 2012)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản trên.

Câu 2. (0.5 điểm) Vì sao nhân dân tôn xưng là Thiên Y A Na là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”?

Câu 3. (1.0 điểm) Tìm 02 từ láy có trong văn bản trên và giải thích nghĩa của 02 từ láy đó.

Câu 4. (1.0 điểm) Chỉ ra 01 yếu tố kì ảo trong văn bản trên và nêu tác dụng.

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

3

Câu 1 ngôi kể thứ ba. câu 2 vì họ nhớ đến ơn Đức của bà đã tạo Lập vườn tược nơi đất cũ ,bày dân làng cách chữa bệnh làm ruộng và nuôi dạy con cái. Câu 3 từ láy là nhẹ nhàng giải thích nghĩa là có tính chất nhẹ không gây cảm giác gì ,từ láy là lam lũ có nghĩa vất vả khổ cực trong cảnh thiếu thốn. Câu 5 con người cần biết hiếu thảo kính trọng biết ơn cha mẹ kể cả cha mẹ nuôi phải luôn gắn bó với cội nguồn nhớ về quê hương không quên nơi đã sinh ra nuôi dưỡng mình biết yêu thương giúp đỡ nhân dân đêm kiến thức kinh nghiệm để làm lợi cho cộng đồng.

19 tháng 2

câu 1

câu chuyện được viết theo ngôi kể số 3

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:HƯƠNG HOA HOÀNG LAN Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

HƯƠNG HOA HOÀNG LAN

Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn cây hoàng lan, nó như một cậu anh cả trong vườn, to lớn, vững chắc…

– Bà ơi, cây hoàng lan này có lâu chưa bà?

Bà cười, tay bà vẫn cẩn thận gài những nhành cây nhót phủ đầy hoa trắng ngà vào hàng rào:

– Nó có từ lâu lắm, hồi bằng các cháu, bà đã thấy nó to và cao như thế này rồi. Bao năm trôi qua, cứ tưởng nó sẽ già đi, nhưng không, mỗi mùa xuân tới nó lại trẻ trung như hồi nào.

– Bà ơi, thế bà có biết ai trồng nó không hả bà? Bà lắc đầu:

– Hồi trước, bà cũng hỏi như cháu ấy, nhưng chẳng ai biết.

Hà đến bên cây hoàng lan, thân nó mốc thếch và nứt nẻ. Những chú kiến đen hối hả leo cây. Từ trên cành cây cao, đôi chim sâu chuyền cành tíu tít.

– Cháu biết không, cứ mỗi dịp cây hoàng lan ra hoa thì cả vùng này thơm nức…

– Bà ơi, bên kia sông có ngửi thấy hương của cây hoàng lan này không? – Hà tò mò hỏi.

– Có chứ! Hương hoa lan còn bay xa hơn nữa cháu ạ.

– Xa nữa cơ ạ? Con sông rộng thế mà gió cũng đưa nó qua sông được bà nhỉ…

Bà dừng tay, đôi mắt nhìn xa xôi:

– Hồi ông đi bộ đội, thư nào về ông cũng hỏi cây hoàng lan. Ông nhớ nó lắm. Rồi ông bảo bà gửi cho ông mấy cánh hoa vàng của cây hoàng lan này.

– Bà có gửi cho ông không? – Hà chăm chú. Bà gật đầu rồi dắt Hà vào nhà. Bà lần mở cái rương mây nhỏ trên đầu giường và lấy ra mấy cánh hoa đã héo quắt queo và đen sẫm lại.

– Những cánh hoa này đấy cháu ạ. Các chiến sĩ trong đơn vị đã tìm thấy nó ở dưới đáy ba lô của ông… Hà run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà. Cô bé ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ. Hà thấy bà cũng nhìn theo… Bây giờ thì cô bé đã hiểu vì sao bà yêu quý cây hoàng lan và mảnh vườn này đến thế. Những cánh hoa hoàng lan đã đen sậm trên tay Hà như vẫn còn phảng phất hương thơm.

(Hương hoa hoàng lan, Nguyễn Phan Khuê, NXB Kim Đồng)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. (0.5 điểm) Theo câu chuyện trên, ai là người trồng cây hoàng lan?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nhân hoá được sử dụng trong câu sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó:

     Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà.

Câu 4. (1.0 điểm) Theo em, vì sao Hà “run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà” và “ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ”?

Câu 5. (1.0 điểm) Từ câu chuyện về cây hoàng lan, em hãy viết một đoạn văn khoảng 3 –5 câu trình bày suy nghĩ của em về vai trò của gia đình đối với cuộc sống của mỗi người.

69
27 tháng 10 2025

gia đình là chụ cột tinh thần của chúng ta và cũng là nơi sưởi ấm trái tim ta

5 tháng 11 2025

manager là gì


I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau: NGHE THẦY ĐỌC THƠ     Em nghe thầy đọc bao ngàyTiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà      Mái chèo nghiêng mặt sông xaBâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa      Nghe trăng thở động tàu dừaRào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời     Đêm nay thầy ở đâu rồiNhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe… (Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

NGHE THẦY ĐỌC THƠ

     Em nghe thầy đọc bao ngày

Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà

      Mái chèo nghiêng mặt sông xa

Bâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa

      Nghe trăng thở động tàu dừa

Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời

     Đêm nay thầy ở đâu rồi

Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe…

(Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hoá dân tộc, 1999)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Chỉ ra các tiếng hiệp vần với nhau trong hai dòng thơ sau:

     Đêm nay thầy ở đâu rồi

Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe…

Câu 3. (1.0 điểm) Biện pháp tu từ nhân hoá trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" đem lại tác dụng gì?

Câu 4. (1.0 điểm) Hình ảnh quê hương hiện lên như thế nào khi thầy đọc thơ?

Câu 5. (1.0 điểm) Em thích hình ảnh nào nhất trong bài thơ? Vì sao?

13
24 tháng 12 2025

Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"

Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:

- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.

- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.

- Gợi lên tình cảm thầy trò.

Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.

Câu 1: Thể thơ Lục Bát

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:    Lặng rồi cả tiếng con veCon ve cũng mệt vì hè nắng oi.    Nhà em vẫn tiếng ạ ờiKẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.   Lời ru có gió mùa thuBàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.    Những ngôi sao thức ngoài kiaChẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.     Đêm nay con ngủ giấc trònMẹ là ngọn gió của con suốt đời. (Mẹ, Trần...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

    Lặng rồi cả tiếng con ve

Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.

    Nhà em vẫn tiếng ạ ời

Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.

   Lời ru có gió mùa thu

Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.

    Những ngôi sao thức ngoài kia

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

     Đêm nay con ngủ giấc tròn

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

(Mẹ, Trần Quốc Minh)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. (0.5 điểm) Bên cạnh tiếng ve, những âm thanh nào xuất hiện trong văn bản trên?

Câu 3. (1.0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai dòng thơ sau:

    Những ngôi sao thức ngoài kia

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

Câu 4. (1.0 điểm) Nêu nhận xét của em về hình ảnh người mẹ trong văn bản trên.

Câu 5. (1.0 điểm) Theo em, lời ru của mẹ có vai trò như thế nào trong cuộc sống của mỗi chúng ta?

11
17 tháng 12 2025

Íhdhdhfgfhfhfj

16 tháng 2

CÂU1:Thơ lục bát

CÂU2:BÊN CẠNH TIẾNG VE , NHỮNG ÂM THANH SAU XUẤT HIỆN TRONG VĂN BẢN: TIẾNG VÕNG, TIẾNG MẸ RU..

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM) Tôi là đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo. Mùa xuân đến, từ trên cánh tay và mái tóc của mẹ, từng nụ hoa dẻ nhú ra như quả cầu xanh có tua gai nhỏ. Rồi hoa lớn dần thành những trái dẻ xù xì gai góc. Anh chị em chúng tôi ra đời như thế đó. Chúng tôi lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông. Những cơn mưa ào đến...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Tôi là đứa con bé nhất của mẹ Dẻ Gai trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo.

Mùa xuân đến, từ trên cánh tay và mái tóc của mẹ, từng nụ hoa dẻ nhú ra như quả cầu xanh có tua gai nhỏ. Rồi hoa lớn dần thành những trái dẻ xù xì gai góc. Anh chị em chúng tôi ra đời như thế đó.

Chúng tôi lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông. Những cơn mưa ào đến gội ướt đẫm tóc mẹ và tắm mát cho chúng tôi. Nắng làm bỏng rát cả làn da và mái tóc của mẹ.

Khi thu về, trái dẻ khô đi, lớp áo gai đã chuyển sang màu vàng cháy. Hạt dẻ căng tròn làm nứt bung cả tấm áo gai xù đã quá chật chội. Tôi vẫn nằm im trong lớp áo gai xù, nép vào một cánh tay của mẹ. Tôi chẳng muốn chui khỏi tấm áo ấm áp, an toàn đó chút nào.

Nhưng rồi những ngày thu êm ả cũng trôi qua. Gió lạnh buốt bắt đầu thổi ù ù qua khu rừng. Gió vặn vẹo những cánh tay dẻo dai của mẹ. Gió lay giật tấm thân vững chãi của mẹ. Nhưng mẹ vẫn bền gan đứng trên sườn núi cheo leo.

Khi mùa đông đến, tôi cứ thu mình mãi trong tấm áo gai xù ấm áp của họ nhà dẻ gai và nép mãi vào tay mẹ, tóc mẹ. Tôi sợ phải xa mẹ, sợ phải tự sống một mình. Tôi sợ những gì lạ lẫm trong rừng già. Nhưng tôi nghe tiếng mẹ thì thầm:

– Bé Út của mẹ, con nhỏ nhất nhà so với các anh chị nhưng con cũng đã lớn rồi đấy. Con là một bé dẻ gai rất khoẻ mạnh. Hãy dũng cảm lên nào, con sẽ bay theo gió và sẽ trở thành một cây dẻ cường tráng trong cánh rừng này nhé!

Tôi cố quẫy mình… Tấm áo gai dày và ấm bất chợt bung ra. Và tôi nhìn rõ cả cánh rừng già, cả sườn núi cao, cả bầu trời mây gió lồng lộng ào ạt trôi trên đầu mẹ. Hoá ra tôi là trái dẻ cuối cùng đang nép trên cánh tay vươn cao nhất của mẹ. Mẹ đưa tay theo chiều gió và thì thầm với riêng tôi: “Tạm biệt con yêu quý, hạt dẻ bé bỏng nhất của mẹ. Dù thế nào con cũng sẽ lớn lên, hãy dũng cảm và đón nhận cuộc sống mới nhé!”.

Tôi bỗng thấy mình bay nhẹ theo làn gió, tung mình vào khoảng không bao la rồi rơi êm xuống thảm lá ấm sực của rừng già… “Tạm biệt mẹ! Con yêu mẹ!” – tôi gọi với theo gió trước khi chìm vào giấc ngủ đông ấm áp. Và tôi mơ…

(Theo Phương Thanh Trang, trích Câu chuyện của hạt dẻ gai, tạp chí Văn học và tuổi trẻ, số 12 (465), 2020)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. (0.5 điểm) Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong hoàn cảnh như thế nào?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra 02 từ láy có trong văn bản trên và giải thích nghĩa của các từ vừa tìm được.

Câu 4. (1.0 điểm) Nhân vật “tôi” thể hiện những đặc điểm gì của nhân vật trong truyện đồng thoại?

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ văn bản trên?

15
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.

Câu 2.

Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông (điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt).

Câu 3.

Hai từ láy trong văn bản:

  • xù xì: chỉ bề mặt thô ráp, không nhẵn.
  • chật chội: chật, gây cảm giác bức bối, khó chịu.

Câu 4.

Nhân vật “tôi” (hạt dẻ gai) mang đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại:

  • Vừa mang đặc điểm của loài vật/thực vật (có vỏ xù xì, gai góc).
  • Vừa mang đặc điểm của con người: biết suy nghĩ, cảm xúc, lo sợ, được mẹ an ủi (nhân hoá).

Câu 5.

Bài học rút ra:

Muốn trưởng thành, mỗi người cần dũng cảm rời vòng tay che chở, tin vào bản thân và sẵn sàng đối diện với thử thách trong cuộc sống.


18 tháng 12 2025

Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại

Câu 2: Theo văn bản ,những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa ,mưa dông

Câu 3: Hai từ láy là :"xù xì", "chật chội"

-Nghĩa của từ "chật chội": chật, gây nên cảm giác bức bối khó chịu

- Nghĩa của từ "xù xì": bù xù, gây nên cảm giác khó chịu

Câu 4: Nhân vật tôi ( dẻ gai) là mội loài thực vật , vừa mang đặc điểm của lòa vật vừa mang đặc điểm của con người  (được nhân các hóa)

Câu 5: Qua bài đọc em rút ra được bài học là : Muốn trưởng thành, ta phải dũng cảm bước ra khỏi vòng tay che  chở, tin vào bản thân, sẵn sàng đối diện với thử thách

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:CON VẸT NGHÈO Hằng năm, mỗi khi mùa xuân về, các giống chim và thú vật lại rủ nhau tới rừng mở hội. Nào Voi, Gấu, Hổ, Lợn Lòi… trổ tài thi khoẻ. Nào Khỉ, Vượn, Sóc… đua nhau leo trèo. Còn các giống chim khác thì thi giọng hát. Trong bầy chim muôn hình ngàn vẻ kia, có chú Vẹt áo đen. Chú ta cũng khấp khởi đi thi. Gặp ai, nó cũng khoe mình có...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

CON VẸT NGHÈO

Hằng năm, mỗi khi mùa xuân về, các giống chim và thú vật lại rủ nhau tới rừng mở hội. Nào Voi, Gấu, Hổ, Lợn Lòi… trổ tài thi khoẻ. Nào Khỉ, Vượn, Sóc… đua nhau leo trèo. Còn các giống chim khác thì thi giọng hát.

Trong bầy chim muôn hình ngàn vẻ kia, có chú Vẹt áo đen. Chú ta cũng khấp khởi đi thi. Gặp ai, nó cũng khoe mình có rất nhiều giọng hót. Nhìn thấy Vượn, nó hú tiếng Vượn. Nhác thấy Ếch bì bộp nhảy ra, nó cũng hé mỏ “ộp ộp” luôn. Trên đường đi, gặp Hoạ Mi đang cố luyện giọng, Vẹt tỏ vẻ thương hại. Nó nghĩ: “Việc gì mà phải hót lên hót xuống mãi thế?”. Gặp Sáo líu lo khúc hát đồng quê, Vẹt không thèm lắng nghe. Cậy mình biết hót nhiều giọng còn tuyệt vời hơn thế, nên nó huênh hoang lắm. Gặp ai, nó cũng khoe trước:

– Kì thi này, tôi chiếm giải nhất cho mà xem!

Vào cuộc thi, tất cả đều rất vui và cũng rất lo. Sẽ có và đang có ở đây biết bao nhiêu tài năng, chưa thể rõ ai xuất sắc nhất. Bởi thế, loài chim nào cũng yên lặng đợi chờ. Chỉ có Vẹt là cứ lăng xăng, chạy chỗ nọ chỗ kia, làm như mình sắp đoạt giải đến nơi.

Đã tới giờ thi tài. Giám khảo Chim Khuyên và Ếch mời các bạn trong rừng hãy hăng hái ghi tên biểu diễn. Trong lúc chờ đợi xem ai ra trước, Vẹt nhấp nhổm nhưng chưa dám xung phong. Bỗng nghe “quạc quạc”, Vẹt quay lại. A, Vịt à? Vịt ra trước à? Thấy vậy, Vẹt ta liền nhảy vào hót lên một chuỗi âm thanh líu ríu. Chim Khuyên nhấc bút định chấm cho Vẹt tám điểm, thì Liếu Điếu kêu:

– Đấy là tiếng hót của tôi!

Ban giám khảo bảo Vẹt hót lại. Vẹt liền đập cánh, vươn cổ gáy một hơi dài. Gà Trống lên tiếng:

– Đấy là tiếng hót của tôi!

Vẹt tức mình, huýt một hồi lanh lảnh. Chích Choè đứng bên cạnh nhận ngay đấy là giọng hót của Chích Choè.

Giám khảo Ếch liền bảo Vẹt hãy hót lên tiếng hót của chính mình. Vẹt nhướn cổ, hú rõ to. Ngay lúc đó, Vượn nhào tới túm lấy Vẹt:

– Sao lại hú tiếng của tớ?

Vẹt hoảng hốt bay lên. Nó không làm sao nghĩ ra cho được tiếng hót của mình nữa. Nó ngượng nghịu nhìn các bạn. Từ xưa đến nay, Vẹt chỉ biết bắt chước, hót theo tiếng hót của người khác mà thôi. Nó hót đấy mà nó không hiểu gì cả. Tới lúc này, nó mới biết là nó rất nghèo. Nó không có tiếng hót riêng…

(Theo Phong Thu, NXB Kim Đồng, 2018, tr.149 – 151)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5.

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi kể nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Chỉ ra 02 từ láy trong câu chuyện trên.

Câu 3. (1.0 điểm) Giải thích vì sao câu chuyện trên thuộc thể loại truyện đồng thoại.

Câu 4. (1.0 điểm) Em có đồng tình với hành động bắt chước của Vẹt không? Vì sao?

Câu 5. (1.0 điểm) Từ câu chuyện trên, em rút ra bài học gì cho bản thân?

23
14 tháng 12 2025
Câu 1. Ngôi kể Ngôi thứ ba. Câu 2. Hai từ láy: bắt chướclăng xăng. Câu 3. Đây là truyện đồng thoại vì nhân vật là loài vật (Vẹt) được nhân cách hóa và truyện mang ý nghĩa giáo dục. Câu 4. Em không đồng tình. Vẹt bắt chước mù quáng mà không hiểu gì, thiếu bản sắc riêng. Câu 5. Bài học rút ra: Cần sống độc lậptự tin và phát huy năng khiếu riêng của bản thân.


17 tháng 12 2025

1,kể theo ngôi thứ ba


I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc bài thơ sau:        TÓC CỦA MẸ TÔI     Mẹ tôi hong tóc buổi chiềuQuay quay bụi nước bay theo gió đồng     Tóc dài mẹ xoã sau lưngBao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.     Tóc sâu của mẹ tôi tìmNgón tay lần giữ ấm mềm yêu thương     Bao nhiêu sợi bạc màu sươngBấy nhiêu lần mẹ lo buồn vì tôi.    Con ngoan rồi đấy mẹ ơiƯớc gì tóc mẹ bạc...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc bài thơ sau:

        TÓC CỦA MẸ TÔI

     Mẹ tôi hong tóc buổi chiều
Quay quay bụi nước bay theo gió đồng
     Tóc dài mẹ xoã sau lưng
Bao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.

     Tóc sâu của mẹ tôi tìm
Ngón tay lần giữ ấm mềm yêu thương
     Bao nhiêu sợi bạc màu sương
Bấy nhiêu lần mẹ lo buồn vì tôi.

    Con ngoan rồi đấy mẹ ơi
Ước gì tóc mẹ bạc rồi lại xanh.

  (Phan Thị Thanh Nhàn, Con muốn mặc áo đỏ đi chơi, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0.5 điểm) Bài thơ trên là lời của ai viết cho ai?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó:

Tóc dài mẹ xoã sau lưng
Bao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen.

Câu 4. (1.0 điểm) Em hiểu như thế nào về hai dòng thơ sau?

         Con ngoan rồi đấy mẹ ơi
  Ước gì tóc mẹ bạc rồi lại xanh.

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ bài thơ trên?

4
29 tháng 10 2025

ky thuat ki m tra chc nang

25 tháng 12 2025

−ω−

21 tháng 9 2025

Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống


Dàn ý:

  1. Mở bài:
    • Giới thiệu khái quát về thói quen bắt chước. Bắt chước có thể là một phần tự nhiên của quá trình học hỏi, nhưng bắt chước mù quáng lại là một thói quen tiêu cực.
    • Nêu vấn đề chính: Thói bắt chước mù quáng mang lại nhiều tác hại nghiêm trọng cho con người.
  2. Thân bài:
    • Làm mất đi bản sắc và cá tính: Khi bắt chước, con người không còn là chính mình. Họ sống theo khuôn mẫu của người khác, dần dần đánh mất những nét riêng, sở thích và giá trị cá nhân. Đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin và hèn nhát trong việc thể hiện bản thân.
    • Gây ra sự thất bại: Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Bắt chước cách làm của người khác mà không có sự cân nhắc, sáng tạo sẽ rất dễ dẫn đến thất bại. Chẳng hạn, một người khởi nghiệp bắt chước mô hình kinh doanh của một công ty lớn mà không xem xét thị trường, vốn và năng lực của mình sẽ khó thành công.
    • Gây cản trở sự phát triển: Khi chỉ biết bắt chước, con người sẽ không còn động lực để tư duy, sáng tạo và tìm tòi cái mới. Xã hội sẽ dậm chân tại chỗ nếu ai cũng đi theo lối mòn cũ.
    • Mất đi sự tôn trọng của người khác: Một người chỉ biết bắt chước thường không được đánh giá cao, vì họ không có ý kiến độc lập và không thể tự đưa ra quyết định.
  3. Kết bài:
    • Khẳng định lại vấn đề: Thói bắt chước mù quáng là một rào cản lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội.
    • Nêu giải pháp: Mỗi người cần học cách sống là chính mình, biết lắng nghe, học hỏi nhưng phải có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên dấu ấn riêng.


Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em


Dàn ý:

  1. Mở bài:
    • Giới thiệu về trải nghiệm đó. Nêu cảm nhận ban đầu của bạn về nó. Ví dụ: "Trong cuộc đời mỗi người, có những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc..." hoặc "Đó là một buổi chiều mưa, nhưng lại là lúc tôi nhận ra giá trị của lòng nhân ái..."
  2. Thân bài:
    • Bối cảnh: Kể lại bối cảnh xảy ra câu chuyện: thời gian, địa điểm, những nhân vật liên quan.
    • Diễn biến:
      • Tường thuật lại toàn bộ câu chuyện theo trình tự thời gian.
      • Tập trung vào những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng mạnh. Dùng các từ ngữ miêu tả sinh động để người đọc cảm nhận được cảm xúc của bạn khi đó (vui, buồn, thất vọng, bất ngờ...).
      • Điểm mấu chốt: Sự kiện nào đã làm thay đổi suy nghĩ, cảm xúc của bạn?
    • Ý nghĩa: Phân tích sâu sắc ý nghĩa của trải nghiệm đó.
      • Bạn đã học được điều gì từ câu chuyện? (ví dụ: sự kiên trì, lòng biết ơn, tình yêu thương, sự tha thứ...)
      • Trải nghiệm đó đã thay đổi bạn như thế nào? (ví dụ: giúp bạn tự tin hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn, thay đổi cách nhìn về một vấn đề nào đó...).
  3. Kết bài:
    • Tổng kết lại giá trị của trải nghiệm.
    • Khẳng định lại rằng trải nghiệm đó sẽ mãi là một bài học quý giá, một kỷ niệm không thể quên.
25 tháng 12 2025

Bài làm

Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau

Trong kho tàng truyền thuyết phong phú của Việt Nam, câu chuyện về Sự Tích Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm luôn chiếm một vị trí đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa lịch sử mà còn vì vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của nó. Truyền thuyết này gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV

Truyền thuyết kể rằng, khi đất nước đang chìm trong ách đô hộ của giặc Minh, lòng người căm phẫn và khao khát độc lập. Thấu hiểu ý trời và lòng dân, Đức Long Quân đã quyết định trao cho Lê Lợi một bảo vật thiêng liêng để giúp ông hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc: đó là Thanh Gươm Thần. Thanh gươm không được trao trực tiếp. Lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy dưới đáy sông, còn chuôi gươm nạm ngọc lại được tìm thấy trên ngọn cây, tỏa ánh sáng rực rỡ, tất cả đều do người của Lê Lợi tình cờ nhặt được

khi lưỡi và chuôi hợp lại, thanh gươm trở nên hoàn chỉnh, mang sức mạnh phi thường. Nhờ có Thanh Gươm Thần, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, liên tiếp giành thắng lợi vang dội, cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước. Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên nhà Hậu Lê, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị

Saukhi đất nước yên bình, tong một lần nhà vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) dạo chơi trên chiếc thuyền rồng ở hồ Tả Vọng (tên cũ của Hồ Gươm), một Con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước. Rùa Thần tiến đến gần thuyền vua, cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hoàn trả lại gươm cho Long Quân!” Nhà vua hiểu ra rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành. Vua bèn rút gươm trao cho Rùa Vàng.Rùa Thần đón lấy gươm, ngậm vào miệng rồi lặn xuống đáy hồ. Kể từ đó, hồTả Vọng được đổi tên thành Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm) minh chứng cho lòng nhân ái, hòa bình của dân tộc và sự đồng lòng giữa Trời – Đất – Người trong công cuộc cứu nước

Truyền thuyết này không chỉ là một câu chuyện thần kỳ mà còn thể hiện tinh thần thượng võ và yêu chuộng hòa bình của người Việt, nhắc nhở các thế hệ về công lao của cha ông và ý nghĩa thiêng liêng của độc lập, tự do

26 tháng 9 2025

Trong số các truyền thuyết cổ xưa của dân tộc Việt Nam, câu chuyện về Sơn Tinh và Thủy Tinh không chỉ là một huyền thoại giải thích hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người Việt trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai.

Truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Hùng thứ 18, có một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Vua Hùng muốn kén cho con gái một người chồng xứng đáng nên đã mở hội thi tuyển rể. Từ khắp nơi, nhiều chàng trai tài giỏi tìm đến, nhưng nổi bật nhất là hai vị thần: Sơn Tinh và Thủy Tinh.

Sơn Tinh là một chàng trai khôi ngô, có tài lạ: chỉ cần vẫy tay, núi đồi trùng điệp sẽ mọc lên, cây cối xanh tươi. Thủy Tinh cũng không kém cạnh, chàng có khả năng hô mưa gọi gió, làm cho biển cả và sông ngòi cuộn trào. Cả hai đều tài giỏi ngang sức ngang tài, khiến Vua Hùng khó lòng lựa chọn.

Cuối cùng, Vua Hùng đặt ra điều kiện thách cưới: "Sáng sớm hôm sau, ai mang đến sính lễ gồm một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao đến trước, người đó sẽ được cưới Mị Nương."

Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng, Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến trước. Vua Hùng giữ lời hứa, gả Mị Nương cho Sơn Tinh. Thần Núi rước vợ về núi Tản Viên.

Khi Thủy Tinh đến nơi, thấy Mị Nương đã theo chồng, chàng vô cùng giận dữ. Cảm thấy bị sỉ nhục, Thủy Tinh đã nổi cơn lôi đình, dốc toàn lực để báo thù. Thần Nước hô mưa, gọi gió, làm nước biển dâng cao, dìm chìm đồng bằng, muốn nhấn chìm núi Tản Viên để cướp lại Mị Nương.

Trước sức mạnh kinh hoàng của nước, Sơn Tinh không hề nao núng. Thần Núi dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên bao nhiêu, Sơn Tinh đắp đất, nâng núi cao lên bấy nhiêu. Cuộc chiến kéo dài ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng, sức Thủy Tinh kiệt dần, đành phải rút lui.

Tuy nhiên, mối thù này không bao giờ dứt. Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh để đòi Mị Nương, gây ra cảnh lũ lụt khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và năm nào cũng vậy, Sơn Tinh vẫn chiến thắng, giữ vững bờ cõi và bảo vệ cuộc sống của người dân.