Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
hai cách làm tăng hiệu suất:
- dùng dư axit acetic: làm phản ứng về phía tạo sản phẩm nhiều hơn theo nguyên tắc chuyển dịch cân bằng của le chatelier.
- liên tục tách nước sinh ra: nước là sản phẩm, nếu loại bỏ nước ngay khi phản ứng xảy ra, cân bằng dịch chuyển về phía tạo isoamyl acetate, tăng hiệu suất.
(1) N2 + O2 → 2NO
(2) 2NO + O2 → 2NO2
(3) 3NO2 + H2O → 2HNO3 + NO
(4) HNO3 → H⁺ + NO3⁻
a. Không được để các bình chứa xăng, dàu (gồm các ankan) gần lửu là vì: xăng dầu gồm các ankan mạch ngắn, dễ bay hơi, nên dễ bắt lửa. Nhưng người ta có thể nấu chảy nhựa đường( trong thành phần cùng có các ankan) để làm đường giao thông vì nhựa đường gồm các ankan có mạch cacbon rất lớn, khó bay hơi và kém bắt lửa.
b. Không dùng nước để dập các đám cháy xăng, dầu mà phải dùng cát hoặc các bình chứa khí cacbonic là vi: xăng, dầu nhẹ hơn nước; khi dùng nước thì xăng, dầu sẽ nổi lên trên mặt nước, làm cho đám cháy cháy to hơn. Còn khi sử dụng cát hoặc bình chứa khí cacbonic thì sẽ ngăn cản xăng, dầu tiếp xúc với oxi không khí là cho đám cháy bị dập tắt.
CH4 + 2H2O
CO2 + 4H2
CH4 + 2O2 (kk)
CO2 + 2H2O nên còn lại N2
N2 + 3H2 \(\Leftrightarrow\)2NH3
CH4 + 2H2O
CO2 + 4H2
CH4 + 2O2 (kk)
CO2 + 2H2O nên còn lại N2
N2 + 3H2 ⇔ 2NH3
Gọi CTHH là \(C_xH_y\).
\(\Rightarrow12x+y=3,17\cdot29\left(1\right)\)
Giả sử có 1 mol X.
\(C_xH_y+\left(x+\dfrac{1}{4}y\right)O_2\underrightarrow{t^o}xCO_2+\dfrac{1}{2}yH_2O\)
1 \(x\) \(\dfrac{1}{2}y\)
\(\dfrac{m_{CO_2}}{m_{H_2O}}=\dfrac{44x}{18\cdot\dfrac{1}{2}y}=4,28\Rightarrow y=1,14x\left(2\right)\)
Từ (1) và (2) \(\Rightarrow\left\{{}\begin{matrix}x=7\\y=8\end{matrix}\right.\Rightarrow C_7H_8\)
Khối lượng bình brom tăng = khối lượng etilen
=> Khối lượng etilen = 2.8g
-> n etilen = 2.8/28 = 0.1
=> nl etan = 0.15 - 0.1 = 0.05
\(n_{CH_4}=a\left(mol\right),n_{CO}=b\left(mol\right)\).
\(a+b=0,1\)
Kết thúc phản ứng thu được \(CO_2\)và \(H_2O\).
\(n_{CO_2}=n_C=a+b\)
\(n_{H_2O}=\frac{1}{2}n_H=\frac{1}{2}.4a=2a\)
Ta có: \(44\left(a+b\right)+18.2a=6,2\)
Giải hệ thu được: \(a=b=0,05\).
\(\%V_{CH_4}=50\%\).
Khối lượng của 1,00 lit nước là:
m = D.V = 1,00g/cm3.1000cm3 = 1000g
Nhiệt lượng mà 1000 gam nước thu vào để tăng nhiệt độ từ 25oC đến 100oC là:
Q = 1000.4,18(100 - 25) = 313.500(J)
Đó là nhiệt lượng mà khí metan khi đốt cháy cầ phải toả ra.
Khối lượng metan cần phải đốt cháy là:
Dưới đây là giải thích cho các câu hỏi của bạn:
- Trả lời: Vì Natri hoạt động rất mạnh, dễ phản ứng với ôxy và hơi nước trong không khí gây cháy nổ. Dầu hỏa giúp cách ly Natri với không khí.
Câu 2: Giải thích vì sao khí \(CO_{2}\) làm đục nước vôi trong.- Trả lời: Vì tạo ra kết tủa trắng Canxi cacbonat (\(CaCO_{3}\)) không tan theo phương trình:
Câu 3: Vì sao khi đốt cháy khí metan lại tỏa nhiều nhiệt?\(CO_{2}+Ca(OH)_{2}\rightarrow CaCO_{3}\downarrow +H_{2}O\)
Câu 1. Kim loại Na phải bảo quản trong dầu hỏa vì Na phản ứng rất mạnh với nước và oxi trong không khí, giải thích: Dầu hỏa ngăn Na tiếp xúc với không khí và hơi nước nên tránh bị cháy nổ hoặc biến chất.
Câu 2. Khí CO2 làm đục nước vôi trong vì CO2 phản ứng với Ca(OH)2 tạo ra CaCO3 kết tủa màu trắng, giải thích: Chất kết tủa CaCO3 không tan làm nước vôi trong bị vẩn đục.
Câu 3. Khi đốt cháy khí metan tỏa nhiều nhiệt vì metan phản ứng với oxi tạo CO2 và H2O, đồng thời giải phóng năng lượng lớn, giải thích: Đây là phản ứng cháy nên sinh nhiệt mạnh, vì vậy metan được dùng làm nhiên liệu.