K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

             Những người đàn bà gánh nước sông

Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông

Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt
Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi
Bàn tay kia bám vào mây trắng

Sông gục mặt vào bờ đất lần đi
Những người đàn ông mang cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Những con cá thiêng quay mặt khóc
Những chiếc phao ngô chết nổi
Những người đàn ông giận dữ, buồn bã và bỏ đi

Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy
Sau những người đàn bà gánh nước sông là lũ trẻ cởi truồng
Chạy theo mẹ và lớn lên
Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến
Con trai lại vác cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Và cá thiêng lại quay mặt khóc
Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi.

                                                                1992

                                                  - Nguyễn Quang Thiều -

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. 

Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” trong bài có tác dụng gì?

Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?

174

Câu1 thể thơ tự do

Câu 2 phương thức biểu đạt chính là biểu cảm xúc tâm tư của tác giả ngoài ra bài thơ cảm xúc nốt hợp với phương thức tự sư kế lại những trải nghiệm quan sát và miêu tả hình ảnh những lời câu dòng sông

Câu 3 tác dụng của điệp ngữ việt lặp lại hai dòng đà nằm năm mười lăm năm là mươi lăm và nửa đời tôi thấy có tác dụng cho nhấm mạch sự bền bỉ kèo dài của thời và sự ám ảnh khơ nguôi trong tâm trí tác giả tạo nghịp điệu da diết xoáy sâu vào cảm xác về nỗi dục hoặc một sự thật hiểu nhiên mà tác giả đã chứng kiếm suất nửa đời người khẳng định tính xác thực và chiều sâu của những chiêm nghiệm mà nhà thơ nhấn truyền tải

Câu4đề tài: Viết về những chiêm nghiệm cuộc sống, sự thức tỉnh trước nỗi đau hoặc thực tại khắc nghiệt (thông qua hình ảnh những lưỡi câu và con cá) Thể chủ đề hiện sự đồng cảm với nỗi đau, sự thức tỉnh về lương tâm và lòng trắc ẩn của con người trước những tổn thương mà thế giới xung quanh phải gánh chịu.Câu 5 suy nghĩ cá nhân : Bài thơ gợi lên suy nghĩ về sự thấu cảm. Con người cần có cái nhìn sâu sắc hơn về nỗi đau của vạn vật xung quanh, từ đó biết trân trọng sự sống và sống nhân văn hơn, tránh xa những hành động vô tâm có thể gây ra tổn thương kéo dài

18 tháng 4

BÀI LÀM

Phần I: Đọc hiểu

Văn bản: Những người đàn bà gánh nước sông (Nguyễn Quang Thiều)

Câu 1:

  • Thể thơ của bài thơ trên là: Thể thơ tự do.

Câu 2:

  • Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ là: Biểu cảm (phương thức chính), kết hợp với miêu tảtự sự.

Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:

  • Về nghệ thuật: Tạo nên cấu trúc điệp, làm cho âm hưởng bài thơ trở nên da diết, xoáy sâu vào tâm trí người đọc. Nó tạo ra một sự kết nối, nhất quán giữa các phần của bài thơ.
  • Về nội dung:
    • Nhấn mạnh sự trôi chảy dai dẳng, mênh mông của thời gian.
    • Khẳng định sự bền bỉ, lặp đi lặp lại một cách đáng thương của những kiếp người, những số phận lam lũ bên dòng sông. Sự nhọc nhằn đó không phải ngày một ngày hai mà là cả một đời người, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
    • Cho thấy sự quan sát, chiêm nghiệm sâu sắc và nỗi ám ảnh khôn nguôi của tác giả trước cuộc sống nghèo khó của quê hương.

Câu 4:

  • Đề tài: Bài thơ viết về đề tài làng quê, cụ thể là hình ảnh những người phụ nữ lao động nghèo khó ở nông thôn Việt Nam gắn liền với dòng sông.
  • Chủ đề: Bài thơ thể hiện niềm cảm thông, trắc ẩn sâu sắc của tác giả trước những số phận con người (đặc biệt là người phụ nữ) nhọc nhằn, lam lũ và sự tiếp nối của sự nghèo khó, vô vọng qua các thế hệ.
  • Câu 5
  • Bài thơ "Những người đàn bà gánh nước sông" gợi cho em nhiều suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc. Trước hết, em cảm thấy trân trọng và xót xa khôn tả trước hình ảnh những người phụ nữ Việt Nam tần tảo, hy sinh. Những chi tiết miêu tả đôi bàn chân "xương xẩu", móng "đen toé ra" như móng chân gà mái là một hình ảnh đầy ám ảnh, bóc trần sự vất vả cực nhọc để đổi lấy nguồn nước nuôi sống gia đình. Bên cạnh đó, bài thơ còn khơi dậy trong em nỗi buồn và sự trăn trở về cái vòng quẩn quanh của nghèo khó. Hình ảnh "con gái lại đặt đòn gánh lên vai", "con trai lại vác cần câu" cho thấy những thế hệ sau lại tiếp tục bước vào lối mòn của cha mẹ, một sự lặp lại số phận đầy bi kịch. Cuối cùng, tác phẩm nhắc nhở em phải biết trân trọng cuộc sống hiện tại, sống có trách nhiệm hơn và giữ cho mình một tấm lòng nhân hậu, biết sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh, lam lũ trong xã hội.


21 tháng 4

Câu 1. - Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Các câu thơ có độ dài ngắn khác nhau, không bị gò bó bởi niêm luật hay vần điệu cứng nhắc, giúp tác giả bộc lộ cảm xúc một cách tự nhiên và ám ảnh. Câu 2. - Các phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự. + Biểu cảm: Thể hiện nỗi xót xa, suy tư về thân phận con người. + Miêu tả: Hình ảnh những ngón chân xương xẩu, bối tóc vỡ, mây trắng... + Tự sự: Kể về vòng lặp của những kiếp người bên dòng sông. Câu 3. -Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy" được lặp lại hai lần nhằm: - Về nội dung: Nhấn mạnh sự chảy trôi của thời gian và tính chất bền bỉ, nhẫn nhịn của những người đàn bà. Nó cho thấy cái nghèo khó, vất vả không phải là nhất thời mà là sự đeo bám dai dẳng qua nhiều thế hệ. - Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu ám ảnh, như một lời khẳng định về một sự thật hiển nhiên nhưng đau đớn mà tác giả đã chứng kiến suốt cả đời người. Nó kết nối quá khứ với hiện tại, làm nổi bật sự bế tắc của vòng lặp số phận. Câu 4. - Đề tài: Viết về đời sống của những người dân lao động nghèo khổ ở vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, gắn liền với hình ảnh dòng sông. - Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự xót xa trước kiếp nhân sinh cơ cực, quẩn quanh của con người (người đàn bà vất vả với gánh nặng mưu sinh, người đàn ông với những giấc mơ xa vời, vô vọng). Qua đó, tác giả bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc và suy tư về việc làm sao để thoát khỏi vòng lặp khổ đau ấy. Câu 5. - Suy nghĩ sau khi đọc bài thơ - Bài thơ để lại trong lòng người đọc nhiều suy ngẫm về số phận và sự tiếp nối: + Sự ám ảnh về cái nghèo: Hình ảnh "những ngón chân móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái" là một chi tiết thực đến gai người, gợi lên sự vất vả, lam lũ tận cùng của người phụ nữ Việt Nam xưa.

+ Vòng lặp định mệnh: Điều đau lòng nhất là sự lặp lại. Con gái lại gánh nước, con trai lại vác cần câu với những "cơn mơ biển" không thành. Nó gợi suy nghĩ về sự bế tắc khi con người ta không có lối thoát để thay đổi cuộc đời, cứ thế lớn lên và lặp lại bi kịch của cha mẹ. + Sự thức tỉnh: Bài thơ không chỉ là lời than thân trách phận mà còn là một hồi chuông đánh thức sự trắc ẩn. Nó nhắc nhở chúng ta cần nhìn sâu vào những mảnh đời nhỏ bé quanh mình và khao khát về một sự thay đổi mạnh mẽ hơn để thế hệ trẻ (lũ trẻ cởi truồng) có một tương lai khác đi, không còn "ngơ ngác" trước những lưỡi câu cuộc đời.

22 tháng 4

Câu 1:

Thể thơ tự do (không bị ràng buộc số câu, số chữ, vần nhịp linh hoạt).


Câu 2:

→ Phương thức biểu đạt: tự sự + miêu tả + biểu cảm.


Câu 3:

→ Tác dụng của việc lặp câu:


  • Nhấn mạnh thời gian dài đằng đẵng (5 năm, 15 năm, 30 năm, nửa đời).
  • Thể hiện sự chứng kiến bền bỉ, ám ảnh của tác giả.
  • Gợi nỗi xót xa, day dứt trước cuộc sống lam lũ lặp lại qua nhiều thế hệ.


Câu 4:


  • Đề tài: Cuộc sống của những người dân làng chài (đặc biệt là người phụ nữ gánh nước sông).
  • Chủ đề: Ca ngợi sự nhọc nhằn, hi sinh của người lao động, đồng thời bộc lộ nỗi buồn, trăn trở về vòng đời lam lũ, lặp lại qua các thế hệ.


Câu 5:

→ Gợi suy nghĩ:


  • Thấu hiểu, cảm thông với cuộc sống vất vả của người dân lao động.
  • Nhận ra sự lặp lại nghiệt ngã của số phận qua các thế hệ.
  • Biết trân trọng lao động, yêu thương con người và mong muốn cuộc sống tốt đẹp hơn.

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên. Thể thơ: Tự do (Số chữ trong mỗi dòng không cố định, nhịp điệu linh hoạt theo cảm xúc). Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Các phương thức kết hợp: Tự sự (kể về hành động gánh nước, đi câu) và Miêu tả (hình ảnh ngón chân, búi tóc, mây trắng...). Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” trong bài có tác dụng gì? Tạo nhịp điệu: Nhấn mạnh sự lặp đi lặp lại của thời gian, tạo âm hưởng ám ảnh. Nhấn mạnh sự bền bỉ: Khẳng định sự tồn tại lâu dài, bền bỉ của những kiếp người lam lũ. Hình ảnh người phụ nữ gánh nước không chỉ là một khoảnh khắc mà là cả một đời người, một số phận gắn liền với dòng sông. Bộc lộ cảm xúc: Thể hiện cái nhìn đau đáu, sự quan sát tỉ mỉ và niềm xót xa của tác giả trước cuộc sống nhọc nhằn của người dân quê hương. Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ. Đề tài: Viết về người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khổ ở làng quê. Chủ đề: Bài thơ ca ngợi sự hy sinh, sức chịu đựng bền bỉ của những người phụ nữ, đồng thời phản ánh vòng lặp nghèo khó, đơn điệu của những kiếp người nhỏ bé trong xã hội cũ/nông thôn nghèo. Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì? Sự thấu hiểu và xót xa: Cảm nhận sâu sắc nỗi vất vả, lam lũ của những người phụ nữ (hình ảnh ngón chân "xương xẩu", "toẽ ra như móng chân gà mái" rất thực và đau đớn). Trân trọng những giá trị bình dị: Biết ơn sự hy sinh thầm lặng của những người mẹ, người chị đã gánh vác cả gia đình trên vai. Suy tư về định mệnh/vòng quẩn quanh: Cảm thấy buồn thương trước sự nối tiếp của các thế hệ (con gái lại đặt đòn gánh, con trai lại vác cần câu), gợi sự trăn trở về việc làm sao để thoát khỏi sự nghèo khó, đơn điệu đó.

Câu 1:

Thể thơ: Tự do

Câu 2: Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm

Câu 3:

Việc sử dụng điệp ngữ này có các tác dụng sau:

Tạo nhịp điệu chậm rãi, ám ảnh và kết nối các phần của bài thơ.

Nhấn mạnh dòng thời gian đằng đẵng, bền bỉ và sự quan sát kiên trì của tác giả.

Khẳng định tính chất "truyền đời", không thay đổi của những kiếp người lam lũ. Đó là một nỗi đau, một sự vất vả kéo dài từ quá khứ đến hiện tại.

Câu 4:

Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khó ở làng quê.

Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự thấu cảm sâu sắc đối với số phận vất vả, lam lũ của những người đàn bà vùng sông nước. Qua đó, tác giả suy ngẫm về sự nối tiếp của cái nghèo, sự nhọc nhằn từ thế hệ này sang thế hệ khác (từ mẹ sang con).

Câu 5: Cảm thấy xúc động trước hình ảnh những người bà, người mẹ đã hy sinh cả cuộc đời, chịu đựng gian khổ (hình ảnh "ngón chân xương xẩu", "móng chân gà mái") để nuôi dạy con cái.Cảm giác buồn thương khi thấy sự nghèo khó có tính chất tiếp nối Bài thơ nhắc nhở chúng ta về những giá trị truyền thống và sự nhẫn nại của con người Việt Nam trước nghịch cảnh.


23 tháng 4

Câu 1:

Xác định thể thơ của bài thơ trên.

• Thể thơ: Tự do (số chữ trong các dòng không bằng nhau, nhịp điệu linh hoạt theo cảm xúc).

Câu 2:

Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.

• Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, suy ngẫm của tác giả).

• Các phương thức kết hợp: Miêu tả (khắc họa hình ảnh người đàn bà, đôi bàn chân, dòng sông...) và Tự sự (kể về sự nối tiếp của các thế hệ).

Câu 3:

Việc lặp lại hai lần dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy" có tác dụng gì?

Việc sử dụng điệp ngữ này có các tác dụng sau:

• Về cấu trúc: Tạo nhịp điệu chậm rãi, ám ảnh và kết nối các phần của bài thơ.

• Về nội dung: * Nhấn mạnh dòng thời gian đằng đẵng, bền bỉ và sự quan sát kiên trì của tác giả.

• Khẳng định tính chất "truyền đời", không thay đổi của những kiếp người lam lũ. Đó là một nỗi đau, một sự vất vả kéo dài từ quá khứ đến hiện tại.

Câu 4:

Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

• Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khó ở làng quê.

• Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự thấu cảm sâu sắc đối với số phận vất vả, lam lũ của những người đàn bà vùng sông nước. Qua đó, tác giả suy ngẫm về sự nối tiếp của cái nghèo, sự nhọc nhằn từ thế hệ này sang thế hệ khác (từ mẹ sang con).

Câu 5:

Bài thơ gợi cho em những suy nghĩ gì?

Bạn có thể trình bày suy nghĩ cá nhân dựa trên các ý chính sau:

• Sự biết ơn và thấu hiểu: Cảm thấy xúc động trước hình ảnh những người bà, người mẹ đã hy sinh cả cuộc đời, chịu đựng gian khổ (hình ảnh "ngón chân xương xẩu", "móng chân gà mái") để nuôi dạy con cái.

• Nỗi trăn trở về số phận: Cảm giác buồn thương khi thấy sự nghèo khó có tính chất tiếp nối ("Con gái lại đặt đòn gánh lên vai...").

• Giá trị của nguồn cội: Bài thơ nhắc nhở chúng ta về những giá trị truyền thống và sự nhẫn nại của con người Việt Nam trước nghịch cảnh.

12 tháng 5

Câu 1.
→ Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
→ Các phương thức biểu đạt:

  • Miêu tả (hình ảnh người đàn bà, dòng sông, cảnh lao động…)
  • Tự sự (kể về sự lặp lại của cuộc sống qua thời gian)
  • Biểu cảm (bộc lộ nỗi xót xa, suy tư của tác giả)

Câu 3.
→ Tác dụng của việc lặp lại câu thơ:

  • Nhấn mạnh sự trôi chảy dài lâu của thời gian
  • Gợi lên sự lặp lại, vòng luẩn quẩn của cuộc đời
  • Thể hiện nỗi ám ảnh, trăn trở của tác giả trước số phận con người
  • Làm tăng nhịp điệu và chiều sâu cảm xúc cho bài thơ

Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống lao động của những người dân nghèo ven sông.
  • Chủ đề:
    → Phản ánh cuộc đời cơ cực, bế tắc và lặp lại qua nhiều thế hệ
    → Thể hiện niềm xót thương và suy tư của tác giả về số phận con người và những ước mơ không trọn vẹn

Câu 5.
→ Bài thơ gợi cho em:

  • Sự cảm thông với những con người lao động nghèo, vất vả
  • Nhận ra cuộc sống có thể lặp lại nếu con người không thay đổi hoàn cảnh
  • Thấy được những ước mơ giản dị nhưng khó thực hiện của họ
  • Từ đó biết trân trọng cuộc sống, cố gắng học tập để vươn lên và thay đổi tương lai.
23 tháng 4

Câu 1: Thể thơ Tự do. Câu 2: Các phương thức biểu đạt: Biểu cảm kết hợp với tự sự và miêu tả. Câu 3: Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy": Về nội dung: Nhấn mạnh sự bền bỉ, kiên nhẫn nhưng cũng đầy cam chịu của người phụ nữ trong vòng quay nhọc nhằn của cuộc đời. Nó cho thấy cái nghèo khổ, vất vả không phải là nhất thời mà kéo dài dằng dặc qua nhiều thế hệ. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu ám ảnh, tính nhạc cho bài thơ và khẳng định cái nhìn chiêm nghiệm, xót xa của tác giả trước hiện thực đời sống. Câu 4: Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khó. Chủ đề: Sự hy sinh thầm lặng, số phận nhọc nhằn, quẩn quanh của người phụ nữ trong bối cảnh cuộc sống khắc nghiệt và sự tiếp nối đầy bi kịch của các thế hệ. Câu 5: Suy nghĩ gợi ra từ bài thơ: Sự xúc động và biết ơn trước sự hy sinh vô điều kiện của những người phụ nữ (người mẹ, người chị). Trăn trở về cái nghèo và sự quẩn quanh: Làm sao để những thế hệ sau (lũ trẻ) thoát khỏi "vòng lặp" của đòn gánh và những cơn mơ xa vời để có cuộc đời tươi sáng hơn. Nhận thức về trách nhiệm của bản thân trong việc trân trọng các giá trị gia đình và nỗ lực thay đổi nghịch cảnh.

24 tháng 4

em chịu

24 tháng 4

Câu 1

Thể thơ của căn bản trên là Tự do.

Câu 2.

Các phương thức biểu đạt bao gồm: Biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự.

Câu 3.

Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ:

• Về nội dung: Nhấn mạnh dòng chảy của thời gian đằng đẵng và sự quan sát bền bỉ, ám ảnh của tác giả đối với cuộc sống lam lũ của người dân quê hương. Nó cho thấy những hình ảnh ấy không phải là khoảnh khắc nhất thời mà là một phần máu thịt trong ký ức của nhân vật tôi.

• Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu cho bài thơ, như một lời khẳng định về sự lặp đi lặp lại của những kiếp người, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các phần của văn bản.

Câu 4.

• Đề tài: Viết về người phụ nữ và cuộc sống lao động ở vùng nông thôn Việt Nam.

• Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự trân trọng, thấu hiểu và niềm xót xa trước cuộc đời lam lũ, nhọc nhằn nhưng đầy đức hy sinh của những người phụ nữ. Qua đó, tác giả bộc lộ tình yêu quê hương và sự trăn trở về sự tiếp nối của những kiếp người trong vòng xoáy nghèo khó của làng quê.

Câu 5.

Bài thơ gợi lên trong lòng người đọc sự xúc động sâu sắc về vẻ đẹp của những con người lao động bình dị. Hình ảnh những người đàn bà gánh nước với đôi chân xương xẩu là biểu tượng cho sự tần tảo, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam qua nhiều thế hệ. Đồng thời, tác phẩm cũng nhắc nhở chúng ta về lòng biết ơn đối với những hy sinh thầm lặng của mẹ, của bà để nuôi dưỡng các thế hệ con cháu trưởng thành. Qua đó, mỗi người cần có ý thức trân trọng những giá trị truyền thống và có trách nhiệm hơn với gia đình, quê hương.


24 tháng 4

Câu 1. Bài thơ tren được viết theo: the thơ tự do.

Câu 2. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ:

  • Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của tác giả).
  • Miêu tả (khắc họa hình ảnh người đàn bà gánh nước sông, cuộc sống làng quê).
  • Tự sự (kể lại vòng đời, sự nối tiếp của các thế hệ).

Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:

  • Nhấn mạnh sự trôi chảy của thời gian dài đằng đẵng.
  • Thể hiện sự quan sát, chứng kiến bền bỉ của tác giả trước cuộc sống lam lũ nơi quê hương.
  • Gợi vòng quay lặp lại của số phận con người qua nhiều thế hệ.
  • Tạo nhịp điệu trầm lắng, da diết cho bài thơ.

Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống lao động của người dân quê ven sông.
  • Chủ đề: Ca ngợi sự tần tảo, nhọc nhằn của người phụ nữ nông thôn; đồng thời bày tỏ niềm xót xa trước cuộc sống cơ cực, bế tắc và sự lặp lại của số phận con người nơi làng quê nghèo.

Câu 5. Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ về cuộc sống vất vả của người lao động nghèo, nhất là người phụ nữ nông thôn. Qua đó, em thêm trân trọng sự hi sinh thầm lặng của họ, biết yêu thương gia đình, quý trọng giá trị lao động và mong muốn cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp hơn.


24 tháng 4

Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên. Thể thơ: Tự do. (Các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không gò bó về số chữ hay vần điệu). Câu 2: Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Các phương thức kết hợp: Miêu tả (tả hình dáng người đàn bà, đôi bàn tay, bước chân...) và Tự sự (kể về sự nối tiếp của các thế hệ). Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì? Việc sử dụng điệp ngữ và điệp cấu trúc này có các tác dụng sau: Về nội dung: Nhấn mạnh sự trôi chảy của thời gian và sự bền bỉ, nhẫn nại của những người phụ nữ. Nó cho thấy cái nghèo khó, vất vả không phải là nhất thời mà kéo dài dằng dặc từ đời này sang đời khác. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu ám ảnh, day dứt cho bài thơ; đồng thời khẳng định sự quan sát kỹ lưỡng và nỗi xúc động sâu sắc của tác giả trước số phận những người phụ nữ quê hương. Câu 4: Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ. Đề tài: Viết về những người phụ nữ lao động ở làng quê Việt Nam (hình ảnh người bà, người mẹ bên dòng sông). Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự thấu cảm, trân trọng đối với sự hy sinh thầm lặng, nỗi vất vả gian truân của người phụ nữ, đồng thời phản ánh vòng lặp của số phận và niềm hy vọng mong manh nơi làng quê. Câu 5: Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì? Bạn có thể trình bày theo suy nghĩ cá nhân, dưới đây là một vài hướng gợi ý: Sự xúc động và biết ơn: Cảm thấy thương xót trước những đôi bàn chân "xương xẩu", những người mẹ, người bà lam lũ để nuôi dạy con cái nên người. Sự suy ngẫm về số phận: Trăn trở về vòng luẩn quẩn của cái nghèo (con gái lại đặt đòn gánh lên vai...) và mong muốn xã hội có những thay đổi để người phụ nữ bớt khổ cực. Trân trọng những giá trị truyền thống: Hình ảnh dòng sông, gánh nước là những biểu tượng văn hóa làng quê, nhắc nhở chúng ta về nguồn cội và những vẻ đẹp khuất lấp trong sự nhọc nhằn.

Câu 1. - Thể thơ: thơ tự do Câu 2. -Các phương thức biểu đạt: Biểu cảm Tự sự Miêu tả Câu 3.

-Tác dụng của việc lặp dòng thơ: +Nhấn mạnh sự kéo dài triền miên của thời gian (năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm năm, nửa đời). +Làm nổi bật số phận lam lũ, vất vả, lặp lại của những người đàn bà gánh nước. +Gợi cảm xúc xót xa, ám ảnh về cuộc đời họ. Câu 4. - Đề tài:Người phụ nữ lao động nghèo ven sông -Chủ đề:Ca ngợi và đồng cảm với cuộc đời vất vả, nhọc nhằn, hi sinh thầm lặng của người phụ nữ; Đồng thời phản ánh vòng luẩn quẩn của nghèo khó và số phận. Câu 5. Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc về số phận con người, đặc biệt là những người phụ nữ lao động nghèo. Họ phải gánh trên vai không chỉ là nước mà còn là cả cuộc đời vất vả, nhọc nhằn kéo dài qua năm tháng. Hình ảnh ấy khiến em cảm thấy xót xa và trân trọng hơn những hi sinh thầm lặng của họ. Đồng thời, bài thơ cũng cho thấy sự lặp lại của số phận qua các thế hệ, khi những đứa trẻ lại tiếp tục con đường của cha mẹ. Từ đó, em nhận ra cần biết yêu thương, chia sẻ và có trách nhiệm hơn với những con người kém may mắn trong xã hội.

24 tháng 4

Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, số chữ mỗi dòng không đều, nhịp thơ linh hoạt, giàu cảm xúc và tính biểu tượng.

Câu 2.
Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ gồm:

  • Biểu cảm (phương thức chính): bộc lộ niềm xót xa, trăn trở của tác giả trước cuộc sống lam lũ của con người.
  • Miêu tả: khắc họa hình ảnh những người đàn bà gánh nước sông, người đàn ông chài lưới và cảnh sống ven sông.
  • Tự sự: kể lại sự nối tiếp số phận qua nhiều thế hệ.
  • Nghị luận (ẩn chứa): gửi gắm suy tư về kiếp người, vòng luẩn quẩn của đói nghèo.

Câu 3.
Việc lặp lại hai lần câu thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:

  • Nhấn mạnh sự kéo dài triền miên của cuộc sống nhọc nhằn, lam lũ.
  • Gợi ra vòng tuần hoàn lặp lại của số phận, đời mẹ nối đời con, nghèo khó vẫn đeo bám.
  • Tạo âm hưởng trầm buồn, day dứt, ám ảnh cho bài thơ.
  • Thể hiện cái nhìn đầy xót thương, suy tư của tác giả trước những phận người nhỏ bé.
  • Làm nổi bật chủ đề về nỗi đau thân phận và khát vọng đổi thay cuộc sống.

Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống lao động vất vả của người dân nghèo ven sông, đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ gánh nước.
  • Chủ đề:
    Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại của người lao động, đồng thời bày tỏ niềm thương cảm trước số phận cơ cực và vòng luẩn quẩn của đói nghèo truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; qua đó gợi suy tư về cuộc sống con người và khát vọng đổi thay.

Câu 5.
Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời và con người. Em thấu hiểu hơn nỗi vất vả, nhọc nhằn của những người lao động nghèo, đặc biệt là người phụ nữ tảo tần, chịu thương chịu khó. Bài thơ cũng khiến em day dứt trước vòng luẩn quẩn của đói nghèo khi số phận dường như lặp lại qua nhiều thế hệ. Từ đó, em càng trân trọng giá trị của lao động, biết yêu thương, sẻ chia với những mảnh đời khó khăn và nhận ra cần sống có trách nhiệm hơn để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp, công bằng hơn.

24 tháng 4

Câu 1. Thể thơ

 Thể thơ tự do Không theo số chữ, không gieo vần cố định Câu 2. Phương thức biểu đạt      Biểu cảm (chính) Miêu tả Tự sự Câu 3. Tác dụng của điệp câu “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy”   Nhấn mạnh sự lặp lại kéo dài theo thời gian Thể hiện cuộc sống lam lũ, vất vả của người dân Gợi cảm xúc xót xa, trăn trở của tác giả Làm nổi bật tính liên tục qua nhiều thế hệ Câu 4. Đề tài và chủ đề    Cuộc sống của những người dân lao động ven sông (đặc biệt là phụ nữ)   Ca ngợi, đồng thời bày tỏ sự xót thương trước cuộc sống nhọc nhằn, luẩn quẩn, lặp lại qua nhiều thế hệ Gợi suy ngẫm về số phận con người và ước mơ chưa trọn vẹn Câu 5. Suy nghĩ của em (viết ngắn     Bài thơ khiến em cảm thấy thương xót cho những người phụ nữ gánh nước với cuộc sống vất vả, nhọc nhằn kéo dài qua nhiều năm tháng. Họ không chỉ chịu cực khổ mà còn gánh trên vai cả cuộc đời và số phận. Đồng thời, bài thơ cũng làm em suy nghĩ về sự lặp lại của cuộc sống nghèo khó qua các thế hệ, khi con cái lại tiếp tục con đường của cha mẹ. Từ đó, em nhận ra cần trân trọng cuộc sống hiện tại và cố gắng học tập để thay đổi tương lai của bản thân


Câu 1.
→ Thể thơ: thơ tự do (không bị ràng buộc số câu, số chữ, nhịp điệu linh hoạt).


Câu 2.
→ Các phương thức biểu đạt:

  • Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc buồn bã, xót xa)
  • Tự sự (kể lại những biến đổi qua thời gian)
  • Miêu tả (hình ảnh sông, cá, con người…)


Câu 3.
→ Tác dụng của việc lặp:

  • Nhấn mạnh dòng chảy thời gian dài đằng đẵng (5 năm, 15 năm, 35 năm, nửa đời).
  • Gợi sự chứng kiến dai dẳng, ám ảnh của nhân vật trữ tình.
  • Làm nổi bật sự lặp lại buồn bã của số phận con người và cuộc sống ven sông.


Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống của người dân vùng sông nước.
  • Chủ đề: Nỗi buồn, sự lam lũ và vòng lặp số phận của con người (đặc biệt là phụ nữ và gia đình) trước cuộc sống khó khăn, đồng thời gợi niềm xót xa, trăn trở.


Câu 5.
Bài thơ khiến em suy nghĩ về cuộc sống vất vả của người dân lao động ven sông, đặc biệt là người phụ nữ âm thầm gánh vác gia đình. Qua đó, em cảm nhận được sự khắc nghiệt của cuộc đời và vòng lặp số phận qua nhiều thế hệ. Bài thơ cũng nhắc nhở em biết trân trọng cuộc sống hiện tại và cảm thông hơn với những con người còn nhiều khó khăn.


24 tháng 4

Câu 1. Thể thơ

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do

Câu 2.

Các phương thức biểu đạt chính:

- Biểu cảm

- Miêu tả

- Tự sự

Câu 3.

Việc lặp lại câu:
"Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy"

Có tác dụng nhấn mạnh sự quan sát của tác giả, khắc sâu hình ảnh người phụ nữ gánh nước như vòng lặp cuộc đời gợi hình ảnh lam lũ, vất vả, tạo nhịp điệu suy tư trầm lắng

Câu 4.

Đề tài: Cuộc sống lao động của người dân làng chài, đặc biệt là người phụ nữ
Chủ đề:→ Ca ngợi sự tần tảo, chịu thương chịu khó của người phụ nữ
→ Đồng thời thể hiện niềm xót xa, trăn trở trước cuộc đời nghèo khó, lặp lại qua nhiều thế hệ

Câu 5.

Bài thơ khiến em cảm nhận sâu sắc về hình ảnh người phụ nữ nông thôn lam lũ, vất vả. Họ gánh trên vai không chỉ là nước mà còn là cả cuộc đời nhọc nhằn. Qua đó, em thấy trân trọng hơn sự hi sinh thầm lặng của mẹ, của những người phụ nữ xung quanh mình. Đồng thời, bài thơ cũng khiến em suy nghĩ về những số phận nghèo khó vẫn còn tồn tại, từ đó nhắc nhở bản thân phải biết sống có trách nhiệm, cố gắng học tập để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.


24 tháng 4

Bài thơ: Những người đàn bà gánh nước sông – Nguyễn Quang Thiều, 1992


Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Thể thơ tự do.

Câu 2.

Có 3 phương thức biểu đạt chính:

Miêu tả: Tả hình ảnh người đàn bà gánh nước: “ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra”, “bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt”.

Biểu cảm: Bày tỏ nỗi xót xa, thương cảm, trăn trở trước số phận con người: “Sông gục mặt vào bờ đất lẩn đi”, “cá thiêng quay mặt khóc”.

Tự sự: Kể lại hành trình lặp đi lặp lại của các thế hệ: mẹ gánh nước, con gái lại gánh nước, con trai lại vác cần câu ra đi.


Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì?

Tác dụng:

Nhấn mạnh sự trường tồn, lặp lại của kiếp sống lam lũ, nhọc nhằn. Thời gian đằng đẵng 5 năm, 15 năm, 30 năm… cho thấy nỗi cơ cực đã thành vòng đời, thành định mệnh.

Tạo nhịp điệu trầm buồn, ám ảnh cho bài thơ, như tiếng thở dài của tác giả trước hiện thực.

Thể hiện chiều sâu suy tư, chiêm nghiệm của nhân vật trữ tình. Đó không phải cái nhìn thoáng qua mà là sự chứng kiến cả “nửa đời” người, đủ để nhận ra quy luật nghiệt ngã của đời sống.


Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

Đề tài: Số phận con người lao động nghèo khổ ở làng quê ven sông, đặc biệt là người phụ nữ.

Chủ đề: Bài thơ thể hiện niềm xót thương sâu sắc trước vòng luẩn quẩn của kiếp người: người phụ nữ cả đời gánh gồng, người đàn ông ôm mộng lớn nhưng thất bại. Qua đó tác giả bày tỏ nỗi trăn trở về sự bế tắc, nghèo đói truyền từ đời này sang đời khác và khát vọng phá vỡ cái vòng lặp nghiệt ngã ấy.


Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?

Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ:

Thương cảm và biết ơn: Thương những người mẹ, người bà cả đời lam lũ “gánh nước sông” để nuôi gia đình. Từ đó biết trân trọng hơn những gì mình đang có.

Trăn trở về sự bế tắc của kiếp nghèo: Hình ảnh “con gái lại đặt đòn gánh lên vai”, “con trai lại vác cần câu” cho thấy vòng lặp nghèo đói. Điều này thôi thúc mỗi người phải học tập, lao động để thoát nghèo, thay đổi số phận.

Nhận thức về giá trị của quê hương: Dù nghèo khó nhưng quê hương với dòng sông, với những con người tảo tần vẫn là cội nguồn neo giữ tâm hồn. Cần có trách nhiệm với mảnh đất đã nuôi mình khôn lớn.

24 tháng 4

Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên.

• Trả lời: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

• Dấu hiệu: Các dòng thơ có độ dài không bằng nhau

Câu 2: Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.

Bài thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương thức:

• Biểu cảm: Bộc lộ cảm xúc, sự trân trọng và xót xa của tác giả trước cuộc đời những người phụ nữ.

• Miêu tả: Khắc họa hình ảnh đôi bàn chân "xương xẩu", "ngón đen toẽ ra", hình ảnh gánh nước, dòng sông...

• Tự sự: Kể về vòng lặp cuộc đời từ đời mẹ sang đời con, con gái lại gánh nước, con trai lại đi câu.

Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì?

Việc lặp lại này (điệp ngữ) có các tác dụng sau:

• Về cấu trúc: Tạo nhịp điệu chậm rãi, kéo dài như dòng chảy của thời gian và dòng nước sông.

• Về nội dung: * Nhấn mạnh sự quan sát bền bỉ, ám ảnh của tác giả về thân phận người phụ nữ.

• Khẳng định tính chất vĩnh cửu, không thay đổi của sự vất vả, lam lũ. Đó không phải là chuyện ngày một ngày hai mà là cả một kiếp người, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Câu 4: Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

• Đề tài: Người phụ nữ và cuộc sống lao động ở làng quê Việt Nam.

• Chủ đề: Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp chịu thương chịu khó, sự hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ vùng đồng bằng Bắc Bộ; đồng thời thể hiện nỗi suy tư về sự truyền nối của kiếp người và những thân phận lam lũ trong dòng chảy vô tận của thời gian.

Câu 5: Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?

Đây là câu hỏi mở, bạn có thể tham khảo các ý sau:

• Sự thấu hiểu và lòng biết ơn: Cảm thấy xúc động trước hình ảnh những người mẹ, người bà đã dùng cả "nửa đời người" gánh vác sự sống cho gia đình qua những gánh nước sông đơn sơ.

• Nỗi xót xa về sự nghèo khó: Suy nghĩ về sự khắc nghiệt của số phận khi cái nghèo và sự vất vả dường như trở thành một "vòng lặp" khó thoát ra (con gái lại gánh nước, con trai lại vác cần câu).

• Sức sống bền bỉ: Hình ảnh đôi bàn chân "toẽ ra như móng chân gà mái" tuy thô kệch nhưng lại là biểu tượng của sự trụ vững, sức mạnh phi thường để nuôi nấng những "lũ trẻ cởi truồng" lớn lên.


24 tháng 4

Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do

Số chữ trong mỗi dòng thơ không bằng nhau


Câu 2.
Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ gồm:

  • Tự sự (kể lại những gì “tôi thấy” qua nhiều năm tháng)
  • Miêu tả (hình ảnh người đàn bà gánh nước, trẻ em, người đàn ông…)
  • Biểu cảm (thể hiện nỗi xót xa, trăn trở trước cuộc sống lam lũ, lặp lại buồn bã)

Câu 3.
Việc lặp lại câu thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:

  • Nhấn mạnh thời gian dài đằng đẵng, sự lặp lại của cảnh đời.
  • Gợi ra vòng luẩn quẩn, bế tắc của cuộc sống người dân nơi đây.
  • Thể hiện nỗi ám ảnh, day dứt của tác giả trước những cảnh đời không đổi thay.

Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống lao động nghèo khó của những người dân ven sông (đặc biệt là phụ nữ và gia đình họ).
  • Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự cảm thương sâu sắc trước cuộc sống lam lũ, cực nhọc, lặp lại qua nhiều thế hệ, đồng thời gợi lên nỗi trăn trở về số phận con người và khát vọng đổi thay.

Câu 5.
Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc. Trước hết là sự xót xa trước hình ảnh những người phụ nữ phải lao động vất vả, gánh nước suốt cả cuộc đời. Cuộc sống của họ không chỉ khó khăn mà còn lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, khiến ta cảm nhận rõ sự nghèo đói và bế tắc. Bên cạnh đó, hình ảnh những đứa trẻ lớn lên rồi tiếp tục con đường của cha mẹ khiến em suy nghĩ về sự thiếu cơ hội để thay đổi số phận. Từ đó, em nhận ra cần trân trọng cuộc sống hiện tại, cố gắng học tập để không rơi vào vòng luẩn quẩn như vậy, đồng thời biết yêu thương, sẻ chia với những con người có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội

24 tháng 4

Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Các phương thức biểu đạt:

  • Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, suy tư)
  • Miêu tả (khắc họa hình ảnh người đàn bà, con sông, làng quê)
  • Tự sự (kể lại những gì “tôi thấy” qua thời gian)

Câu 3.
Việc lặp lại câu “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng

  • Tác dụng nghệ thuật:
    Điệp lại câu thơ tạo biện pháp điệp cấu trúc/điệp ngữ, giúp nhịp thơ trở nên dồn dập, ám ảnh, đồng thời tăng tính liên kết giữa các đoạn, làm nổi bật mạch cảm xúc xuyên suốt bài thơ.
  • Tác dụng nội dung:
    Nhấn mạnh dòng thời gian kéo dài (5 năm – 15 năm – 30 năm – nửa đời) mà “tôi” chứng kiến, qua đó làm nổi bật sự lặp lại, bế tắc của cuộc sống lam lũ, gợi nỗi xót xa, trăn trở trước số phận con người gần như không đổi qua nhiều thế hệ.


Câu 4.

Bài thơ khai thác đề tài về cuộc sống của những con người lao động ven sông, đặc biệt là hình ảnh những người phụ nữ gánh nước với bao nỗi nhọc nhằn, vất vả. Qua đó, tác giả thể hiện chủ đề là niềm xót xa, thương cảm trước số phận lam lũ, quẩn quanh của họ khi cuộc sống dường như lặp lại qua nhiều thế hệ mà không có sự đổi thay. Đồng thời, bài thơ còn gợi ra những suy ngẫm sâu sắc về vòng quay nghiệt ngã của đời sống và khát vọng về một sự đổi khác tốt đẹp hơn cho con người.


Câu 5.
Bài thơ gợi cho em suy nghĩ về sự vất vả, hi sinh thầm lặng của những người lao động, đặc biệt là phụ nữ. Cuộc sống của họ dường như lặp lại qua nhiều thế hệ, ít có sự đổi thay. Điều đó khiến em thêm trân trọng những con người bình dị và ý thức hơn về việc phải cố gắng học tập, góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, để không còn những cảnh đời nhọc nhằn như trong bài thơ.


24 tháng 4

Câu 1. Xác định thể thơ

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do

  • Không bị ràng buộc số chữ, số câu
  • Nhịp điệu linh hoạt, giàu cảm xúc


Câu 2. Phương thức biểu đạt

→ Các phương thức biểu đạt chính:

  • Biểu cảm (chủ đạo): thể hiện nỗi xót xa, trăn trở về cuộc đời người dân chài
  • Tự sự: kể lại những hình ảnh, cảnh đời lặp lại qua thời gian
  • Miêu tả: khắc họa chân thực hình ảnh người đàn bà gánh nước, người đàn ông đi biển,…


Câu 3. Tác dụng của việc lặp lại câu thơ

“Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy”

→ Tác dụng:

  • Nhấn mạnh sự kéo dài của thời gian (nhiều năm, cả đời người)
  • Gợi vòng lặp luẩn quẩn, bế tắc của cuộc sống người dân chài
  • Thể hiện sự ám ảnh, trăn trở của tác giả trước cảnh đời không đổi thay
  • Tăng nhịp điệu, tạo chiều sâu cảm xúc


Câu 4. Đề tài và chủ đề

- Đề tài:
→ Cuộc sống của người dân vùng biển (đặc biệt là phụ nữ gánh nước, đàn ông đi biển)

- Chủ đề:
→ Bài thơ phản ánh cuộc sống lam lũ, vất vả, bế tắc và lặp lại qua nhiều thế hệ của người dân chài, đồng thời bộc lộ niềm xót xa, day dứt của tác giả trước số phận con người.


Câu 5. Suy nghĩ của em

Bài thơ khiến em cảm nhận sâu sắc về cuộc sống vất vả, nhọc nhằn của người dân lao động vùng biển. Những hình ảnh lặp lại qua nhiều thế hệ gợi nên sự bế tắc, thiếu lối thoát, khiến em thấy xót xa và trân trọng hơn những con người lam lũ ấy. Từ đó, em nhận ra cần biết yêu thương, sẻ chia và sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, đặc biệt là những người còn nhiều khó khăn.


24 tháng 4

Câu 1. Xác định thể thơ

Bài thơ của Nguyễn Quang được viết theo thể thơ tự do.
→ Đặc điểm: không bị ràng buộc số câu, số chữ, vần điệu linh hoạt.

Câu 2. Các phương thức biểu đạt

Bài thơ sử dụng kết hợp:

  • Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc xót xa, thương cảm)
  • Tự sự (kể lại hình ảnh đời sống qua thời gian)
  • Miêu tả (khắc họa hình ảnh người phụ nữ, con sông, làng quê)

Câu 3. Tác dụng của việc lặp câu thơ

Câu thơ được lặp lại:

“Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy”

Tác dụng:

  • Nhấn mạnh dòng chảy thời gian dài đằng đẵng
  • Gợi sự chứng kiến bền bỉ của tác giả trước những số phận
  • Làm nổi bật tính lặp lại, luẩn quẩn của cuộc đời nghèo khó
  • Tăng giá trị biểu cảm, tạo âm hưởng day dứt


Câu 4. Đề tài và chủ đề

  • Đề tài:
    Cuộc sống của người dân lao động vùng sông nước, đặc biệt là người phụ nữ.
  • Chủ đề:
    Bài thơ thể hiện:
  • Nỗi xót thương trước cuộc đời lam lũ, vất vả
  • Sự bế tắc, nghèo đói kéo dài qua nhiều thế hệ
  • Đồng thời là lời cảnh tỉnh về vòng luẩn quẩn của số phận

Câu 5. Suy nghĩ của em

Bài thơ gợi cho em:

  • Sự cảm thông sâu sắc với những người phụ nữ nghèo khổ
  • Nhận ra cuộc sống vẫn còn nhiều bất công và khó khăn
  • Trân trọng hơn cuộc sống hiện tại
  • Ý thức cần cố gắng học tập để thay đổi tương lai, không để rơi vào vòng lặp nghèo khó như trong bài thơ


Câu 1 (khoảng 200 chữ)

Phân tích hình tượng người phụ nữ

Hình tượng người phụ nữ trong bài thơ hiện lên đầy ám ảnh qua những chi tiết chân thực và xót xa. Họ là những con người lam lũ, với “ngón chân xương xẩu”, “móng dài và đen”, gợi lên cuộc sống vất vả, thiếu thốn. Công việc gánh nước tưởng chừng bình thường nhưng lại kéo dài suốt nhiều năm, thậm chí “nửa đời”, cho thấy sự cực nhọc triền miên. Không chỉ vậy, họ còn phải gánh trên vai cả gia đình và số phận, khi một tay giữ đòn gánh, tay kia “bám vào mây trắng” – hình ảnh giàu tính biểu tượng cho khát vọng mong manh. Đáng buồn hơn, cuộc đời ấy dường như lặp lại qua các thế hệ: con gái lại tiếp tục gánh nước như mẹ. Qua đó, tác giả thể hiện niềm xót thương sâu sắc trước số phận người phụ nữ và phê phán sự bế tắc của cuộc sống nghèo khổ. Hình tượng ấy khiến người đọc không khỏi suy nghĩ về trách nhiệm thay đổi cuộc đời và xã hội.



Câu 2 (khoảng 600 chữ)

Nghị luận về “burnout” (kiệt sức) của giới trẻ

Trong xã hội hiện đại, “burnout” – hội chứng kiệt sức – đang trở thành vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt ở giới trẻ. Đây là trạng thái mệt mỏi kéo dài cả về thể chất lẫn tinh thần, khiến con người mất động lực học tập và làm việc.

Nguyên nhân của burnout đến từ nhiều phía. Trước hết là áp lực học tập, thi cử và kỳ vọng từ gia đình, xã hội. Nhiều bạn trẻ luôn phải chạy theo thành tích, dẫn đến căng thẳng kéo dài. Bên cạnh đó, việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều khiến họ dễ so sánh bản thân với người khác, từ đó sinh ra cảm giác tự ti, áp lực. Ngoài ra, lối sống thiếu cân bằng giữa học tập – nghỉ ngơi cũng là nguyên nhân quan trọng.

Hậu quả của burnout rất nghiêm trọng. Nó khiến người trẻ mất tập trung, giảm hiệu suất, thậm chí rơi vào trạng thái chán nản, mất phương hướng. Nếu kéo dài, burnout còn ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và tương lai của mỗi người.

Để khắc phục tình trạng này, cần có giải pháp từ cả cá nhân và xã hội. Mỗi bạn trẻ cần học cách quản lý thời gian, cân bằng giữa học tập và nghỉ ngơi. Đồng thời, nên xây dựng lối sống lành mạnh, tập thể dục và hạn chế phụ thuộc vào mạng xã hội. Gia đình và nhà trường cũng cần giảm áp lực, tạo môi trường tích cực để người trẻ phát triển toàn diện.

Burnout không phải là điều không thể vượt qua. Khi hiểu rõ bản thân và biết điều chỉnh, mỗi người trẻ hoàn toàn có thể lấy lại năng lượng và định hướng cho tương lai. Đây cũng là bài học quan trọng giúp chúng ta sống tích cực và bền vững hơn trong cuộc sống hiện đại.




24 tháng 4

Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Thể thơ: Tự do. (Các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không tuân theo quy tắc gieo vần hay số chữ cố định).

Câu 2: Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.

Các phương thức biểu đạt chính bao gồm:

Biểu cảm: Bộc lộ cảm xúc, sự trăn trở của tác giả trước cuộc sống nhọc nhằn.

Miêu tả: Khắc họa hình ảnh những người đàn bà, những bàn tay, bàn chân, dòng sông...

Tự sự: Kể về vòng lặp của cuộc đời, từ người mẹ đến những đứa trẻ lớn lên lại tiếp nối công việc ấy.

Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì?

Việc sử dụng biện pháp điệp ngữ/điệp cấu trúc này có các tác dụng sau:

Về mặt cấu trúc: Tạo nhịp điệu suy tư, nhức nhối cho bài thơ.

Về nội dung:

• Nhấn mạnh sự ám ảnh của tác giả về hình ảnh những người phụ nữ lao động vất vả.

• Khẳng định tính chất trường cửu, không thay đổi của kiếp người nghèo khó. Thời gian trôi đi (5 năm, 15 năm, 30 năm...) nhưng nỗi vất vả của họ vẫn còn nguyên vẹn.

• Thể hiện cái nhìn thấu cảm, gắn bó sâu sắc của nhân vật "tôi" với quê hương, xứ sở.

Câu 4: Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động lam lũ ở làng quê Việt Nam.

Chủ đề: Bài thơ ca ngợi sự kiên cường, nhẫn nại và đức hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ. Đồng thời, tác giả thể hiện niềm xót xa trước vòng lặp của cái nghèo, cái khổ truyền đời từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Câu5

"Trong cuộc sống hiện đại, tinh thần tương thân tương ái đóng vai trò vô cùng quan trọng để kết nối con người. Mỗi hành động nhỏ, từ việc nhường ghế trên xe buýt đến việc tham gia các hoạt động thiện nguyện, đều góp phần lan tỏa hơi ấm tình thương. Chúng ta không chỉ sống cho riêng mình mà còn cần biết sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh. Khi biết cho đi, giá trị bản thân mỗi người sẽ được nâng cao và tâm hồn trở nên thanh thản hơn. Tóm lại, mỗi cá nhân cần có ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng để cùng nhau xây dựng một xã hội văn minh và tốt đẹp hơn."



24 tháng 4

Câu 1.
→ Thể thơ: thơ tự do.

Câu 2.
→ Các phương thức biểu đạt:

  • Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ)
  • Tự sự (kể lại những gì “tôi thấy” qua thời gian)
  • Miêu tả (khắc họa hình ảnh người đàn bà gánh nước, cảnh sông nước)

Câu 3.
→ Tác dụng của việc lặp lại câu thơ:

  • Nhấn mạnh dòng thời gian dài đằng đẵng (5 năm, 15 năm, 30 năm, nửa đời người)
  • Thể hiện sự chứng kiến bền bỉ, ám ảnh của nhân vật “tôi”
  • Gợi ra vòng lặp số phận: cuộc sống vất vả của người dân cứ tiếp diễn qua nhiều thế hệ

Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống của những người lao động nghèo ven sông (đặc biệt là người phụ nữ gánh nước).
  • Chủ đề:
    → Thể hiện sự cảm thương, xót xa trước cuộc đời lam lũ, cơ cực
    → Đồng thời gợi suy ngẫm về vòng luẩn quẩn của nghèo khó và số phận con người qua các thế hệ

Câu 5.
→ Gợi ý viết (khoảng 5–7 dòng):
Bài thơ khiến em cảm nhận sâu sắc về cuộc sống nhọc nhằn, vất vả của những người phụ nữ lao động nghèo. Họ phải gánh trên vai không chỉ là nước mà còn là cả gánh nặng mưu sinh và số phận. Qua đó, em thấy thương cảm và trân trọng hơn những con người âm thầm hi sinh vì gia đình. Bài thơ cũng khiến em suy nghĩ về sự lặp lại của cuộc đời: những đứa trẻ lớn lên rồi lại tiếp tục con đường của cha mẹ. Từ đó, em nhận ra cần biết cố gắng học tập để thay đổi tương lai và sống có trách nhiệm hơn.


24 tháng 4

Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do (không bó buộc số câu, số chữ, nhịp điệu linh hoạt).




Câu 2.

Các phương thức biểu đạt được sử dụng gồm:


  • Tự sự: kể lại những gì “tôi thấy” qua thời gian.
  • Miêu tả: khắc họa hình ảnh người đàn bà, đàn ông, dòng sông, lũ trẻ…
  • Biểu cảm: thể hiện cảm xúc xót xa, trăn trở trước cuộc sống.





Câu 3.

Việc lặp lại câu: “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:


  • Nhấn mạnh độ dài thời gian chứng kiến (từ quá khứ đến hiện tại, kéo dài gần cả đời).
  • Tạo cảm giác lặp lại, luẩn quẩn của cuộc sống người dân ven sông.
  • Thể hiện nỗi ám ảnh, day dứt của tác giả trước những cảnh đời nghèo khó, bế tắc không thay đổi.





Câu 4.


  • Đề tài: Cuộc sống của những con người lao động nghèo vùng sông nước (đàn bà gánh nước, đàn ông đi câu cá, lũ trẻ lớn lên…).
  • Chủ đề: Phản ánh vòng luẩn quẩn, bế tắc của đời sống nghèo khó qua nhiều thế hệ, đồng thời bộc lộ niềm xót xa, trăn trở trước số phận con người và khát vọng đổi thay.





Câu 5.

Bài thơ gợi nhiều suy nghĩ:


  • Cuộc sống của người lao động nghèo vẫn còn nhiều vất vả, lặp lại qua các thế hệ mà chưa có lối thoát.
  • Con người dường như bị cuốn vào một vòng quay định mệnh: lớn lên rồi lại tiếp tục cuộc đời giống cha mẹ.
  • Gợi sự cảm thông, thương xót và thôi thúc mỗi người suy nghĩ về trách nhiệm thay đổi cuộc sống, hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn.



Câu 1..

Thể thơ: Tự do (các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không gò bó về số chữ hay vần luật).

Câu 2.

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.

Kết hợp với: Tự sự (kể về sự luân hồi của các kiếp người bên dòng sông) và Miêu tả (hình ảnh con cá, lũ trẻ, người đàn bà gánh nước...).

Câu 3.

Nhấn mạnh sự ám ảnh: Cho thấy những hình ảnh, sự việc đó diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại suốt một thời gian dài trong tâm trí tác giả.

Tạo nhịp điệu: Làm tăng tính nhạc, tạo sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại.

Khẳng định sự quan sát chiêm nghiệm: Thể hiện cái nhìn đau đáu, sâu sắc của tác giả về sự vận động và những nỗi đau âm thaaucaaugu

Câu 4

Đề tài: Bài thơ viết về đề tài quê hương, cụ thể là cuộc sống lam lũ, nhọc nhằn của những con người nghèo khổ bên dòng sông quê (hình ảnh dòng sông Đáy quen thuộc trong thơ Nguyễn Quang Thiều).

Chủ đề: Thông qua việc tái hiện những hình ảnh đau xót và sự nối tiếp của các thế hệ trong cảnh nghèo khó, bài thơ thể hiện niềm thương cảm sâu sắc, nỗi trăn trở khôn nguôi của tác giả trước những thân phận con người bé nhỏ và sự tổn thương của những giá trị thiêng liêng trước thực tại đời sống nghiệt ngã.

Câu 5



Câu 1 Thể thơ tự do các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau không gò bó về số chữ

Câu 2 Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm

Câu3 Tạo nhịp điệu Giúp bài thơ có sự kết nối như một lời kể lặp đi lặp lại đầy trăn trở

Nhấn mạnh thời gian Khẳng định sự quan sát bền bỉ lâu dài của tác giả đối với cuộc sống quê hương

Nhấn mạnh sự ám ảnh Cho thấy những hình ảnh về người phụ nữ gánh nước người đàn ông đi câu đã in sâu vào tâm trí trở thành một phần không thể thiếu trong kí ức và cuộc đời tác giả

Câu 4 ddeef taif cuộc sống sinh hoạt của những con người ở làng quê nghèo bên dòng sông.

Chủ đề Bài thơ thể hiện sự trân trọng, niềm thương cảm và nỗi ám ảnh của tác giả trước cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ của những người dân quê (đặc biệt là người phụ nữ) và sự nối tiếp các thế hệ trong cái nghèo khó nhưng đầy nghị lực

Câu 5

Bài thơ gợi cho em niềm xúc động nghẹn ngào trước hình ảnh những người phụ nữ lam lũ bên dòng sông quê hương. Những chi tiết tả thực về ngoại hình 'xương xẩu' 'móng dài và đen' không làm họ xấu đi mà trái lại, càng làm tôn lên sự hy sinh vĩ đại của người phụ nữ trong việc gánh vác cuộc đời. Em nhận ra rằng, đằng sau sự trưởng thành của mỗi người là cả một cuộc đời 'nửa đời tôi thấy' đầy nhọc nhằn của thế hệ đi trước ddồng thời bài thơ cũng gieo vào lòng em một nỗi trăn trở về tương lai, thôi thúc em phải nỗ lực học tập để những đòn gánh nhọc nhằn ấy không còn là gánh nặng duy nhất trên vai những người phụ nữ Việt Nam

26 tháng 3 2019

Dịch đây nè:

Nếu bạn có thể dịch, tôi sẽ yêu bạn cả đời

Đọc chó về nhà

26 tháng 3 2019

Câu hỏi :

Dịch nghĩa từ : гэрийн нохойг уншаарай

Trả lời :

Đọc chó về nhà

P/S : Mk cx ko chắc nx , nhưng bn nên cho bt từ đó là tiếng nước nào chứ !!!!

sai rồi phải là 

ĐỌC LÀ CON CHÓ 

đó là tiếng MÔNG CỔ

27 tháng 3 2019

Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.

27 tháng 3 2019

Dịch ra tiếng việt:

Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.

Dịch ra tiếng anh: 

What am I Dressing up the feathers with a long feather. I usually have hot and wet wires working in the environment. At work, I work forward, pushing forward, I hit the white. Usually work 1-3 times a day, but unfortunately sometimes I can not use it.

14 tháng 12 2021

1. tất cả các tháng có 28 ngày

2. mày chết rồi à ,.....................

3. chọn phòng thứ 3 là an toàn 

14 tháng 12 2021

1.Tất cả các tháng có 28 ngày

2.Mày chết rồi à ......................

3.Ba = Bố , Bố . n Bốn

4. Chọn phòng số 3 an toàn vì con sư tử kia chết rồi

7 tháng 1 2022

các bn chỉ cần dịch 사랑해 thui nha

7 tháng 1 2022

사랑해= tôi mến bạn 도와주세요 = cứu giúp 

Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 3 :Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay người xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 3 :

Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay người xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằngba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

Đó là lý do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lý do đó mà thôi.

Kinh Tamud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.”. Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

[....] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích “Nếu biết trăm năm là hữu hạn...” - Phạm Lữ Ân, NXB Hội Nhà văn, 2019, tr 15)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Lý do đầu tiên để nhân vật tôi muốn trở thành một ngươi chính trực và biết yêu thương là gì?

Câu 3: Nội dung câu Kinh Talmud: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” được anh/chị hiểu như thế nào?

1
1 tháng 1 2022

Câu 1 : Tự sự

Câu 2 : Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con  con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. ... Đó là lý do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3 : - Câu kinh đó ý nói: khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ những thế hệ sau này. Những điều tốt đẹp ấy sẽ như một hạt giống tốt tươi được lan xa, lan rộng.

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến...
Đọc tiếp

 

 

Phn I. Đọc hiu (3,0 đim)

Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó.

Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác. Tìm hiểu xem những người đi trước đã đối phó với khó khăn tương tự như thế nào giúp chúng ta tìm ra giải pháp cho mình. Những tấm gương về những con người đầy nghị lực và giàu lòng quả cảm, có khả năng trụ vững sau bao cơn giông tố của cuốc đời luôn là tâm điểm cho chúng ta noi theo.

Đó là nghị lực của Walt Disney trong việc thực hiện ước mơ của mình sau năm lần phá sản. Bất chấp số phận, Helen Keller đã không cam chịu để người đời thương hại. Ngược lại bà đã dũng cảm vượt qua nghịch cảnh, trở thành tấm gương sáng cho hàng triệu người noi theo…

Niềm tin vào bản thân là nội lực thúc đẩy thái độ tích cực, dẫn dắt chúng ta đạt được mục tiêu của mình. Thành công không bao giờ đến với những ai yếu đuối và có thái độ buông xuôi.

          ( Điều kì diệu của thái độ sống, Mac Anderson, NxbTổng hợp TP.Hồ Chí Minh năm 2008, tr14)

Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Văn bản tập trung bàn về vấn đề gì?

Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong câu:"Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó."

Câu 3. Theo anh/ chị, việc đưa ra dẫn chứng hai nhân vật Walt Disney Helen Keller có tác dụng gì?

Câu 4. Anh chị có đồng tình với quan điểm: Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác hay không? Vì sao?

 Phn II. Làm văn (7,0 đim)

Câu 1. (2,0 đim)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về sức mạnh nghị lực của con người trong cuộc sống.

41
19 tháng 8 2021

mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau

19 tháng 8 2021

Phần I 

Câu 1:

Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.

Câu 2:

Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.

Câu 3:

Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.

Câu 4:

Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.

Phần II

Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của  rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con  rùa, nó  không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.

Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.

Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:

“Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”

Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.

           Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.