Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Những năm tháng Tiểu học luôn là quãng thời gian hồn nhiên và đáng nhớ nhất trong cuộc đời em. Trong rất nhiều kỷ niệm đẹp ấy, em nhớ nhất là lần đầu tiên em được tham gia Hội thi “Kể chuyện Bác Hồ” của trường vào năm lớp 4.
Hôm đó, khi cô giáo chủ nhiệm thông báo em được chọn đại diện lớp đi thi, em vừa vui mừng vừa lo lắng. Em sợ mình nói sai hoặc quên bài trước đông người. Thế nhưng cô giáo luôn động viên, giúp em luyện tập mỗi ngày sau giờ học. Cô còn chỉ cho em cách đứng thẳng, mỉm cười, và nói thật tự nhiên để tạo thiện cảm với khán giả. Em chọn kể câu chuyện “Chiếc áo ấm tặng Bác” – một câu chuyện cảm động nói về tấm lòng nhân hậu của Bác Hồ đối với các cháu thiếu nhi.
Đến ngày thi, sân trường rợp cờ hoa, các lớp ngồi ngay ngắn cổ vũ. Khi bước lên sân khấu, em run lắm, tim đập nhanh đến mức tưởng như ai cũng nghe thấy. Nhưng khi nhìn thấy cô giáo đang mỉm cười động viên dưới hàng ghế khán giả, em bỗng cảm thấy bình tĩnh hơn. Em bắt đầu kể, giọng nói dần rõ ràng, truyền cảm, và em cố gắng thể hiện cảm xúc bằng cả trái tim. Khi em vừa dứt lời, mọi người vỗ tay vang dội, khiến em xúc động đến suýt rơi nước mắt.
Kết quả, em đạt giải Nhì toàn trường. Cô giáo ôm em và khen em rất dũng cảm. Ba mẹ cũng tự hào và thưởng cho em một quyển truyện mới. Từ lần đó, em hiểu rằng: nếu mình tin tưởng vào bản thân và chăm chỉ luyện tập, nhất định sẽ thành công.
Kỷ niệm ấy mãi là một trải nghiệm đáng nhớ trong tuổi thơ học trò của em — nơi em học được sự tự tin, lòng kiên trì và niềm vui khi vượt qua chính mình.
Trong những năm tháng học Tiểu học, em có rất nhiều kỉ niệm đẹp, nhưng trải nghiệm khiến em nhớ mãi là lần đầu tiên em tham gia hội thi văn nghệ của trường. Đó là một kỉ niệm vừa hồi hộp, vừa vui sướng mà em không bao giờ quên.
Hôm đó, lớp em được chọn biểu diễn múa trong buổi chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam. Ngay từ những buổi tập đầu tiên, em đã cảm thấy rất lo lắng vì sợ mình làm sai động tác, ảnh hưởng đến cả đội. Tan học, em cùng các bạn ở lại tập luyện cùng cô giáo. Có hôm chân đau, người mệt nhưng em vẫn cố gắng vì không muốn bỏ cuộc. Cô giáo luôn nhẹ nhàng động viên chúng em, nhờ vậy em cảm thấy tự tin hơn rất nhiều.
Đến ngày biểu diễn, khi đứng sau cánh gà nhìn xuống sân trường đông kín người, tim em đập rất nhanh. Em hồi hộp đến mức hai tay run lên. Nhưng khi tiếng nhạc vang lên, em nhớ lại lời cô dặn và bắt đầu thực hiện từng động tác. Mọi lo lắng dần tan biến, em cảm thấy mình đang hòa vào bài múa. Khi tiết mục kết thúc, em nghe thấy những tràng pháo tay vang lên khắp sân trường và lòng em tràn ngập niềm vui.
Từ trải nghiệm ấy, em rút ra bài học cho bản thân rằng: chỉ cần cố gắng, kiên trì và tin vào chính mình thì em sẽ vượt qua được nỗi sợ hãi. Kỉ niệm này đã giúp em trưởng thành hơn và trở thành một trải nghiệm đáng nhớ trong những năm tháng học Tiểu học của em.
Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, không có câu chuyện nào lại gắn bó sâu sắc với Thủ đô Hà Nội và tinh thần yêu nước hơn Truyền thuyết Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm). Truyền thuyết này không chỉ giải thích nguồn gốc của một di tích lịch sử mà còn tôn vinh chiến thắng vĩ đại và phẩm chất cao đẹp của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi.
Câu chuyện bắt đầu vào thời kỳ đất nước chìm trong ách đô hộ của giặc Minh. Khi đó, thủ lĩnh Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đang gặp vô vàn khó khăn, thiếu vũ khí và lương thực. Long Quân (Vua Rồng), cảm thương trước cảnh lầm than và thấy được ý chí quật cường của Lê Lợi, đã quyết định trao tặng một thanh gươm thần để giúp ông đánh đuổi quân xâm lược.
Thanh gươm thần này không được trao trực tiếp. Thay vào đó, một lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy trong lưới của ngư dân Lê Thận. Sau đó, một chuôi gươm nạm ngọc lại được chính Lê Lợi tìm thấy dưới gốc cây đa. Khi tra vào, lưỡi gươm và chuôi gươm khớp nhau một cách kỳ diệu, tạo thành thanh gươm báu mang tên ''Thuận Thiên''. Từ khi có gươm thần, nghĩa quân Lam Sơn như được tiếp thêm sức mạnh, liên tục giành thắng lợi và cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.
Sau khi đất nước thái bình, Lê Lợi lên ngôi vua (Lê Thái Tổ). Một hôm, nhà vua đang đi thuyền dạo chơi trên chiếc hồ lớn ở kinh thành. Bỗng nhiên, một con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước, tiến về phía thuyền Rồng. Rùa Vàng cất tiếng nói rõ ràng: "Xin bệ hạ hoàn trả gươm thần cho Long Quân!".
Nhà vua hiểu rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành, chiến tranh đã kết thúc, và lòng nhân ái mới là thứ cần thiết để xây dựng đất nước. Vua Lê Lợi liền rút gươm trao trả cho Rùa Vàng. Rùa Vàng ngậm thanh gươm báu rồi lặn xuống đáy hồ và biến mất. Kể từ đó, chiếc hồ được đặt tên là Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm), còn được gọi là Hồ Gươm.
Truyền thuyết Hồ Gươm là một câu chuyện đẹp không chỉ về lòng dũng cảm chiến đấu mà còn về tinh thần hòa bình. Nó khẳng định rằng, vũ khí thần thánh chỉ cần thiết khi đất nước bị xâm lăng. Khi độc lập đã được thiết lập, thanh gươm phải được trao trả, biểu tượng cho việc dân tộc ta gác lại chiến tranh, tập trung vào xây dựng cuộc sống thái bình. Hồ Gươm và tháp Rùa vẫn đứng đó giữa lòng Hà Nội, như một lời nhắc nhở vĩnh cửu về truyền thống yêu nước, giữ gìn hòa bình và sự kết nối thiêng liêng giữa con người với đất trời.
Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện đặc sắc. Truyện dân gian đã làm giàu trí tưởng tượng của chúng ta và là kho báu tình thần vô giá mà cha ông ta để lại. Trong đó , có những câu chuyện truyện truyền vừa mang những chi tiết kì ảo, hoang đường vừ gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Một trong số đó, em ấn tượng nhất với câu chuyện Thánh Gióng. Thuở xưa, vào đời Hùng Vương thứ VI, ở làng Gióng có hai vợ chồng già nổi tiếng là chăm chỉ làm ăn và có phúc đức. Nhưng hai vợ chồng lại muộn con. Một ngày nọ, bà lão đi làm đồng thì thấy một vết chân khổng lồ. Bà liền ướm thử xem hơn kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai. Mười hai tháng sau bà sinh ra một cậu bé, mặt mũi khôi ngô, sáng sủa. Nhưng điều kì lạ là đến khi lên ba tuổi, cậu bé vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, đặt đâu thì nằm đấy. Bấy giờ, giặc Ân muốn xâm chiếm bờ cõi nước ta. Thấy giặc mạnh, vua Hùng lo sợ nên hạ lệnh đi tìm người tài giỏi cứu nước. Gióng nghe thấy tiếng sứ giả rao bèn cất tiếng nói đầu tiên: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây." Khi sứ giả bước vào, cậu bé nói:"Ông về hãy tâu với vua rằng làm cho ta một bộ áo giáp sắt, một chiếc roi sắt và một con ngựa sắt. Ta sẽ đánh tan lũ giặc này." Sứ giả vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ vội chạy về tâu với vua. Vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật mà chú bé dặn. Sau hôm gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc mà đã đứt chỉ. Cha mẹ làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con đành phải chạy nhờ bà con, làng xóm. Ai cũng vui lòng gom góp gạo nuôi cậu bé vì ai cũng đều muốn cậu bé đánh đuổi lũ giặc này để cho mọi người được sống trong sự bình yên, hạnh phúc. Bấy giờ, giặc đã đến chân núi Trâu, sứ giả vội vàng đem những vật mà chú bé đã dặn đến. Gióng vươn vai một cái đã biến thành một tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Chàng khoác trên mình bộ áo giáp sắt, tay cầm rồi sắt nhảy lên lưng ngựa. Ngựa hí vang dội mấy tiếng rồi chạy đến nơi có giặc, đón đầu chúng. Gióng đánh hết lớp giặc này đến lớp giặc khác. Giặc chết như ngả rạ. Đang đánh thì rồi sắt gãy, Gióng nhanh trí nhổ những bụi tre ở bên đường quật vào giặc. Đám tàn quân còn xót lại chạy đè lên nhau. Gióng đuổi bọn chúng đến chân núi Sóc. Đến đó, Gióng cởi bộ giáp sắt, rồi một mình một ngựa từ từ bay lên trời. Vua nhớ công ơn nên phong là Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng và lập đền thờ ngay tại quê nhà. Truyện truyền thuyết Tháng Gióng không chỉ là một câu chuyện bình thường mà là một bản hùng ca về sự dũng cảm, lòng nhân hậu và tình yêu nước tha thiết. Quả thật, truyện truyền thuyết không chỉ làm giàu trí tưởng tượng mà còn gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Trong thời đại hôm này, tinh thần Thánh Gióng vẫn vẹn nguyên giá trị. Nó nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta phải học tập rèn luyện để bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh.
Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"
Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:
- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.
- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.
- Gợi lên tình cảm thầy trò.
Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.
Trong kho tàng truyền thuyết phong phú của Việt Nam, câu chuyện về Sự Tích Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm luôn chiếm một vị trí đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa lịch sử mà còn vì vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của nó. Truyền thuyết này gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV
Truyền thuyết kể rằng, khi đất nước đang chìm trong ách đô hộ của giặc Minh, lòng người căm phẫn và khao khát độc lập. Thấu hiểu ý trời và lòng dân, Đức Long Quân đã quyết định trao cho Lê Lợi một bảo vật thiêng liêng để giúp ông hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc: đó là Thanh Gươm Thần. Thanh gươm không được trao trực tiếp. Lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy dưới đáy sông, còn chuôi gươm nạm ngọc lại được tìm thấy trên ngọn cây, tỏa ánh sáng rực rỡ, tất cả đều do người của Lê Lợi tình cờ nhặt được
khi lưỡi và chuôi hợp lại, thanh gươm trở nên hoàn chỉnh, mang sức mạnh phi thường. Nhờ có Thanh Gươm Thần, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, liên tiếp giành thắng lợi vang dội, cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước. Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên nhà Hậu Lê, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị
Saukhi đất nước yên bình, tong một lần nhà vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) dạo chơi trên chiếc thuyền rồng ở hồ Tả Vọng (tên cũ của Hồ Gươm), một Con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước. Rùa Thần tiến đến gần thuyền vua, cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hoàn trả lại gươm cho Long Quân!” Nhà vua hiểu ra rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành. Vua bèn rút gươm trao cho Rùa Vàng.Rùa Thần đón lấy gươm, ngậm vào miệng rồi lặn xuống đáy hồ. Kể từ đó, hồTả Vọng được đổi tên thành Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm) minh chứng cho lòng nhân ái, hòa bình của dân tộc và sự đồng lòng giữa Trời – Đất – Người trong công cuộc cứu nước
Truyền thuyết này không chỉ là một câu chuyện thần kỳ mà còn thể hiện tinh thần thượng võ và yêu chuộng hòa bình của người Việt, nhắc nhở các thế hệ về công lao của cha ông và ý nghĩa thiêng liêng của độc lập, tự do
Trong số các truyền thuyết cổ xưa của dân tộc Việt Nam, câu chuyện về Sơn Tinh và Thủy Tinh không chỉ là một huyền thoại giải thích hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người Việt trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai.
Truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Hùng thứ 18, có một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Vua Hùng muốn kén cho con gái một người chồng xứng đáng nên đã mở hội thi tuyển rể. Từ khắp nơi, nhiều chàng trai tài giỏi tìm đến, nhưng nổi bật nhất là hai vị thần: Sơn Tinh và Thủy Tinh.
Sơn Tinh là một chàng trai khôi ngô, có tài lạ: chỉ cần vẫy tay, núi đồi trùng điệp sẽ mọc lên, cây cối xanh tươi. Thủy Tinh cũng không kém cạnh, chàng có khả năng hô mưa gọi gió, làm cho biển cả và sông ngòi cuộn trào. Cả hai đều tài giỏi ngang sức ngang tài, khiến Vua Hùng khó lòng lựa chọn.
Cuối cùng, Vua Hùng đặt ra điều kiện thách cưới: "Sáng sớm hôm sau, ai mang đến sính lễ gồm một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao đến trước, người đó sẽ được cưới Mị Nương."
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng, Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến trước. Vua Hùng giữ lời hứa, gả Mị Nương cho Sơn Tinh. Thần Núi rước vợ về núi Tản Viên.
Khi Thủy Tinh đến nơi, thấy Mị Nương đã theo chồng, chàng vô cùng giận dữ. Cảm thấy bị sỉ nhục, Thủy Tinh đã nổi cơn lôi đình, dốc toàn lực để báo thù. Thần Nước hô mưa, gọi gió, làm nước biển dâng cao, dìm chìm đồng bằng, muốn nhấn chìm núi Tản Viên để cướp lại Mị Nương.
Trước sức mạnh kinh hoàng của nước, Sơn Tinh không hề nao núng. Thần Núi dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên bao nhiêu, Sơn Tinh đắp đất, nâng núi cao lên bấy nhiêu. Cuộc chiến kéo dài ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng, sức Thủy Tinh kiệt dần, đành phải rút lui.
Tuy nhiên, mối thù này không bao giờ dứt. Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh để đòi Mị Nương, gây ra cảnh lũ lụt khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và năm nào cũng vậy, Sơn Tinh vẫn chiến thắng, giữ vững bờ cõi và bảo vệ cuộc sống của người dân.
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.
Câu 2.
Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông (điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt).
Câu 3.
Hai từ láy trong văn bản:
- xù xì: chỉ bề mặt thô ráp, không nhẵn.
- chật chội: chật, gây cảm giác bức bối, khó chịu.
Câu 4.
Nhân vật “tôi” (hạt dẻ gai) mang đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại:
- Vừa mang đặc điểm của loài vật/thực vật (có vỏ xù xì, gai góc).
- Vừa mang đặc điểm của con người: biết suy nghĩ, cảm xúc, lo sợ, được mẹ an ủi (nhân hoá).
Câu 5.
Bài học rút ra:
Muốn trưởng thành, mỗi người cần dũng cảm rời vòng tay che chở, tin vào bản thân và sẵn sàng đối diện với thử thách trong cuộc sống.
Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại
Câu 2: Theo văn bản ,những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa ,mưa dông
Câu 3: Hai từ láy là :"xù xì", "chật chội"
-Nghĩa của từ "chật chội": chật, gây nên cảm giác bức bối khó chịu
- Nghĩa của từ "xù xì": bù xù, gây nên cảm giác khó chịu
Câu 4: Nhân vật tôi ( dẻ gai) là mội loài thực vật , vừa mang đặc điểm của lòa vật vừa mang đặc điểm của con người (được nhân các hóa)
Câu 5: Qua bài đọc em rút ra được bài học là : Muốn trưởng thành, ta phải dũng cảm bước ra khỏi vòng tay che chở, tin vào bản thân, sẵn sàng đối diện với thử thách
Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống
Dàn ý:
Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em
Dàn ý:
Bài làm
Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau
Câu 1
Thói quen bắt chước, nếu không được kiểm soát, có thể gây ra những tác hại không nhỏ đối với mỗi cá nhân và xã hội. Trước hết, nó làm mai một sự sáng tạo và tư duy độc lập, khiến con người trở nên thụ động, chỉ biết làm theo người khác mà không dám nghĩ khác, làm khác. Hậu quả là chúng ta có thể mất đi bản sắc riêng, trở nên nhạt nhòa, không có cá tính và lập trường vững vàng. Việc lệ thuộc vào người khác để làm theo cũng dễ dẫn đến thiếu tự tin, luôn cảm thấy mình không đủ tốt và cần phải dựa dẫm. Thậm chí, bắt chước mù quáng còn có thể khiến con người mắc sai lầm khi không hiểu rõ bản chất vấn đề hoặc làm những điều không phù hợp với hoàn cảnh của bản thân. Do đó, mỗi người cần nhận thức rõ và hạn chế thói quen này để phát triển một cách lành mạnh và có giá trị.
Câu 2
Văn là:
Cuộc sống của chúng ta, dẫu có đôi khi trầm lắng, vẫn luôn được tô điểm bởi những gam màu rực rỡ, mà nổi bật nhất có lẽ là những sắc màu của tình bạn. Bạn bè không chỉ là những người cùng ta chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, mà còn là những người cùng ta tạo nên những kỷ niệm đáng nhớ, những dấu ấn khó phai mờ trong trái tim. Đối với em, những khoảnh khắc ấy tựa như những vì sao lấp lánh, và một trong những vì sao sáng nhất chính là buổi chiều hè năm ấy, khi em và đám bạn thân có một trải nghiệm vô cùng vui vẻ và sâu sắc.Đó là vào một ngày cuối tháng Sáu oi ả, khi kỳ nghỉ hè vừa mới bắt đầu. Sau những giờ học căng thẳng, cả đám chúng em – em, Nam, Mai, và Dũng – quyết định tụ tập tại nhà Mai để "đánh chén" một bữa đồ ăn vặt thỏa thích và cùng nhau lên kế hoạch cho một mùa hè thật "bá đạo". Vốn là những đứa trẻ hiếu động, thay vì chỉ ngồi trong nhà, chúng em nhanh chóng nảy ra một ý tưởng "điên rồ": biến khu vườn nhỏ sau nhà Mai, vốn hơi um tùm và ít được chăm sóc, thành một "pháo đài bí mật" của riêng mình.Ý tưởng vừa được đưa ra đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt. Ai nấy đều hăm hở. Nam, với sức vóc "nhỉnh" hơn, xung phong làm nhiệm vụ thu thập cành cây khô, lá rụng để làm "vật liệu xây dựng". Mai, với sự khéo léo của mình, đảm nhận việc trang trí, tìm kiếm những dây hoa leo, những viên sỏi đủ màu để biến "pháo đài" thêm phần sinh động. Dũng thì lo phần "hậu cần", mang ra những chiếc ghế cũ, tấm bạt hỏng để làm mái che và chỗ ngồi. Còn em, em thì vừa phân công công việc, vừa tham gia vào mọi khâu, và không quên ghi lại những khoảnh khắc "huyền thoại" bằng chiếc điện thoại cũ của mình.Cả buổi chiều hôm đó, tiếng cười nói rộn rã vang vọng cả khu vườn. Chúng em vấp ngã, lấm lem bùn đất, mồ hôi nhễ nhại, nhưng không ai than vãn. Mỗi khi tìm được một món đồ "ngon ăn" hay hoàn thành một "hạng mục" của pháo đài, chúng em lại reo hò ăn mừng như vừa chinh phục được một đỉnh núi. Có lúc, Dũng trượt chân ngã vào bụi rậm, cả đám cười lăn lộn, rồi nhanh chóng chạy đến giúp bạn phủi lá, đắp đất. Có lúc, Mai tìm được một chùm hoa giấy tím biếc, cả bọn lại thi nhau hái những bông hoa đẹp nhất để trang trí lên "tường thành". Chính những giây phút "hỗn loạn" đầy tự nhiên ấy lại là điều khiến chúng em cảm thấy gắn kết hơn bao giờ hết.Khi mặt trời bắt đầu ngả bóng, "pháo đài bí mật" của chúng em đã dần thành hình. Nó không hề giống những lâu đài nguy nga trong cổ tích, mà đơn giản chỉ là một góc nhỏ được dựng tạm bợ từ cành cây, lá khô, với vài chiếc ghế cũ và tấm bạt làm mái. Thế nhưng, đối với chúng em, đó là công trình vĩ đại nhất, là nơi chúng em cảm thấy tự do, an toàn và tràn đầy hạnh phúc. Chúng em ngồi quây quần bên nhau, chia nhau những gói bánh, những chai nước mát lạnh, kể cho nhau nghe những câu chuyện "trên trời dưới biển" và cùng nhau ngắm nhìn những tia nắng cuối ngày len lỏi qua kẽ lá.Buổi chiều hôm ấy, dù chỉ là một hoạt động nhỏ bé, nhưng nó đã để lại trong em một dư vị vô cùng sâu sắc. Em nhận ra rằng, tình bạn không chỉ đến từ những lời nói hoa mỹ hay những món quà đắt tiền, mà nó được xây dựng từ những trải nghiệm chung, từ sự sẻ chia, thấu hiểu và cả những khoảnh khắc "ngớ ngẩn" cùng nhau. Khi có bạn bè bên cạnh, những điều tưởng chừng đơn giản nhất cũng trở nên thật ý
Câu 1 : Thói bắt chước, học đòi thiếu chọn lọc trong cuộc sống
gây ra những hệ lụy nghiêm trọng, biến con người thành "bản sao" mờ nhạt và đánh mất cá tính riêng. Khi sao chép mù quáng, chúng ta không chỉ lãng phí thời gian, tiền bạc mà còn dễ rơi vào tình trạng thất bại do không phù hợp với hoàn cảnh bản thân. Lối sống này cản trở tư duy sáng tạo, khiến cá nhân trở nên ỷ lại, thụ động và không có tiếng nói độc lập. Việc chạy theo các trào lưu tiêu cực còn làm tha hóa đạo đức, dẫn đến các hành vi lệch chuẩn xã hội. Tác hại lớn nhất là thói quen này khiến con người đánh mất chính mình, sống một cuộc đời không ý nghĩa và không được tôn trọng. Thay vì bắt chước, mỗi người cần tự rèn luyện, định hình phong cách riêng và học hỏi có chọn lọc để phát triển bền vững. Vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo, rèn luyện tư duy phản biện để không trở thành "bản sao" vô hồn của người khác
Câu 2 : Trong cuộc đời mỗi người, có những sự kiện diễn ra rồi tan biến như gió thoảng mây bay, nhưng cũng có những trải nghiệm khắc sâu vào tâm trí, thay đổi hoàn toàn cách ta nhìn nhận cuộc sống. Đối với tôi, chuyến đi thiện nguyện tại một mái ấm dành cho trẻ em khuyết tật vào mùa hè năm ngoái chính là một trải nghiệm như thế nơi tôi học được rằng sự thấu hiểu và sẻ chia có sức mạnh chữa lành lớn lao hơn bất cứ liều thuốc nào.
Trước chuyến đi đó, tôi vốn là một cậu học sinh sống trong sự đủ đầy và có phần ích kỷ. Tôi thường phàn nàn về những bữa ăn không vừa miệng hay những món đồ chơi lỗi mốt. Khi nhà trường tổ chức chuyến đi thăm mái ấm "Hy Vọng", tôi tham gia với tâm thế của một người đi "ban phát" sự giúp đỡ hơn là để học hỏi. Tôi thậm chí còn cảm thấy sợ hãi khi hình dung về những gương mặt khiếm khuyết hay những đôi mắt ngây dại của các em nhỏ tại đó. Ngày khởi hành, không khí oi ả của mùa hè dường như càng làm tôi thêm căng thẳng. Bước vào cổng mái ấm, cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt tôi là những đứa trẻ với đôi chân teo tóp đang cố gắng di chuyển trên xe lăn, có em lại ngồi lặng lẽ ở góc tường với đôi mắt vô hồn. Sự sợ hãi khiến tôi đứng chôn chân tại chỗ, không dám lại gần. Lúc đó, một cậu bé khoảng bảy tuổi, đôi chân bị tật nguyền phải bò bằng tay, chậm rãi tiến về phía tôi chấp choáng Khoảnh khắc ấy, mọi định kiến và nỗi sợ trong tôi bỗng chốc tan biến. Tôi bàng hoàng nhận ra mình đã hẹp hòi đến nhường nào. Trong khi tôi sở hữu một cơ thể lành lặn nhưng lại mang một tâm hồn đầy sợ hãi và xa cách, thì cậu bé ấy, dù chịu bao thiệt thòi, vẫn trao đi sự ấm áp một cách vô tư nhất. Tôi ngồi thụp xuống, nhận lấy nhành hoa và siết chặt lấy bàn tay nhỏ bé của cậu. Tôi nhận ra rằng, đằng sau những khiếm khuyết cơ thể là những tâm hồn vô cùng nhạy cảm và khát khao được yêu thương. Các em không cần sự thương hại, cái các em cần là sự công nhận và một cái nắm tay ấm lòng. Tôi đã cùng một bạn nhỏ tên Nam tập vẽ. Dù bàn tay em run rẩy, khó khăn lắm mới đưa được nét bút, nhưng ánh mắt kiên trì và nụ cười hạnh phúc khi hoàn thành bức tranh "Ngôi nhà mơ ước" đã khiến tôi xúc động mạnh mẽ. Chuyến đi kết thúc khi hoàng hôn buông xuống, nhưng dư âm của nó thì vẫn còn mãi trong tôi.câu1
là cứ đua đòi,ăn chơi,bạo lực,…
là người bắt trước sẽ mất khả suy nghĩ phán đoán của mình mà chỉ biết bắt trước người khác