Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Bài thơ "Mây hay khóc" của tác giả Nguyễn Lãm Thắng là một tác phẩm đầy cảm xúc và sâu sắc. Đọc bài thơ này, em cảm nhận được sự tương phản giữa vẻ đẹp và sự đau khổ của cuộc sống. Tác giả đã sử dụng hình ảnh mây để tả những cung bậc cảm xúc trong lòng người, từ niềm vui, sự hạnh phúc đến nỗi buồn, nỗi đau. Bài thơ mang đến cho em một cảm giác thăng hoa và đồng thời cũng gợi mở những suy nghĩ sâu xa về cuộc sống và ý nghĩa của nó.
Sau khi đọc bài thơ "Mây hay khóc" của tác giả Nguyễn Lãm Thắng, tôi cảm thấy rất xúc động và đắm chìm trong những tâm tư sâu sắc của tác giả.
Bài thơ mang đến cho tôi một cảm giác buồn và lắng đọng. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh mây và nước mắt để tả lại những cảm xúc đau đớn và khó tả trong lòng người. Tôi có thể cảm nhận được sự đau khổ và nỗi buồn trong từng câu thơ. Tác giả đã mô tả mây như những "ngọn lửa tàn phai" và nước mắt như "mưa rơi trên mặt đất". Những hình ảnh này tạo nên một không gian u ám và đau thương, khiến tôi cảm nhận được sự tuyệt vọng và cô đơn của nhân vật trong bài thơ. Bài thơ cũng khơi gợi trong tôi những cảm xúc về sự mất mát và sự chia ly. Tôi cảm nhận được nỗi đau khi tác giả viết về "những mảnh tình tan vỡ" và "những giọt nước mắt khô cạn". Tình yêu và hy vọng đã tan biến, để lại những vết thương sâu trong lòng.
Tuy nhiên, dù bài thơ mang đến những cảm xúc buồn, nhưng nó cũng đem lại cho tôi một cái nhìn sâu sắc về cuộc sống và con người. Tôi nhận ra rằng trong cuộc sống, chúng ta không thể tránh khỏi những đau thương và nước mắt. Nhưng đôi khi, những nỗi đau đó cũng là những trải nghiệm quý giá, giúp chúng ta trưởng thành và hiểu rõ hơn về bản thân.
Tôi cảm thấy biết ơn với tác giả vì đã chia sẻ những tâm tư và cảm xúc chân thành trong bài thơ này. "Mây hay khóc" đã làm cho tôi suy ngẫm về cuộc sống và giúp tôi đánh giá lại những giá trị thực sự trong cuộc sống.
2.
Nguyễn Khuyến là nhà thơ nôm kiệt xuất của dân tộc ta đầu thế kỉ 20. Ông là tác giả của chùm thơ thu nổi tiếng: Thu điếu , thu vịnh , và thu ẩm. Ngoài ra , ông còn để lại nhiều bài thơ hay nói lên tình bạn cao quý , chân thành và cảm động. “Bạn đến chơi nhà” là một trong những bài thơ nôm tiêu biểu ấy.
Câu nhập đề rất tự nhiên, mộc mạc , giản dị nhưng lại biểu lộ sự vồn vã, vui mừng khôn xiết của một người đã quá lâu rồi mới gặp lại bạn tri âm. “Đã bấy lâu nay bác tới nhà” Chữ “bác” gợi lên thái độ niềm nở, thân mật, và trân trọng, một cách xưng hô thân tình. Ta như cảm nhận được những giọt lệ đang ứa ra ở khóe mắt đôi bạn già tri kỉ đã quá lâu rồi mới được gặp nhau. Sự xa cách, nhớ mong làm nỗi bật niềm xúc động, niềm vui sướng vô hạn khi gặp lại bạn. “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà Cải chửa ra cây, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa” Nối tiếp sự vui mừng khôn xiết là một nụ cười rạng rỡ nhưng cũng vô cùng hóm hĩnh. Nhà thơ đã tự tạo ra một tình huống éo le. Đoạn thơ như vẽ lên một bức tranh thân thuộc của khu vườn nơi thôn dã. Có ao cá, có gà, có cà, có cải, có mướp, có bầu…,có hai người bạn già đang cầm tay nhau đi dạo trong vườn, tận hưởng thú vui dân dã của một ông quan về ở ẩn. Có tất cả mà cũng chẳng có gì để đãi bạn. Ta có cảm giác như ông đang phân giải với bạn, nhưng cũng có cảm giác ông đang nói lên cuộc sống thanh bạch của chính mình. “Miếng trầu là đầu câu chuyện” thế mà Nguyễn Khuyến thì “Đầu trò tiếp khách trầu không có”, sự thiếu thốn đã được ông nâng cao một cách hóm hỉnh, hài hước đến tột đỉnh. Tất cả để khẳng định : “ Bác đến chơi đây, ta với ta” Mọi cái đều “không có” ,chỉ có duy nhất một thứ, đó là tình bạn thắm thiết mà không một thứ vật chất nào có thể thay thế được. Tình bạn là trên hết. Tình bạn được xây dựng từ sự cảm thông , tôn trọng lẫn nhau, không vụ lợi. Cuộc đời một con người có được bao nhiêu người bạn thân như thế. Đoạn thơ như dạy cho chúng ta phải biết nuôi dưỡng tình bạn trong sáng như thế nào. Hãy trải lòng ra để sống với mọi người, đừng để vật chất làm hoen ố những tình cảm vốn rất đẹp trong mỗi chúng ta.
Tóm lại, bài “Bác đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến được viết bằng lời thơ giản dị, mộc mạc nhưng thanh thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên, nói lên được tình bạn thâm giao, trong sáng, chân tình. Nó có tác dụng giúp chúng ta nhìn nhận lại chính bản thân mình, không bị cuộc sống vật chất của xã hội phát triển lôi kéo, giúp chúng ta luôn giữ được một tình bạn trong sáng, thủy chung, và cao đẹp vốn là bản chất của dân tộc Việt.
1.
Năm 1947‐ thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ và truờng kì. Giữa những thiếu thốn và thử thách tưởng chừng khó có thể vượt qua, Bác Hồ vẫn giữ phong thái ung dung, tự tại. Tại nơi núi rừng Tây Bắc khốc liệt này, Bác Hồ vẫn dành Tôi là ai (/vip/tla1234) 25/11 lúc 12:35 5 câu trả lời ﴾/hoi‐dap/question/131428.html﴿ Natalie Lê ﴾/vip/minhthu04﴿ Nguyễn Thị Mai ﴾/vip/maimoonest2k4﴿Mai Phương aNH ﴾/vip/phuonganh123456789﴿ Văn Sử Địa ﴾/van‐su‐dia/hoi‐dap/﴿ Ôn tập ngữ văn lớp 7 ﴾/hoi‐dap/on‐tap‐ngu‐van‐lop‐7.579/ ﴿ Em hãy phát biểu cảm nghĩ về bài thơ "Cảnh Khuya" của Hồ Chí Minh. ﴾/hoi‐dap/question/131428.html﴿ Help me! ﴾/hoi‐dap/question/131428.html﴿ Chọn 1 trong các đề sau1. Phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Cảnh khuya của Chủ tịch Hồ Chí Minh2. Phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến3 . Phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Bnáh trôi nước của Hồ Xuân Hương ﴾ help me đề thi cuối HKI của mình giúp mk , cảm ơn ạ ﴿ Tìm kiếm 30/11/2016 Kết quả tìm kiếm | Học trực tuyến /hoidap/timkiem?q=Ch%E1%BB%8Dn+1+trong+c%C3%A1c+%C4%91%E1%BB%81+sau1.+Ph%C3%A1t+bi%E1%BB%83u+c%E1… 2/53 cho mình những phút thanh thản để thuởng thức vẻ đẹp thiên nhiên, thiên nhiên chính là nguồn khích lệ to lớn đối với nguời chiến sĩ‐nghệ sĩ nơi chiến. Bài thơ cảnh khuya đã đuợc nguời sang tác trong một đêm tại chiến khu Việt Bắc Trăng là nguồn cảm hứng bất tận của rất nhiều những thi nhân, ánh trăng ko chỉ mang lại vẻ đẹp cho thiên nhiên đất nước mà còn trở thành người bạn tri kỉ để mỗi có thể chia sẻ buồn vui. Có đôi khi trăng như dòng suôí làm tan đi những ưu phiền, mệt mỏi. Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bong lồng hoa Cảnh trăng đêm êm đềm thơ mộng đi vào lòng nguời nghệ sĩ, giữa cảnh đêm trăng tĩnh lặng tiếng suối róc rách trong veo đuợc ví với tiếng hát văng vẳng lúc gần lúc xa. “Tiếng hát xa” là loại âm thanh đặc biệt, tiếng hát rất cao để có sức lan toả mạnh mẽ, để từ phía xa con người vẫn có thể cảm nhận. Đó cũng là tiếng hát vang lên trong không gian yên lặng, nó không bị lẫn vào những âm thanh phức tạp của sự sống. Điều thú vị là âm thanh của tự nhiên được so sánh với tiếng hát của con người làm nổi bật hơn tiếng suối trong veo trong đêm. Đặc biệt hơn, âm thanh ấy càng trở nên nhẹ nhàng, âm vang hơn khi được cất lên dưới ánh trăng vàng. Ánh trăng sáng chiếu xuống mặt đất tạo vẻ đẹp lấp lánh, những bông hoa nghiêng bóng trên mặt đất tạo nên những bức tranh lúc ẩn lúc hiện thật khiến nguời ta xao lòng. Hai từ "lồng" đuợc Bác đặt chung trong một câu thơ tạo những ấn tượng rất riêng biệt. "Lồng" là động từ chỉ việc các vật nằm vào trong một cách thặt khớp để tạo thành khối chỉnh thể. Chỉ với một từ ấy, cảnh vật như đang giao hoà vào nhau, nương dựa nhau một cách duyên dáng và đáng yêu Tất cả đuợc giao hòa nhịp nhàng, tạo nên nhịp điệu êm đềm, dẫn dắt tâm hồn người vào cõi mơ mộng. Nếu như ở hai câu mở đầu bài thơ là cảnh đẹp đêm trăng nơi rừng sâu thì hai câu sau lại là tâm trạng của Bác trước thời cuộc: Cảnh khuya như vẽ nguời chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nuớc nhà Cảnh khuya sống động, có hồn chứng tỏ một điều: người đang thưởng cảnh, đang xa rời giấc ngủ yên bình thường nhật để giao hòa với thiên nhiên kia. Cái hồn của thiên nhiên đã tác động mạnh mẽ đến trái tim nguời nghệ sĩ nhạy cảm ấy và là nguyên nhân khiến cho người chưa ngủ. Làm sao Nguời có thể ngủ được trước đêm trăng thanh gió mát đẹp mê hồn như đêm nay Thao thức không ngủ là hệ quả tất yếu của nỗi trăn trở không nguôi trong tâm hồn Nguời trước cái đẹp. Ngòai lí do cảnh đẹp không thể cuỡng lại, Bác còn không thể ngủ đuợc vì “lo nỗi nuớc nhà”. Câu thơ vang lên như một sự tỉnh mộng cho người đọc. Chúng ta cứ ngỡ rằng Bác đang thả mình thảnh thơi thương cảnh chơi trăng nhưng kì thực lòng Người vẫn đang đau đáu một nỗi niềm non nước‐lo nỗi nuớc nhà. Mặc dù có tạm để lòng mình hướng đến cảnh vật xung quanh nhưng tâm hồn bác vẫn luôn huớng về nuớc nhà, vẫn luôn huớng về non song, dân tộc và đất nuớc. Cả hai câu thơ trên cho ta thấy sự gắn bó giữa con ngưới thi sĩ‐chiến sĩ đa cảm và con ngưới chiến sĩ kiên cường cho dù có bao gian khó trong Bác. Cảnh khuya là một bài thơ tứ tuyệt rất hay và đẹp, đây là sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại. Qua bài thơ này, ta có thể thấy đuợc nét đẹp của thiên nhiên cũng như tâm trạng của tác giả. Tất cả những điều đó đều giúp chúng ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn Người: lòng yêu thiên nhiên và tâm hồn cao cả của Bác. Thơ của Bác luôn giản dị, tự nhiên và trong sáng. Chính vì vậy những dòng thơ luôn êm đẹp, hồn hậu khơi gợi niềm thích thú và tình yêu trong lòng mỗi con nguời chúng ta
a) Em thích khổ thơ cuối của bài nhất vì:
Từ tình yêu quê hương yêu bà đã biến thành lòng yêu tổ quốc. Đó là động lực thôi thúc cháu đứng lên gia nhập quân đội chiến đấu và bảo vệ tổ quốc.Trong một phần máu thịt tổ quốc có bà có đàn gà tuổi thơ là một miền kí ức êm dịu nhất của cuộc đời chiến sĩ. Với giọng thơ nhẹ nhàng dạt dào cảm xúc của một nữ thi sĩ, hình ảnh tiếng gà trở đi trở lại ở mỗi khổ thơ tác giả đã vẽ lên một bức tranh làng quê thật thanh bình thật đẹp.
Tiếng gà trưa, sự tần tảo của bà là những dư vị ngọt ngào nhất còn đọng lại trong tâm hồn mỗi độc giả mỗi khi nhớ về bài thơ này.
b) Bao trùm bài thơ là nỗi cồn cào da diết. Nhớ nhà, nhớ người bà của mình, đó là tâm trạng tất yếu của những người lính trẻ vừa bước qua hoặc chưa bước qua hết tuổi học trò đã phải buông cây bút, cầm cây bút ra đi đánh giặc cứu nước. Nỗi nhớ ở dây thật giản dị và cụ thể. Chỉ một tiếng gà trưa bất chợt nghe thấy khi Dừng chân bên xóm nhỏ là đã gợi dậy cả một trời thương nhớ. Tiếng gà nhảy ổ làm xao động nắng trưa và cũng làm xao xuyến lòng người. Nghe tiếng gà mà như nghe thấy tiếng quê hương, tiếng bà an ủi, vỗ về và tiếp thêm sức mạnh. Suốt một đời lam lũ, lo toan, bà chẳng bao giờ nghĩ đến bản thân mà chỉ lo cho cháu, bởi đứa cháu đối với bà là tất cả. bà chỉ mong đàn gà thoát khỏi nạn dịch mỗi khi mùa đông tới : Để cuối năm bán gà, Cháu được quần áo mới. Ao ước của cháu có được cái quần chéo go, cái áo... Hạnh phúc gia đình giản dị, tình bà cháu đầm ấm mà rất đỗi thiên liêng cùng bao khát vọng tuổi thơ dường như nói gọn cả trong tiếng gà trưa.
a) Trong cả bài thơ Tiếng gà trưa, có lẽ hình ảnh mà tôi thích nhất đó chính là nằm trong đoạn cuối của bài Tiếng gà trưa:
"Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ"
Đó chính là hình ảnh người chiến sĩ quải ba lô ra trận hùng hồn.
Có lẽ nhờ nghỉ chân bên đường, được nghe tiếng gà trưa, người chiến sĩ như cảm thấy đỡ mỏi chân hơn, cái nắng như dịu lại và vô vàn kỉ niệm lại ùa về. Nào là kỉ niệm về đàn gà, lời mắng yêu của bà lúc lén xem trộm gà **, lúc bà khum khum soi trứng dành từng quả chắt chiu cho gà mái ấp và mong trời đừng sương muối để cuối năm bán gà mua quần áo mới cho cháu. Những kỉ niệm đẹp đẽ ấy hòa quyện vào nhau tạo ra một mục đích sống và chiến đấu lí tưởng của người chiến sĩ. Đó là chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tổ quốc mà còn thì làng quê sẽ còn và hình bóng, bóng dáng của bà sẽ vẫn ở đấy, trong cái xóm thân thuộc kia. Đó chính là động lực thúc đẩy người chiến sĩ hùng hồn ra trận, quải ba lô tiến đến chiến trường.
b) Tình cảm bà cháu là tình cảm đẹp đẽ, thiêng liêng và vô cùng sâu nặng. Tình cảm đó đã hằn sâu trong kí ức tuổi thơ của người chiến sĩ. Do vậy, trên đường hành quân xa, chỉ một tiếng gà cục tác đà gợi dậy những kĩ niệm tuổi thơ đẹp đẽ, đáng nhớ về bà. Đó là sự chắt chiu, tần tảo với bao nỗi lo, bao niềm mong ước của bà với tình thương bao la dành cho cháu. Những kĩ niệm đó thật bình dị mà thiêng liêng! Nó nhắc nhở, lay động bao tình cảm đẹp dâng lên trong lòng người chiến sĩ trên đường hành quân ra mặt trận chiến đấu. Tình cảm tôt đẹp đó sẽ mãi là hành trang theo bước chân của người chiến sĩ, tiếp thêm sức mạnh cho anh trong cuộc chiến đấu hôm nay.
Có ai đi xa mà chẳng nhớ về quê hương làng xóm. Nơi đã gắn bó máu thịt trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Với Lý Bạch, thi nhân suốt đời chống kiếm lãng du luôn nặng tình với quê hương. Tình cảm ấy thể hiện da diết mãnh liệt, dâng trào, nó được nâng cánh bằng cảm hứng lãng mạn, bay bổng diệu kỳ qua bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh.
Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương
Từ xưa đến nay các thi nhân bao giờ cũng mượn cảnh để bày tỏ nỗi niềm tâm sự. Một bức tranh đẹp ập vào mắt ta trước tiên cũng là cảnh và sau đó là tình, tả tâm trạng ẩn chứa bên trong Lý Bạch - “thi tiên” của đời Đường Trung Quốc ngay từ những dòng thơ đầu đã dẫn ta vào một thế giới tràn đầy ảo diệu.
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Ấn tưọng đầu tiên là trăng, trăng ở khắp mọi nơi không chỉ giới tận nơi đầu giường lữ khách. Đêm khuya thanh tĩnh, bốn bề vắng lặng ta nghe những bước trăng nhẹ nhàng len lỏi phủ khắp không gian. Trăng như dòng suối miên man chảy trong đêm sâu. Trăng dịu mát vuốt ve cảnh vật trong cái tĩnh lặng đến khôn cùng. Trong đêm thâu, không gian bốn bề vắng lặng, không một tiếng gió thổi, một tiếng côn trùng kêu, cũng chẳng có một tiếng chuông chùa ngân buông... chỉ có trăng sáng trải khắp không gian. Ánh trăng gợi cảm giác lâng lâng lạ thường, ánh trăng giờ đây là chủ thể. Thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp trong sáng nhất. Cuộc sống trở về những nhịp thâm trầm, trút bỏ cái náo động, xô bồ của ban ngày. Trăng đẹp hiền dịu biết bao, trăng tìm đến với con người. Bác Hồ của chúng ta cũng là một lãnh tụ rất yêu trăng:
Trăng vào cửa sổ đòi thơ
Việc quân đang bận xin chờ hôm sau
Bác Hồ đành từ chối người bạn tri âm tri kỷ bởi còn bận việc nước. Còn với Lý Bạch người lãng tử trong phút dừng chân nơi quán trọ để trọn lòng mình đến với trăng. Trăng đẹp và thơ mộng quá. Đêm đã sang canh êm đềm thanh tĩnh lúc này chỉ có trăng và nhà thơ. Và rồi không thể hững hờ với vầng trăng đã từng làm bạn từ ngày còn hẹn hò trên núi Nga Mi. Lý Bạch ngẩng đầu ngắm trăng, trăng gặp thi nhân như hai kẻ tri âm tri kỷ, cảm động không nói nên lời.
Trong phút đối diện bất ngờ ấy, sự liên tưởng lãng mạn kèm theo sự hoài nghi diệu kỳ. Trăng hay là sương mặt đất? Ánh trăng hắt qua song cửa hay là sương khói mông lung? Trăng thực đấy mà sao mờ mờ, ảo ảo khó nắm bắt đến kỳ lạ. Cái sương khói của ánh trăng làm cho câu thơ ngập trong không khí mơ màng, hư hư thực thực, trăng sáng mà sáng bàng bạc huyền ảo. Trăng ở quanh thi nhân như tầng tầng lớp lớp. Trăng làm cho căn phòng hẹp của thi nhân và mặt đất bao la hoà làm một, và cũng rất tự nhiên:
Cửu đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương
(Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cô hương)
Đêm nay nhìn trăng sáng nơi quê người, nỗi lòng mãnh liệt, tha thiết trong lòng đứa con xa quê trỗi dậy, day dứt khôn nguôi. Ánh trăng thời trai trẻ năm nào trên núi Nga Mi hiện về. Quá khứ, hiện tại, quê nhà, quê người, thành công, thất bại, hy vọng.. đan xen trĩu nặng trong lòng tác giả, ánh trăng đêm nay sáng quá và nó gợi bao kỷ niệm. Ngẩng đầu nhìn trăng là tư thế hướng ngoại, cúi đầu là nhớ về cố hương (hướng nội). Hai tư thế ngẩng đầu, và cúi đầu, hai tâm trạng nhìn và nhớ, hai đối tượng làm trĩu lòng kẻ xa quê. Hai hình ảnh trăng sáng và cố hương đi sóng đôi nhau biểu hiện một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết. Nhớ cố hương là nhớ tới gia đình, người thân, nhớ tới thời thơ ấu với bao mộng tưởng đẹp đẽ. Thế mới biết quê hương là những gì thiêng liêng nhất, một ngôi nhà, một góc phố, một cánh đồng, một dòng sông...
Nhà thơ Chế Lan Viên có câu:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn
(Tiếng hát con tàu)
Tình yêu quê hương đã thành máu, thành hồn. Nó được thể hiện qua những cung bậc của tình cảm. Nỗi nhớ quê hương qua sự khơi gợi của ánh trăng dội về mãnh liệt. Tình yêu quê hương với cả một bức tranh chan chứa ánh trăng làm nền bay cao mãi, xa mãi, ngân vang mãi khúc nhạc lòng của chàng trai trẻ ngày nào trên núi Nga Mi. Câu thơ cuối khép lại nhưng tình nhưng ý còn chưa dứt. Dù chỉ trong hai mươi chữ, nhưng cuối cùng ấn tượng đậm nét trong ta về Lý Bạch là một con người luôn gắn bó với cố hương.
Quả thật Lý Bạch với tình yêu quê hương đất nước tha thiết, mãnh liệt được nâng cánh bằng những cảm hứng lãng mạn tuyệt vời. Tĩnh dạ tứ đã hâm nóng những mạch cảm xúc trong ta, ta yêu quý trân trọng và hoà cùng những dòng thơ Lý Bạch chính là làm cho giá trị đích thực của thi ca chuyển tải thế giới nội tâm con người sống mãi với thời gian. Lý Bạch đã góp phần làm cho diện mạo thơ Đường thêm phong phú.
Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt trong văn học Việt Nam được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”. Thơ của bà rất độc đáo với phong cách thơ châm biếm sâu cay đồng thời cũng rất giản dị, mộc mạc trong hình ảnh. “Bánh trôi nước” là một bài thơ như vậy. Nhà thơ mượn hình ảnh nhỏ bé của chiếc bánh trôi nước đê nói lên thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, một xã hội không bình đẳng đầy áp bức bất công.
Tác giả mở đầu bài thơ bằng mô tip ca dao quen thuộc:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
“Thân em…” là mở mở đầu của biết bao câu ca dao nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Ở đây, trong hoàn cảnh cụ thể của bài thơ, “thân em” được ví với chiếc bánh trôi nước “vừa trắng lại vừa tròn”. Tác giả mượn hình ảnh mộc mạc của chiếc bánh trôi nước nhỏ bé để nói lên vẻ đẹp của người phụ nữ. Họ không chỉ có vẻ đẹp về hình thức mà còn trắng trong trong tâm hồn và trịa về nhân phẩm. Chỉ qua một câu thơ thôi tác giả đã cho ta thấy được đánh giá cũng như quan điểm của mình về hình ảnh người phụ nữ trong xã hội cũ.
Câu thơ tiếp theo:
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Hình ảnh người phụ nữ hoàn hảo như thế nhưng số phận họ ra sao? “Ba chìm bảy nổi” ở đây là một hình ảnh được tác giả vận dụng rất hay, rất hợp lí để nói về số phận của những người phụ nữ. Trong xã hội cũ, họ chẳng là gì cả, không được tự quyết định về số phận của mình, chỉ biết sống vì người khác theo quan niệm tam tòng tứ đức. Cuộc sống của họ lênh đênh chìm nổi như chiếc bánh trôi nước vậy.
Cảm nghĩ về bài “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương
Ở câu thơ thứ ba:
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Ở đây tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ rất tài tình. Nó nói lên sự phụ thuộc của người phụ nữ. Dù số phận có ra sao người phụ nữ cũng phải cam chịu không được phản kháng, không được tự định đoạt. Đó là một đạo lí rất vô lí trong xã hội cũ, nhằm trói buộc những người phụ nữ chân yếu tay mềm.
Câu thơ cuối
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Dù phải chịu bao bất công nhưng ở câu thơ vẫn ngời sáng lên nét đẹp của người phụ nữ, một nét đẹp tươi sáng thuần hậu của phụ nữ Việt Nam. Giọng thơ đầy quả quyết mang nét tự hào nói lên tấm lòng son sắt của bao thế hệ phụ nữ Việt, là tiếng chuông cảnh tỉnh những người đàn ông để họ đừng đánh mất đi những giá trị quý báu này.
Bài thơ “Bánh trôi nước” là một bài thơ đặc sắc của nhà thơ Hồ Xuân Hương. Bài thơ biểu hiện lòng thương cảm và niềm tự hào với số phận người phụ nữ đồng thời lên án xã hội cũ đầy bất công
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
Bánh trôi nước-một loại bánh dân dã, bình thường thấy quanh năm, được Hồ xuân Hương miêu tả một cách sinh động về màu sắc, hình dáng như là chiếc bánh đang tự nói về chính mình:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”
Qua đó, người phụ nữ Việt Nam có thể hóa thân vào những chiếc bánh dân dã đáng yêu ấy. Bà không dùng “khuôn mặt hình trái xoan”, hay “đôi mày hình lá liễu” để mô tả vẻ đẹp quý phái của phụ nữ , trái lại bà dùng hình tượng “tròn”, “trắng” để cho ta có thể liên tưởng đến một vẻ đẹp mạnh mẽ, xinh xắn .Bên cạnh đó, điệp từ “vừa” càng làm tăng thêm sự tự hào về vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ Việt Nam. Người phụ nữ Việt Nam mạnh khỏe, xinh xắn, đáng yêu là thế, còn cuộc đời của họ thì sao? Trong xã hội phong kiến xưa, số phận người phụ nữ cũng lênh đênh chìm nổi như chiếc bánh trôi nước trong nồi.
“Bảy nổi ba chìm với nước non”
Cuộc đời long đong, gian truân đầy sóng gió dường như đã dành sẵn cho người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến, nghe như một tiếng than thầm, cam chịu, nhưng cũng phảng phất vẻ cao ngạo của họ. Cũng nổi , cũng chìm, nhưng lại nổi chìm “với nước non” .
“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”
Lời thơ có vẻ trở nên cam chịu, người phụ nữ xưa vốn không có một vai trò gì trong xã hội. Họ không tự quyết định được số phận của mình, cuộc đời họ từ khi mới sinh ra cho đến lúc lìa đời là một cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc. Khi còn nhỏ thì phụ thuộc vào cha mẹ, khi lấy chồng thì phụ thuộc vào chồng, chồng mất thì phụ thuộc vào con cái. Họ không có cuộc sống của riêng họ, cuộc sống của họ chỉ để tô điểm thêm cho cuộc sống của người khác. Thế nhưng, thơ của Hồ xuân Hương lại phảng phất chút phớt lờ, bất cần. Thấp thoáng đâu đó trong thơ bà có chút phảng kháng, chống cự lại những quan điểm bất công thời ấy. Nếu như trong ca dao, người phụ nữ được ví: “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” chỉ để thể hiện thân phận lênh đênh , thì trong thơ của Hồ xuân Hương ngoài việc miêu tả số phận người phụ nữ còn khẳng định nhân cách, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ
“Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
Cuộc đời có bạc bẽo, bất công ,cuộc sống có gian khổ , long đong như thế nào chăng nữa, người phụ nữ vẫn giữ được sự son sắt, thủy chung cùng những phẩm chất tốt đẹp của mình. Đó là sự khẳng định của bà và đó cũng chính là phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam.
Với hình tượng cái bánh trôi nước, Hồ xuân Hương đã nói lên được vẻ đẹp, phẩm chất trong trắng, son sắt của người phụ nữ, đồng thời cũng đã đề cập đến một vấn đề xã hội rộng lớn đối với người phụ nữ – sự bình đẳng giới. Đây cũng chính là vấn đề mà xã hội tốt đẹp của chúng ta đang xây dựng. Cám ơn bà đã để lại cho đời một bài thơ thật đẹp.
Bài thơ Chiều đồng nội mở ra trước mắt em một khung cảnh mùa thu thật yên bình và thơ mộng ở cuối ngày trên đồng ruộng quê hương. Những câu thơ như “Những giọt thu trong vèo / Rắc ngang qua đồng nội” đã khiến em cảm nhận rõ ràng cái không khí mát mẻ, ánh nắng dịu dàng và hơi sương thu nhẹ nhàng phủ lên khắp cánh đồng.
Em rất thích cách tác giả dùng hình ảnh: “Cánh chim bay xuống chiều / Nâng nắng lên kẻo mỏi” — hình ảnh ấy khiến em liên tưởng đến những loài chim về tổ khi chiều về, và nắng như được chim nâng niu để không bị mệt. Cách diễn đạt tuy đơn giản nhưng lại rất tinh tế và gần gũi.
Tiếp đó, khung cảnh được miêu tả rõ hơn: “Buổi chiều thu mướt xanh / Cỏ thơm cùng hoa dại / Cánh cò trôi nhanh nhanh / Đàn trâu về chậm rãi”. Những câu thơ ấy làm cho em cảm nhận được sự yên ả mà vẫn tràn đầy sức sống của đồng quê. Cỏ và hoa dại có mùi thơm, cò bay nhẹ, trâu về chậm… tất cả như hòa quyện vào nhau để tạo thành một bản nhạc dịu dàng của thiên nhiên.
Bài thơ không chỉ có thiên nhiên mà còn có dấu ấn con người quê hương: “Bếp nhà ai tỏa khói / Gọi trăng thu xuống gần”. Hình ảnh ấy thật ấm áp, vừa quen vừa lạ — khói bếp hiện lên như lời chào chiều muộn, và trăng thu được gọi gần hơn, khiến em cảm nhận được sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên.
Khi đọc bài thơ, em nhớ lại những chiều cuối thu ở quê mình: ánh nắng vàng trải trên ruộng lúa, tiếng chim kêu vang trong không gian trong trẻo, và mùi hương thơm của lúa mới, của hoa dại… Đó là những kỉ niệm rất đẹp mà mỗi khi nhớ lại lòng em lại dịu lại. Qua đó, em hiểu hơn thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm: thiên nhiên là kho báu của chúng ta, mỗi khoảnh khắc đẹp đều quý giá, hãy để lòng mình lắng xuống và cảm nhận.
Em cảm thấy mình yêu hơn mảnh đất quê hương, yêu hơn những chiều yên bình và giản dị. Em muốn giữ những khoảnh khắc ấy trong tim và biết trân quý những điều tưởng chừng rất nhỏ — một làn gió thu, một tia nắng, một khóm hoa dại — vì chúng làm cho cuộc sống thêm ấm và đẹp.
Cảm nghĩ về bài thơ "Chiều đồng nội" của Nguyễn Lãm Thắng
Bài thơ Chiều đồng nội của tác giả Nguyễn Lãm Thắng là một bức tranh thiên nhiên mộc mạc, bình dị nhưng lại chứa đựng nhiều suy tư, cảm xúc sâu lắng về vẻ đẹp của quê hương và tâm hồn con người. Với ngôn từ giản dị nhưng tinh tế, tác giả đã vẽ nên một khung cảnh đồng quê chiều muộn, nơi mỗi chi tiết đều dường như gợi lên những suy tư về sự sống, cái đẹp và tình cảm gắn bó với đất đai.
Ngay từ những câu thơ đầu tiên, không khí của bài thơ đã được vẽ lên rõ nét qua hình ảnh "chiều muộn" và "con cò". Đây là những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca dân gian Việt Nam, nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Lãm Thắng, chúng lại mang một vẻ đẹp rất riêng, rất đỗi thân thuộc. Con cò lặng lẽ bay về chiều, giữa không gian bao la của đồng nội, như một biểu tượng của sự cần mẫn, tần tảo của người nông dân. Những cánh cò bay, lặng lẽ, như gợi nhắc đến sự âm thầm, kiên cường của con người trong công việc lao động, trong mối quan hệ với thiên nhiên.
Đặc biệt, bài thơ còn thể hiện một sự kết nối giữa thiên nhiên và con người. Cảnh vật không còn là những hình ảnh đơn thuần mà trở thành một phần trong tâm hồn người viết. Cảnh đồng nội, trời chiều không chỉ là vật thể để chiêm ngưỡng mà là nguồn cảm hứng, là nơi con người tìm thấy sự bình yên, tìm thấy sự hòa hợp với thiên nhiên. Chính những chi tiết nhỏ nhặt như "sương mù phảng phất", "ngọn gió thoảng", hay "ánh nắng vàng ươm" cũng tạo ra một không gian thiêng liêng, đầy cảm xúc, khiến cho người đọc dễ dàng cảm nhận được sự nhẹ nhàng, tĩnh lặng của buổi chiều.
Qua đó, bài thơ còn khơi gợi những suy tư về cuộc sống, về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Bức tranh đồng nội ấy không chỉ mang lại cảm giác thư thái, dễ chịu mà còn làm sống lại trong mỗi người một phần ký ức, tình cảm quê hương sâu sắc. Mỗi chi tiết trong bài thơ là một lời nhắc nhở về vẻ đẹp bình dị của cuộc sống và về sự gắn bó không thể tách rời của con người với đất đai, với quê hương.
Tóm lại, Chiều đồng nội là một bài thơ đẹp, sâu lắng, không chỉ phản ánh vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn khắc họa tình yêu quê hương, tình yêu đời sống lao động mộc mạc. Những hình ảnh, cảm xúc trong bài thơ giúp chúng ta thêm yêu và trân trọng những điều giản dị xung quanh mình, như yêu đất đai, yêu mảnh đất quê hương nơi ta sinh ra.
Bài thơ Chiều đồng nội của tác giả Nguyễn Lãm Thắng là một bức tranh thiên nhiên mộc mạc, bình dị nhưng lại chứa đựng nhiều suy tư, cảm xúc sâu lắng về vẻ đẹp của quê hương và tâm hồn con người. Với ngôn từ giản dị nhưng tinh tế, tác giả đã vẽ nên một khung cảnh đồng quê chiều muộn, nơi mỗi chi tiết đều dường như gợi lên những suy tư về sự sống, cái đẹp và tình cảm gắn bó với đất đai.
Ngay từ những câu thơ đầu tiên, không khí của bài thơ đã được vẽ lên rõ nét qua hình ảnh "chiều muộn" và "con cò". Đây là những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca dân gian Việt Nam, nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Lãm Thắng, chúng lại mang một vẻ đẹp rất riêng, rất đỗi thân thuộc. Con cò lặng lẽ bay về chiều, giữa không gian bao la của đồng nội, như một biểu tượng của sự cần mẫn, tần tảo của người nông dân. Những cánh cò bay, lặng lẽ, như gợi nhắc đến sự âm thầm, kiên cường của con người trong công việc lao động, trong mối quan hệ với thiên nhiên.
Đặc biệt, bài thơ còn thể hiện một sự kết nối giữa thiên nhiên và con người. Cảnh vật không còn là những hình ảnh đơn thuần mà trở thành một phần trong tâm hồn người viết. Cảnh đồng nội, trời chiều không chỉ là vật thể để chiêm ngưỡng mà là nguồn cảm hứng, là nơi con người tìm thấy sự bình yên, tìm thấy sự hòa hợp với thiên nhiên. Chính những chi tiết nhỏ nhặt như "sương mù phảng phất", "ngọn gió thoảng", hay "ánh nắng vàng ươm" cũng tạo ra một không gian thiêng liêng, đầy cảm xúc, khiến cho người đọc dễ dàng cảm nhận được sự nhẹ nhàng, tĩnh lặng của buổi chiều.
Qua đó, bài thơ còn khơi gợi những suy tư về cuộc sống, về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Bức tranh đồng nội ấy không chỉ mang lại cảm giác thư thái, dễ chịu mà còn làm sống lại trong mỗi người một phần ký ức, tình cảm quê hương sâu sắc. Mỗi chi tiết trong bài thơ là một lời nhắc nhở về vẻ đẹp bình dị của cuộc sống và về sự gắn bó không thể tách rời của con người với đất đai, với quê hương.
Tóm lại, Chiều đồng nội là một bài thơ đẹp, sâu lắng, không chỉ phản ánh vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn khắc họa tình yêu quê hương, tình yêu đời sống lao động mộc mạc. Những hình ảnh, cảm xúc trong bài thơ giúp chúng ta thêm yêu và trân trọng những điều giản dị xung quanh mình, như yêu đất đai, yêu mảnh đất quê hương nơi ta sinh ra.
400 chữ thì tèo
M
Bài thơ Chiều đồng nội của tác giả Nguyễn Lãm Thắng đã vẽ lên một bức tranh làng quê
"Thơ ca là viên kim cương lấp lánh dưới ánh mặt trời"(Sóng Hồng). Bài thơ" Chiều đồng nội" của tác giả Nguyễn Lãm Thắng chính là viên kim cương lấp lánh một màu sắc riêng biệt của cuộc đời. Bài thơ đã chạm tới trái tim người đọc bởi giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc.
Trước hết, bài thơ miêu tả cảnh chiều đồng nội rất chân thực, từ những giọt thu, chim bay, ánh nắng, cỏ thơm,....cho đến hương thơm từ bếp gọi trăng thu xuống gần. Tiếp đến, tác giả đã miêu tả các sự vật, sự việc rất xuất sắc. Nào là trong veo, nào là mướt xanh,...Cuối cùng, chiều đồng nội hiện lên rất gần gũi, thân quen với bao nhiêu vật, việc gắn bó với tuổi thơ của chúng ta.
Bài thơ không chỉ hay về nội dung mà còn ấn tượng về nghệ thuật. Tác giả đã sử dụng thể thơ năm chữ, cách ngắt nhịp, gieo vần linh hoạt. Âm hưởng, giọng điệu của bài thơ sâu lắng, ngôn ngữ ngắn gọn, hình ảnh thơ giàu biểu tượng. Đặc biệt, tác giả đã sử dụng rất thành công phép tu từ nhân hóa, so sánh.
Bài thơ đã để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Thông điệp của bài thơ trên là: Hãy yêu quê hương của mình, vì nó là nơi gần gũi nhất, là nơi ta sinh ra và lớn lên, nơi ta sẽ trở về khi gặp khó khăn trên đường đời vì ở đó luôn có những người thân quen luôn động viên, khích lệ ta cần cố gắng.
Mỗi khi mùa thu gõ cửa, thiên nhiên lại khoác lên mình vẻ đẹp dịu dàng và thơ mộng. Bài thơ Chiều đồng nội của tác giả Nguyễn Lãm Thắng đã vẽ nên một bức tranh quê hương thanh bình, qua đó gieo vào lòng người đọc những cảm xúc vô cùng xao xuyến và tha thiết.
Đọc Chiều đồng nội, ta như được bước chân vào một khoảng không gian tràn ngập hương sắc làng quê. Tác giả đã tinh tế thu vào tầm mắt những hình ảnh thiên nhiên rất đỗi mộc mạc: từng giọt thu trong trẻo rắc qua cánh đồng, cánh chim chiều bay lượn êm ả, hay thảm cỏ mướt xanh điểm xuyết bông hoa dại. Bức tranh ấy còn trở nên sinh động hơn nhờ hình ảnh đàn trâu thung thăng bước về, những sóng lúa nhấp nhô vàng rực và mùi hương lúa chín thơm ngát quấn quýt không gian. Đặc biệt, hình ảnh làn khói bếp chiều tỏa ra gợi nhớ đến sự ấm áp của gia đình, làm cho khoảng cách giữa con người với bầu trời thu như ngưng đọng lại. Tất cả gợi lên một khung cảnh vô cùng yên bình, thân thương, đánh thức trong lòng người đọc nỗi nhớ quê hương da diết.
Không chỉ hấp dẫn bởi nội dung, bài thơ còn chạm đến trái tim người đọc nhờ những nét nghệ thuật độc đáo. Với thể thơ 5 chữ ngắn gọn, nhịp điệu mộc mạc, bài thơ như một lời tâm tình nhẹ nhàng. Tác giả đã sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ như so sánh "mùa thu như tay mềm", hay nhân hóa hình ảnh mùa thu "chạm lên từng thảm lúa", khói bếp "gọi trăng thu xuống gần". Bên cạnh đó, các từ láy giàu hình ảnh như trong veo, mướt xanh, nhấp nhô, thung thăng đã làm cho cảnh vật thêm phần sống động, giàu sức gợi.
Bài thơ Chiều đồng nội không chỉ là một bức tranh thu tuyệt đẹp mà còn là bài ca sâu lắng về tình yêu quê hương đất nước. Qua tác phẩm, em càng thêm trân trọng những vẻ đẹp bình dị quanh mình và biết nâng niu những khoảnh khắc yên bình của quê hương.
Bài thơ Chiều đông nội của Nguyễn Lâm Thắng đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc về vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên và làng quê Việt Nam. Bằng những hình ảnh gần gũi, ngôn ngữ giản dị và giọng thơ nhẹ nhàng, tác giả đã vẽ nên một bức tranh chiều đông yên bình, thơ mộng, qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên và quê hương tha thiết.Trước hết, bài thơ gây ấn tượng với em bởi những hình ảnh thiên nhiên trong trẻo, giàu sức gợi. Hình ảnh “Những giọt thu trong veo” gợi lên vẻ đẹp tinh khôi, nhẹ nhàng của cảnh vật. Cùng với đó, ánh nắng, cánh chim và những nét đặc trưng của đồng quê đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa tươi đẹp vừa gần gũi. Qua cách miêu tả tinh tế, em cảm nhận được sự quan sát nhạy bén và tình yêu thiên nhiên của nhà thơ.Không chỉ có vẻ đẹp của cảnh vật, bài thơ còn gợi lên không khí ấm áp, thân thương của cuộc sống làng quê. Hình ảnh “Bếp nhà ai tỏa khói” khiến em liên tưởng đến những mái nhà bình dị, những bữa cơm gia đình và sự sum vầy sau một ngày lao động. Làn khói bếp giữa khung cảnh chiều đông gợi cảm giác bình yên, gần gũi và thân thuộc. Những hình ảnh ấy giúp em thêm yêu quý cuộc sống giản dị nơi thôn quê, nơi lưu giữ biết bao kỉ niệm đẹp đẽ của mỗi người.Bên cạnh nội dung giàu ý nghĩa, bài thơ còn hấp dẫn bởi ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh giàu sức gợi và cách diễn đạt tự nhiên. Những yếu tố nghệ thuật ấy góp phần làm cho bức tranh chiều đông hiện lên sinh động, có hồn và giàu cảm xúc. Qua đó, tác giả gửi gắm tình yêu quê hương, sự gắn bó với thiên nhiên và niềm trân trọng đối với những điều bình dị trong cuộc sống.Đọc bài thơ, em nhận ra rằng vẻ đẹp quê hương không nằm ở những điều lớn lao mà còn hiện hữu trong từng cảnh vật quen thuộc quanh mình. Vì vậy, mỗi người cần biết yêu quý, giữ gìn thiên nhiên và trân trọng những giá trị bình dị của quê hương.Tóm lại, Chiều đông nội là một bài thơ giàu cảm xúc, giúp em cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống làng quê. Tác phẩm đã khơi dậy trong em tình yêu quê hương, đất nước và nhắc nhở em biết trân trọng những điều thân thương trong cuộc sống.
Thiên nhiên quê hương luôn mang trong mình vẻ đẹp bình dị, thân thương, khiến lòng người trở nên nhẹ nhàng và bình yên. Đến với bài thơ Chiều đồng nội của Nguyễn Lãm Thắng, em như được bước vào một bức tranh làng quê thanh bình, thơ mộng trong buổi chiều thu. Bài thơ không chỉ đem đến những hình ảnh đẹp đẽ mà còn khơi gợi trong em tình yêu tha thiết đối với quê hương.
Trước hết, em vô cùng ấn tượng với những hình ảnh thiên nhiên trong trẻo, gần gũi được tác giả khắc họa bằng ngôn từ giản dị. Đó là “những giọt thu trong veo”, là cánh chim bay xuống, cánh cò chao liệng và đàn trâu thong thả trở về. Tất cả hòa quyện tạo nên khung cảnh đồng quê yên ả, đậm đà hơi thở cuộc sống. Đặc biệt, hình ảnh nhấp nhô đều sóng lúa khiến em liên tưởng đến những thảm lúa xanh mướt đang nhẹ nhàng chuyển động trong gió. Em thích nhất câu thơ Mùa thu như tay mềm bởi cách so sánh độc đáo, gợi cảm giác dịu dàng, êm ái của mùa thu đang khẽ chạm vào từng thảm lúa. Qua đó, em cảm nhận được tâm hồn tinh tế và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của nhà thơ.
Không chỉ có cảnh sắc đồng quê, bài thơ còn gợi lên hơi ấm của cuộc sống gia đình qua hình ảnh Bếp nhà ai tỏa khói. Làn khói chiều thân thuộc khiến em nhớ đến mái nhà nhỏ, bữa cơm sum họp và những người thân yêu. Hình ảnh Gọi trăng thu xuống gần ở cuối bài thơ càng làm cho bức tranh quê hương thêm thơ mộng, ấm áp. Với thể thơ năm chữ, nhịp điệu nhẹ nhàng cùng những hình ảnh giàu sức gợi, tác giả đã đưa người đọc hòa mình vào vẻ đẹp thanh bình của đồng nội.
Khép lại bài thơ Chiều đồng nội, em vẫn cảm nhận được sự dịu dàng, êm đềm của một buổi chiều thu nơi làng quê. Tác phẩm giúp em thêm yêu thiên nhiên, trân trọng những điều bình dị và tự hào về vẻ đẹp quê hương. Em hiểu rằng đôi khi, hạnh phúc không nằm ở những điều lớn lao mà hiện diện ngay trong cảnh vật thân quen quanh mình.
Bài thơ Chiều đông nội của Nguyễn Lâm Thắng đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc về vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên và làng quê Việt Nam. Với những hình ảnh gần gũi, ngôn ngữ giản dị, bài thơ đã vẽ nên một bức tranh đồng quê yên bình, thơ mộng và đầy sức sống.
Trước hết, em rất ấn tượng với những hình ảnh thiên nhiên thân thuộc trong bài thơ. Đó là những giọt thu trong veo, cánh chim bay qua đồng nội, những thảm cỏ mướt xanh và đàn trâu thong thả trở về. Tất cả tạo nên một khung cảnh làng quê thanh bình, gần gũi. Đặc biệt, hình ảnh những sóng lúa nhấp nhô cùng hương thơm của lúa chín khiến em cảm nhận được vẻ đẹp trù phú của đồng quê Việt Nam. Hình ảnh làn khói bếp tỏa ra trong buổi chiều càng làm cho bức tranh thêm ấm áp, thân thương. Những hình ảnh ấy gợi cho em nhớ đến quê hương với những cánh đồng xanh, những mái nhà giản dị và cuộc sống bình yên. Qua đó, em càng thêm yêu quý và trân trọng vẻ đẹp của quê hương mình.
Không chỉ hấp dẫn về nội dung, bài thơ còn đặc sắc ở nghệ thuật. Thể thơ năm chữ tạo nên nhịp điệu nhẹ nhàng, gần gũi. Tác giả sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, giúp cảnh vật trở nên sinh động và có hồn. Bên cạnh đó, những từ láy như “trong veo”, “mướt xanh”, “nhanh nhanh”, “chậm rãi”, “nhấp nhô” góp phần gợi hình, gợi cảm, làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên. Ngôn ngữ thơ giản dị nhưng giàu sức biểu cảm đã giúp tác giả truyền tải tình yêu quê hương một cách tự nhiên, sâu sắc.
Đọc bài thơ, em cảm thấy tâm hồn mình trở nên nhẹ nhàng và bình yên hơn. Tác phẩm giúp em nhận ra rằng vẻ đẹp quê hương luôn hiện diện trong những điều giản dị quanh ta. Vì vậy, mỗi người cần biết yêu thương quê hương, trân trọng thiên nhiên và có ý thức bảo vệ môi trường sống.
Tóm lại, Chiều đông nội là một bài thơ giàu cảm xúc, giúp em thêm yêu vẻ đẹp bình dị của làng quê Việt Nam và biết trân trọng những điều thân thuộc trong cuộc sống.
Mỗi lần đọc bài thơ "Chiều đồng nội" của tác giả Nguyễn Lâm Thắng, lòng tôi lại tràn ngập những cảm xúc bình yên và tha thiết. Bài thơ đã khắc họa nên một bức tranh quê hương thanh bình, đong đầy kỉ niệm và đậm đà dư vị mùa thu.
Bức tranh thiên nhiên trong tác phẩm hiện lên vừa gần gũi, vừa mộc mạc qua những hình ảnh quen thuộc của làng quê. Đó là giọt thu trong trẻo nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng, là cánh chim chiều êm ả trôi giữa không gian, hay thảm cỏ xanh mướt điểm xuyết sắc hoa dại. Hình ảnh đàn trâu thung thăng bước về, cánh cò trắng nhè nhẹ bay cùng làn khói bếp chiều tỏa ra gọi trăng thu xuống gần khiến khung cảnh vừa nên thơ, vừa ấm áp tình người. Ngửi thấy hương lúa chín ngát thơm trong gió chiều, tôi cảm nhận được sự trù phú và bình yên diệu kỳ của quê hương.
Thành công của bài thơ còn đến từ nghệ thuật đặc sắc. Tác giả đã sử dụng thể thơ 5 chữ ngắn gọn, nhịp điệu nhẹ nhàng như tiếng thủ thủ tâm tình. Các biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa được kết hợp khéo léo—khiến mùa thu như có tâm hồn, biết chạm vào từng thảm lúa và biết gọi trăng về. Việc kết hợp nhiều từ láy giàu hình ảnh như mướt xanh, trong veo, nhấp nhô, chậm rãi đã làm cho bức tranh thiên nhiên thêm phần sinh động, cuốn hút.
Khép lại bài thơ, hình ảnh chiều đồng nội vẫn đọng lại nguyên vẹn trong tâm trí tôi. Tác phẩm không chỉ mang giá trị nghệ thuật sâu sắc mà còn khơi dậy trong mỗi người bài học về tình yêu quê hương, đất nước và biết trân trọng những điều bình dị xung quanh mình.
Nếu ai đó hỏi tôi về một khoảng không gian bình yên nhất trong tâm hồn, tôi sẽ không ngần ngại mà nghĩ ngay đến chốn làng quê yên ả. Và có lẽ, không có tác phẩm nào chạm đến niềm rung động thiêng liêng ấy một cách ngọt ngào như bài thơ "Chiều đồng nội" của nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng. Tác phẩm đã vẽ nên một bức tranh thu nơi làng quê vô cùng thuần khiết, dịu dàng, để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu đậm cùng nỗi nhớ thương da diết về quê hương xứ sở.
Đọc bài thơ, người đọc như được bước vào một thế giới của sự tĩnh lặng và thơ mộng, nơi có bức tranh thiên nhiên đồng nội vô cùng gần gũi và bình dị. Cảnh sắc mùa thu hiện lên qua những chất liệu vô cùng quen thuộc. Đó là cái nhìn tinh tế của tác giả khi bắt trọn những giọt thu trong veo đang nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng, là hình ảnh những cánh chim bay chao nghiêng trong buổi chiều thu êm ả để nâng niu chút nắng muộn. Không gian ấy như bừng sáng bởi sắc cỏ mướt xanh hòa quyện với vẻ đẹp mộc mạc của muôn vàn đóa hoa dại. Giữa nền thiên nhiên ấy, sự sống của con người và vạn vật hiện lên thật sống động, thung thăng. Khán giả bắt gặp hình ảnh những cánh cò trắng muốt chầm chậm trôi giữa tầng không, từng đàn trâu ung dung, thong thả nối đuôi nhau trở về sau ngày dài ra đồng. Từ đằng xa, những sóng lúa vàng nhấp nhô, đều tăm tắp đang tỏa ra hương thơm ngào ngạt của mùi lúa chín vào mỗi buổi chiều tà. Đặc biệt, hình ảnh làn khói bếp vương vít tỏa ra từ mái nhà tranh như một nét vẽ ấm áp, làm bừng sáng cả không gian, khơi gợi tình yêu thương gia đình và chốn thôn quê yên bình. Bức tranh ấy mang đậm hơi thở đặc trưng của mùa thu, gợi lên trong lòng em cảm giác vô cùng thân thương, ấm áp và một sự bình yên tuyệt đối.
Thành công làm nên sức hấp dẫn của bức tranh mùa thu này không chỉ nằm ở cảnh vật mà còn ở những đặc sắc nghệ thuật độc đáo. Tác giả đã vô cùng khéo léo khi lựa chọn thể thơ 5 chữ mộc mạc, gần gũi, kết hợp với nhịp điệu uyển chuyển như một khúc tâm tình. Các biện pháp tu từ được đan cài một cách linh hoạt đầy nghệ thuật. Phép so sánh độc đáo và nhân hóa tinh tế khi khắc họa mùa thu có bàn tay mềm mại chạm lên từng thảm lúa đã khiến cho thiên nhiên trở nên có linh hồn, có sự sống. Đặc biệt, hình ảnh nhân hóa "Bếp nhà ai tỏa khói/ Gọi trăng thu xuống gần" gợi ra một sự giao hòa tuyệt đối giữa mặt đất và bầu trời, giữa con người và vũ trụ bao la. Bên cạnh đó, việc sử dụng hàng loạt từ láy giàu tính gợi hình, gợi cảm như trong veo, mướt xanh, chầm chậm, nhấp nhô đã làm cho bức tranh đồng quê không chỉ có màu sắc, đường nét mà còn tràn ngập thanh âm và xúc cảm.
Tóm lại, bài thơ "Chiều đồng nội" là một nốt nhạc dịu nhẹ nhưng có sức lan tỏa mãnh liệt, khẳng định tài năng và tấm lòng tha thiết với quê hương của Nguyễn Lãm Thắng. Tác phẩm không chỉ mang lại cho độc giả những rung động thẩm mỹ sâu sắc về cái đẹp của làng quê Việt Nam mà còn đánh thức trong lòng mỗi chúng ta tình yêu, niềm trân trọng đối với những điều bình dị bao quanh. Qua bài thơ, em tự rút ra cho mình bài học quý giá về lòng biết ơn cuộc sống, biết yêu thương và gìn giữ vẻ đẹp của quê hương đất nước từ những điều nhỏ nhặt nhất.
Bài thơ Chiều đồng nội của nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng là một tác phẩm nhẹ nhàng nhưng lắng đọng, vẽ nên bức tranh thiên nhiên làng quê thanh bình và đong đầy tình yêu quê hương đất nước. Đọc tác phẩm, người đọc như được hòa mình vào không gian bình dị, mộc mạc nơi đồng quê mỗi độ chiều về.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ hiện lên thật gần gũi với những hình ảnh vô cùng quen thuộc của đồng nội mùa thu. Đó là những giọt thu trong trẻo nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng, những cánh chim bay trong chiều thu êm ả, cùng thảm cỏ mướt xanh điểm xuyết bông hoa dại. Xa xa, cánh cò trắng chầm chậm trôi, đàn trâu thung thăng đi về, sóng lúa nhấp nhô đều tăm tắp tỏa hương thơm ngát, cùng làn khói bếp tỏa ra như gọi trăng thu xuống gần. Tất cả tạo nên một cảnh sắc đồng quê ngập tràn sức sống, vừa thơ mộng vừa tĩnh lặng, gợi cho em cảm giác vô cùng thân thương, êm đềm và dâng trào nỗi nhớ quê hương tha thiết.
Để làm nên sự thành công của bức tranh ấy, tác giả đã sử dụng thể thơ 5 chữ mộc mạc, nhịp điệu nhẹ nhàng và linh hoạt. Nhờ các biện pháp tu từ như so sánh mùa thu mềm mại như bàn tay, hay nhân hóa mùa thu chạm lên từng thảm lúa và khói bếp "gọi trăng thu xuống gần", cảnh vật như có tâm hồn và trở nên sinh động hơn bao giờ hết. Bên cạnh đó, việc sử dụng tài tình dàn từ lấy giàu tính gợi hình, gợi cảm như trong veo, mướt xanh, chậm rãi, nhấp nhô đã diễn tả trọn vẹn vẻ đẹp thanh bình của không gian đồng quê.
Tóm lại, bài thơ Chiều đồng nội không chỉ đọng lại trong lòng người đọc những nét vẽ thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn khơi gợi tình yêu quê hương sâu sắc. Qua tác phẩm, em thêm trân trọng, gắn bó với vẻ đẹp giản dị của quê hương và nhắc nhở bản thân biết yêu thương, giữ gìn những giá trị bình dị quanh mình.
Mỗi khi đọc các tác phẩm viết về quê hương, tôi luôn bị thu hút bởi những vần thơ sâu lắng. Trong số đó, đã để lại cho tôi ấn tượng sâu đậm nhất. Tác phẩm đã mở ra trước mắt tôi một bức tranh thiên nhiên làng quê vào một buổi chiều thu vô cùng bình dị, trong trẻo, đồng thời đánh thức trong lòng tôi những rung động thiêng liêng về mảnh đất quê hương thân thương.
Trước hết, tôi vô cùng say đắm bức tranh đồng quê thanh bình được vẽ nên bằng những hình ảnh đặc trưng vô cùng quen thuộc của mùa thu. Nhà thơ đã khéo léo gom nhặt "những giọt thu trong trẻo nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng" kết hợp cùng "cánh chim bay trong những buổi chiều thu êm ả" tạo nên nét vẽ đầy mềm mại. Bên cạnh đó, tôi như được đắm mình vào sắc màu tràn đầy sức sống của "thảm cỏ mướt xanh điểm xuyến những bông hoa dại" mộc mạc. Nhịp sống chậm rãi, thong thả nơi thôn dã hiện lên thật sinh động qua hình ảnh "những cánh cò trắng chầm chậm trôi" hòa cùng bước chân của "đàn trâu thung thăng đi về trên cánh đồng xanh". Đặc biệt, khung cảnh ấy không chỉ giàu hình ảnh mà còn đượm hương vị với "những sóng lúa nhấp nhô êm ả" tỏa ra "hương thơm ngát mùi lúa chín vào mỗi buổi chiều". Tất cả khép lại bằng hình ảnh ấm áp khi "làn khói bếp tỏa ra như gọi trăng thu xuống gần". Những hình ảnh thân thương này đã chạm đến góc khuất sâu thẳm trong tâm hồn tôi, gợi nhắc về một quê hương yên bình nuôi dưỡng tuổi thơ.
Tiếp nối mạch cảm xúc ấy, nét đặc sắc nghệ thuật chính là yếu tố quan trọng làm nên thành công vang dội của tác phẩm. Với thể thơ 5 chữ gần gũi, mộc mạc, bài thơ mang nhịp điệu êm ái như lời hát ru của đồng nội. Hơn thế nữa, tác giả đã sử dụng linh hoạt phép so sánh độc đáo "mùa thu như tay mềm" cùng phép nhân hóa qua hình ảnh mùa thu "chạm lên từng thảm lúa" hay khói bếp "gọi trăng thu xuống gần", giúp thiên nhiên trở nên có linh hồn và tràn đầy tình cảm. Đồng thời, việc sử dụng các từ láy giàu tính gợi hình như "trong veo", "mướt xanh", "chậm rãi", "nhấp nhô" càng làm tăng thêm tính nhạc và chất họa cho từng vần thơ.
Tóm lại, bài thơ "Chiều đồng nội" là một khúc ca nhẹ nhàng nhưng có sức lay động mạnh mẽ đến tâm thức mỗi người. Tác phẩm không chỉ khẳng định giá trị bền vững của thơ ca viết về nông thôn mà còn khơi dậy trong tôi tình yêu, sự trân trọng đối với những vẻ đẹp bình dị quanh mình. Qua bài thơ, tôi tự rút ra bài học sâu sắc cho bản thân là cần biết nâng niu, gìn giữ và biết ơn những cảnh sắc quê hương đã nuôi dưỡng tâm hồn ta lớn khôn.
Chiều đồng nội là một bài thơ rất đẹp của nhà thơ Nguyễn Lâm Thắng. Bài thơ vẽ nên bức tranh thiên nhiên đồng quê Việt Nam vào buổi chiều mùa thu thật gần gũi, bình dị nhưng vô cùng thơ mộng và ấm áp. Đọc bài thơ, em cảm thấy như đang được bước chân vào chính khung cảnh yên bình ấy, được hít thở không khí trong lành của làng quê.
Bài thơ đã gợi lên biết bao hình ảnh thiên nhiên thân thương. Đó là những giọt thu trong trẻo rơi nhẹ nhàng trên cánh đồng, những cánh chim bay về tổ trong buổi chiều êm ả, những thảm lúa xanh mướt điểm xuyết những bông hoa dại. Đó còn là những đám trăng chầm chậm trôi trên bầu trời, những đám lửa bếp nhà nhẹ nhàng bốc khói như đang gọi mời trăng xuống chơi gần gũi hơn. Tất cả những hình ảnh ấy đều thật bình dị, thân thuộc đến lạ thường.
Những hình ảnh này gợi lên trong em cảm giác bình yên, dịu ngọt và yêu thương quê hương. Em thấy lòng mình nhẹ nhàng như được trở về với những gì gần gũi nhất, đơn giản nhất trong cuộc sống. Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ không chỉ đẹp mà còn tràn đầy tình yêu thương, ấm áp của cuộc sống làng quê. Thiên nhiên ở đây không hề xa lạ mà như người bạn thân thiết, luôn ở bên cạnh con người.
Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể năm chữ, ngắn gọn, mạch lạc mà giàu sức gợi. Các biện pháp tu từ được sử dụng rất linh hoạt và hiệu quả. Hình ảnh so sánh “mùa thu như tay mềm” thật dịu nhẹ, dễ thương; nhân hóa thì làm cho thiên nhiên trở nên sống động và gần gũi biết bao: “hình ảnh mùa thu chạm lên từng thảm lúa”, “Bếp ải nhà ai tỏa khói / Gọi trăng thu xuống gần”. Bên cạnh đó, nhà thơ dùng nhiều từ láy gợi cảm như trong veo, mướt xanh, nhanh nhanh, chậm rãi, nhấp nhô… càng làm cho khung cảnh trở nên sống động, mềm mại và gợi cảm hơn bao giờ hết.
Tóm lại, bài thơ “Chiều đồng nội” không chỉ cho em thấy vẻ đẹp bình dị mà còn giúp em cảm nhận sâu sắc hơn tình yêu quê hương. Bài học quý giá em rút ra được từ đây là: vẻ đẹp thật nhất của cuộc sống thường nằm ở những điều giản dị nhất xung quanh chúng ta. Chúng ta cần biết yêu thương và trân trọng những gì thiên nhiên đã ban tặng cho quê hương mình.
Bài thơ "Chiều đồng nội" của tác giả Nguyễn Lãm Thắng là một tác phẩm vô cùng đặc sắc, để lại trong lòng người đọc những ấn tượng vô cùng sâu sắc về cảnh sắc làng quê thanh bình. Tác giả đã khắc họa nên một bức tranh thiên nhiên làng quê muôn màu muôn vẻ, bình dị nhưng tràn đầy sức sống vào những buổi chiều thu. Ngắm nhìn không gian ấy, người đọc như được hòa mình vào không khí yên ả, mát lành của đồng ruộng bao la. Bức tranh ấy được gợi lên qua những hình ảnh rất đỗi quen thuộc như giọt thu trong veo rắc nhẹ qua cánh đồng, cánh chim chiều chao ngợp hay thảm cỏ mướt xanh điểm xuyết hoa dại. Từng cánh cò trắng chậm rãi bay, đàn trâu thung thăng bước về trên đồng cỏ xanh cùng những sóng lúa nhấp nhô, thơm ngát hương chín đã vẽ nên một không gian đồng quê thật thân thương, ấm áp. Tất cả những hình ảnh bình dị đó gợi lại trong lòng người đọc bao nỗi nhớ tha thiết về quê hương Việt Nam. Sự thành công của tác phẩm không thể không nhắc đến nghệ thuật thể hiện tài tình của nhà thơ. Tác giả đã sử dụng vô cùng thành công thể thơ năm chữ mộc mạc, gần gũi, giúp nhịp điệu bài thơ trở nên nhẹ nhàng như một lời thủ tỉ tâm tình. Bằng việc vận dụng linh hoạt các biện pháp tu từ như so sánh "mùa thu như tay mềm" hay nhân hóa hình ảnh mùa thu chạm lên thảm lúa, khói bếp tỏa ra như "gợi trăng thu xuống gần", Nguyễn Lãm Thắng đã biến cảnh vật vô giác trở nên có hồn và sinh động hơn bao giờ hết. Sự kết hợp khéo léo của các từ láy giàu tính gợi hình, gợi cảm như "trong veo", "mướt xanh", "nhanh nhanh", "chậm rãi", "nhấp nhô" đã khắc họa rõ nét từng chuyển động nhỏ nhất của không gian chiều thu. Bài thơ không chỉ đơn thuần tả cảnh mà còn đong đầy cảm xúc, khẳng định tình yêu thiên nhiên và quê hương sâu sắc của tác giả. Tác phẩm đã để lại cho mỗi chúng ta bài học quý giá về lòng biết ơn, sự trân trọng đối với những vẻ đẹp bình dị, gần gũi của quê hương đất nước.
Quê hương luôn là nguồn cảm hứng dạt dào trong thi ca, và bài thơ "Chiều đồng nội" của nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng thực sự là một tác phẩm để lại nhiều dư ba đẹp đẽ. Đọc bài thơ, em như được đắm mình vào khung cảnh làng quê thanh bình, yên ả, từ đó dâng lên những xúc cảm thật ngọt ngào, sâu lắng.Mở ra trước mắt người đọc là một bức tranh thiên nhiên đồng nội gần gũi, bình dị nhưng vô cùng nên thơ vào buổi chiều thu. Trước hết, đó là những giọt thu trong trẻo nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng, cánh chim chao lượn, thảm cỏ mướt xanh điểm xuyết hoa dại. Bên cạnh đó, bức tranh ấy còn được điểm tô bởi hình ảnh cánh cò trắng chầm chậm trôi, đàn trâu thung thăng đi về, hay những sóng lúa nhấp nhô đều tăm tắp hòa quyện cùng hương thơm ngát của lúa chín. Đặc biệt hơn, khung cảnh ấy bỗng trở nên ấm áp và có hồn lạ thường với những làn khói bếp toả ra như gọi trăng thu xuống gần. Chính nhờ những hình ảnh thân thương ấy, bài thơ đã đánh thức trong em nỗi nhớ da diết về sự yên bình của làng quê, khiến tâm hồn trở nên nhẹ nhàng, thư thái sau những giờ học căng thẳng. Không những thế, sức hấp dẫn của bài thơ còn được kết tinh từ những nét nghệ thuật đặc sắc. Tác giả đã sử dụng rất thành công thể thơ 5 chữ gần gũi, mộc mạc. Hơn thế nữa, nhà thơ còn linh hoạt vận dụng các biện pháp tu từ như so sánh ("mùa thu như tay mềm") và nhân hóa ("Bếp nhà ai toả khói/ Gọi trăng thu xuống gần"). Đồng thời, việc sử dụng hệ thống từ láy giàu sức gợi hình, gợi cảm như "trong veo", "mướt xanh", "nhấp nhô" đã góp phần thổi hồn vào từng câu chữ, làm cho bức tranh thiên nhiên thêm phần sinh động. Khép lại bài thơ, "Chiều đồng nội" không chỉ đọng lại trong em những giá trị nghệ thuật độc đáo mà còn khơi gợi tình yêu sâu sắc dành cho thiên nhiên, quê hương đất nước. Qua đó, em tự nhắc nhở bản thân phải luôn biết trân trọng, gìn giữ những vẻ đẹp bình dị của cội nguồn và nuôi dưỡng tâm hồn thêm phong phú.
Quê hương luôn là nguồn cảm hứng dạt dào trong thi ca, và bài thơ "Chiều đồng nội" của nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng thực sự là một tác phẩm để lại nhiều dư ba đẹp đẽ. Đọc bài thơ, em như được đắm mình vào khung cảnh làng quê thanh bình, yên ả, từ đó dâng lên những xúc cảm thật ngọt ngào, sâu lắng.Mở ra trước mắt người đọc là một bức tranh thiên nhiên đồng nội gần gũi, bình dị nhưng vô cùng nên thơ vào buổi chiều thu. Trước hết, đó là những giọt thu trong trẻo nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng, cánh chim chao lượn, thảm cỏ mướt xanh điểm xuyết hoa dại. Bên cạnh đó, bức tranh ấy còn được điểm tô bởi hình ảnh cánh cò trắng chầm chậm trôi, đàn trâu thung thăng đi về, hay những sóng lúa nhấp nhô đều tăm tắp hòa quyện cùng hương thơm ngát của lúa chín. Đặc biệt hơn, khung cảnh ấy bỗng trở nên ấm áp và có hồn lạ thường với những làn khói bếp toả ra như gọi trăng thu xuống gần. Chính nhờ những hình ảnh thân thương ấy, bài thơ đã đánh thức trong em nỗi nhớ da diết về sự yên bình của làng quê, khiến tâm hồn trở nên nhẹ nhàng, thư thái sau những giờ học căng thẳng. Không những thế, sức hấp dẫn của bài thơ còn được kết tinh từ những nét nghệ thuật đặc sắc. Tác giả đã sử dụng rất thành công thể thơ 5 chữ gần gũi, mộc mạc. Hơn thế nữa, nhà thơ còn linh hoạt vận dụng các biện pháp tu từ như so sánh ("mùa thu như tay mềm") và nhân hóa ("Bếp nhà ai toả khói/ Gọi trăng thu xuống gần"). Đồng thời, việc sử dụng hệ thống từ láy giàu sức gợi hình, gợi cảm như "trong veo", "mướt xanh", "nhấp nhô" đã góp phần thổi hồn vào từng câu chữ, làm cho bức tranh thiên nhiên thêm phần sinh động. Khép lại bài thơ, "Chiều đồng nội" không chỉ đọng lại trong em những giá trị nghệ thuật độc đáo mà còn khơi gợi tình yêu sâu sắc dành cho thiên nhiên, quê hương đất nước. Qua đó, em tự nhắc nhở bản thân phải luôn biết trân trọng, gìn giữ những vẻ đẹp bình dị của cội nguồn và nuôi dưỡng tâm hồn thêm phong phú.
Có những bài thơ đọc một lần là nhớ mãi vì nó gợi lại cả một miền ký ức. Với em, Chiều đồng nội của nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng là một bài thơ như vậy. Bài thơ không dài, lời lẽ cũng không cầu kỳ, nhưng lại làm sống dậy cả một buổi chiều quê yên bình trong tâm trí người đọc.
Ngay từ những câu đầu tiên, tác giả đã đưa em vào một không gian thu trong veo và tinh khôi. Những giọt thu trong veo rắc ngang qua đồng nội. Từ rắc được dùng rất hay, như thể mùa thu là một cơn mưa ánh sáng nhẹ nhàng rơi xuống. Rồi cánh chim bay xuống chiều nâng nắng lên kẻo mỏi. Một hành động rất nhỏ nhưng đầy yêu thương. Nắng chiều vốn mong manh, dường như sắp tắt, vậy mà được cánh chim nâng niu, giữ lại. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Lãm Thắng vì thế mà có hồn, biết quan tâm và vỗ về nhau.
Càng đọc, bức tranh đồng nội càng hiện lên rõ nét và ấm áp hơn. Đó là màu xanh mướt của cỏ, là hương thơm của hoa dại ven đường, là cánh cò trắng trôi lững lờ và đàn trâu đủng đỉnh trở về sau một ngày gặm cỏ. Nhịp thơ lúc nhanh lúc chậm, lúc trôi nhanh của cánh cò, lúc chậm rãi của đàn trâu đã tái hiện đúng nhịp sống của làng quê, không vội vã, không ồn ào.
Hai câu thơ mà em yêu thích nhất chính là Mùa thu như tay mềm chạm lên từng thảm lụa. Nhà thơ đã dùng phép so sánh thật tinh tế. Mùa thu được ví như bàn tay mềm mại của người mẹ, còn cánh đồng lúa chín vàng óng được ví như tấm thảm lụa. Chỉ một cái chạm nhẹ thôi mà cả cánh đồng như mềm mại và sáng bừng lên. Em cảm nhận được sự trân trọng và nâng niu của tác giả dành cho đất đai quê hương.
Kết thúc bài thơ là một nốt trầm ấm áp. Bếp nhà ai toả khói gọi trăng thu xuống gần. Giữa không gian rộng lớn của đồng nội, hình ảnh bếp lửa hiện lên thật thân thương. Nó là dấu hiệu của sự sum họp, của bữa cơm gia đình. Chính làn khói bếp mộc mạc ấy lại có thể kéo mặt trăng trên cao xuống gần hơn, khiến trời đất và con người như hòa làm một.
Chiều đồng nội đã cho em hiểu rằng vẻ đẹp của quê hương không nằm ở những điều lớn lao. Vẻ đẹp ấy nằm ở giọt nắng, ở mùi cỏ, ở làn khói bếp và ở tình người ấm áp. Bài thơ như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng để mỗi chúng ta biết yêu và giữ gìn những giá trị bình dị quanh mình.
Nếu họa sĩ dùng màu sắc để vẽ tranh thì nhà thơ lại mượn ngôn từ để dệt nên nhạc điệu. Đến với bài thơ Chiều đồng nội của Nguyễn Lãm Thắng, ta không chỉ được ngắm nhìn một bức tranh thiên nhiên mùa thu tuyệt đẹp mà còn được lắng nghe những nhịp đập thổn thức của một tâm hồn yêu quê hương tha thiết. Bằng lối viết giàu chất họa và đậm chất suy tư, tác giả đã biến một buổi chiều quê bình dị trở thành một cõi mơ yên ả, khơi dậy trong lòng người đọc bao nỗi hoài niệm thân thương.
Mở đầu trang thơ, người đọc lập tức bị cuốn vào một không gian nghệ thuật tinh khôi, nơi vạn vật đang chuyển mình dịu dàng vào thu. Từ góc nhìn cận cảnh, không gian đồng nội hiện lên đầy sức sống với hình ảnh những giọt thu trong veo nhẹ nhàng tưới mát khắp nẻo đường quê.
Không dừng lại ở đó, bức tranh chiều thu tiếp tục được mở rộng cả về chiều cao lẫn chiều sâu qua những câu thơ đầy gợi hình. Trên nền trời, hình ảnh những cánh chim bay trong những buổi chiều thu êm ả hiện lên thật thanh bình. Trong khi đó, ngay dưới mặt đất, những thảm cỏ mướt xanh lại được điểm xuyết bởi những bông hoa dại mộc mạc.
Sự hòa quyện tuyệt vời này càng trở nên sinh động nhờ nhịp điệu tương phản đầy chất họa. Tiêu biểu là hình ảnh những cánh cò trắng chầm chậm trôi, đặt đối lập hoàn toàn với dáng vẻ thung thăng đi về trên cánh đồng xanh của những đàn trâu.
Đặc biệt, thiên nhiên không chỉ có sắc mà còn đong đầy hương vị quê nhà. Đó là hương thơm ngát mùi lúa chín vào mỗi buổi chiều phả vào gió thu, hòa cùng làn khói bếp bảng lảng. Hình ảnh làn khói bếp tỏa ra ấm áp đầy gợi cảm được nhà thơ ví von sinh động như đang gọi trăng thu xuống gần. Tất cả những hình ảnh ấy đã chạm đến góc khuất sâu thẳm nhất trong tâm hồn mỗi người con xa xứ.
Góp phần làm nên thành công của bức tranh thơ ấy, không thể không nhắc đến những sáng tạo nghệ thuật tài hoa của Nguyễn Lãm Thắng. Thể thơ năm chữ mộc mạc, giàu nhạc điệu được tác giả sử dụng như một khúc đồng dao ngân vang.
Hơn thế nữa, phép so sánh độc đáo mùa thu như tay mềm kết hợp cùng biện pháp nhân hóa qua câu thơ mùa thu chạm lên từng thảm lụa đã biến cái vô hình của thời gian thành cái hữu hình của không gian. Chính hệ thống từ láy giàu chất tạo hình như trong veo, mướt xanh, nhanh nhanh, chậm rãi, nhấp nhô đã tạo nên những nốt nhạc trầm bổng, giúp người đọc cảm nhận trọn vẹn hơi thở của đồng quê.
Có thể nói, Chiều đồng nội không thuần túy là một bài thơ tả cảnh, mà chính là tiếng lòng ngợi ca vẻ đẹp bình dị của non sông xứ sở. Tác phẩm đã bồi đắp cho thế hệ trẻ tình yêu thiên nhiên thuần khiết và lòng tự hào về cội nguồn. Qua đó, mỗi chúng ta tự rút ra bài học sâu sắc cho riêng mình: hãy biết nâng niu, giữ gìn và trân trọng những giá trị nguyên bản, thân thương nhất của quê hương đất nước.
Nếu họa sĩ dùng màu sắc để vẽ tranh thì nhà thơ lại mượn ngôn từ để dệt nên nhạc điệu. Đến với bài thơ Chiều đồng nội của Nguyễn Lãm Thắng, ta không chỉ được ngắm nhìn một bức tranh thiên nhiên mùa thu tuyệt đẹp mà còn được lắng nghe những nhịp đập thổn thức của một tâm hồn yêu quê hương tha thiết. Bằng lối viết giàu chất họa và đậm chất suy tư, tác giả đã biến một buổi chiều quê bình dị trở thành một cõi mơ yên ả, khơi dậy trong lòng người đọc bao nỗi hoài niệm thân thương.
Mở đầu trang thơ, người đọc lập tức bị cuốn vào một không gian nghệ thuật tinh khôi, nơi vạn vật đang chuyển mình dịu dàng vào thu. Từ góc nhìn cận cảnh, không gian đồng nội hiện lên đầy sức sống với hình ảnh những giọt thu trong veo nhẹ nhàng tưới mát khắp nẻo đường quê.
Không dừng lại ở đó, bức tranh chiều thu tiếp tục được mở rộng cả về chiều cao lẫn chiều sâu qua những câu thơ đầy gợi hình. Trên nền trời, hình ảnh những cánh chim bay trong những buổi chiều thu êm ả hiện lên thật thanh bình. Trong khi đó, ngay dưới mặt đất, những thảm cỏ mướt xanh lại được điểm xuyết bởi những bông hoa dại mộc mạc.
Sự hòa quyện tuyệt vời này càng trở nên sinh động nhờ nhịp điệu tương phản đầy chất họa. Tiêu biểu là hình ảnh những cánh cò trắng chầm chậm trôi, đặt đối lập hoàn toàn với dáng vẻ thung thăng đi về trên cánh đồng xanh của những đàn trâu.
Đặc biệt, thiên nhiên không chỉ có sắc mà còn đong đầy hương vị quê nhà. Đó là hương thơm ngát mùi lúa chín vào mỗi buổi chiều phả vào gió thu, hòa cùng làn khói bếp bảng lảng. Hình ảnh làn khói bếp tỏa ra ấm áp đầy gợi cảm được nhà thơ ví von sinh động như đang gọi trăng thu xuống gần. Tất cả những hình ảnh ấy đã chạm đến góc khuất sâu thẳm nhất trong tâm hồn mỗi người con xa xứ.
Góp phần làm nên thành công của bức tranh thơ ấy, không thể không nhắc đến những sáng tạo nghệ thuật tài hoa của Nguyễn Lãm Thắng. Thể thơ năm chữ mộc mạc, giàu nhạc điệu được tác giả sử dụng như một khúc đồng dao ngân vang.
Hơn thế nữa, phép so sánh độc đáo mùa thu như tay mềm kết hợp cùng biện pháp nhân hóa qua câu thơ mùa thu chạm lên từng thảm lụa đã biến cái vô hình của thời gian thành cái hữu hình của không gian. Chính hệ thống từ láy giàu chất tạo hình như trong veo, mướt xanh, nhanh nhanh, chậm rãi, nhấp nhô đã tạo nên những nốt nhạc trầm bổng, giúp người đọc cảm nhận trọn vẹn hơi thở của đồng quê.
Có thể nói, Chiều đồng nội không thuần túy là một bài thơ tả cảnh, mà chính là tiếng lòng ngợi ca vẻ đẹp bình dị của non sông xứ sở. Tác phẩm đã bồi đắp cho thế hệ trẻ tình yêu thiên nhiên thuần khiết và lòng tự hào về cội nguồn. Qua đó, mỗi chúng ta tự rút ra bài học sâu sắc cho riêng mình: hãy biết nâng niu, giữ gìn và trân trọng những giá trị nguyên bản, thân thương nhất của quê hương đất nước.
Quê hương luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca Việt Nam, và bài thơ "Chiều đồng nội" của nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng là một tác phẩm vô cùng đặc sắc viết về đề tài này. Bài thơ đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên vùng đồng quê vào buổi chiều thu vừa bình dị, vừa thơ mộng. Đọc tác phẩm, người đọc không khỏi bồi hồi, xao xuyến trước vẻ đẹp yên bình của làng quê và cảm nhận được tình yêu quê hương tha thiết của tác giả.
Trước hết, bài thơ đã mở ra một bức tranh thiên nhiên gần gũi, mộc mạc chốn làng quê với những sự vật vô cùng quen thuộc và mang đậm đặc trưng của mùa thu. Đó là những giọt thu trong trẻo, nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng bao la. Trên bầu trời chiều thu êm ả, những cánh chim bay lượn và những cánh cò trắng chầm chậm trôi tạo nên một không gian thoáng đãng, thanh bình. Dưới mặt đất, thảm cỏ mướt xanh được điểm xuyết bởi những bông hoa dại nhỏ bé. Giữa khung cảnh ấy, hình ảnh đàn trâu thung thăng đi về làm cho bức tranh quê thêm phần sinh động, ấm áp. Không chỉ có sắc màu, bức tranh đồng nội còn tràn ngập hương vị với những sóng lúa nhấp nhô đều tăm tắp, tỏa hương thơm ngát mùi lúa chín vào mỗi buổi chiều. Đặc biệt, hình ảnh làn khói bếp tỏa ra từ mái nhà ai như một sợi dây kết nối, khéo léo gọi trăng thu xuống gần hơn với con người. Tất cả những hình ảnh thân thương ấy đã khơi gợi trong em cảm xúc ấm áp, làm sống dậy nỗi nhớ da diết về một làng quê thanh bình, yên ả mỗi khi chiều về.
Bên cạnh vẻ đẹp về nội dung, thành công của bài thơ còn đến từ những nét nghệ thuật vô cùng đặc sắc được tác giả kết hợp hài hòa. Nguyễn Lãm Thắng đã lựa chọn thể thơ 5 chữ mộc mạc, gần gũi với nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng. Đồng thời, tác giả đã sử dụng rất linh hoạt các biện pháp tu từ như so sánh mùa thu "như tay mềm" và nhân hóa qua hình ảnh mùa thu biết "chạm lên từng thảm lúa", hay khói bếp biết "gọi trăng thu xuống gần". Những biện pháp này đã thổi hồn vào vạn vật, khiến thiên nhiên trở nên sinh động và có tâm hồn như con người. Thêm vào đó, hệ thống từ láy và từ ngữ giàu tính gợi hình, gợi cảm như "trong veo", "mướt xanh", "nhanh nhanh", "chậm rãi", "nhấp nhô" càng làm cho cảnh vật chiều thu thêm phần lung linh, rõ nét.
Có thể nói, "Chiều đồng nội" là một bài thơ hay và giàu ý nghĩa, khẳng định tài năng của Nguyễn Lãm Thắng trong thơ ca viết về quê hương. Tác phẩm không chỉ mang lại cho người đọc cảm giác thư thái mà còn khơi dậy tình yêu thiên nhiên, lòng gắn bó sâu nặng với cội nguồn xứ sở. Qua bài thơ, em thầm rút ra bài học cho bản thân là phải luôn biết trân trọng, nâng niu và bảo vệ những vẻ đẹp bình dị, thân thương của quê hương mình.
Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam. Các tác phẩm của ông thường viết về cuộc sống nghèo khổ và số phận bất hạnh của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Trong đó, truyện ngắn Chí Phèo là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện sâu sắc bi kịch của người nông dân bị xã hội tàn nhẫn đẩy vào con đường tha hóa và bị cự tuyệt quyền làm người.
Trước hết, Chí Phèo là một người nông dân có hoàn cảnh vô cùng bất hạnh. Ngay từ khi mới sinh ra, Chí đã bị bỏ rơi ở một cái lò gạch cũ, không cha, không mẹ và phải sống nhờ vào sự cưu mang của người khác. Khi trưởng thành, Chí từng là một người lao động hiền lành, chăm chỉ và có lòng tự trọng. Tuy nhiên, chỉ vì sự ghen tuông và âm mưu của Bá Kiến, Chí bị đẩy vào tù. Nhà tù thực dân đã biến một người nông dân lương thiện thành kẻ lưu manh, khiến Chí thay đổi cả ngoại hình lẫn tính cách.
Sau khi ra tù, Chí Phèo trở thành một kẻ chuyên rạch mặt ăn vạ, say rượu và gây sự với mọi người. Chí bị xã hội xa lánh, không còn được coi là một con người bình thường. Bi kịch của Chí không chỉ nằm ở sự tha hóa mà còn ở việc bị tước đoạt quyền làm người. Những tiếng chửi của Chí ngay đầu tác phẩm thể hiện sự cô độc và tuyệt vọng khi không ai chịu đáp lại, không ai muốn giao tiếp với hắn.
Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã đánh thức phần lương thiện còn sót lại trong Chí. Bát cháo hành giản dị của Thị Nở khiến Chí cảm động, lần đầu tiên hắn cảm nhận được sự quan tâm chân thành từ một người khác. Chí bắt đầu khao khát được sống bình thường, được hòa nhập với mọi người và xây dựng một mái ấm gia đình. Điều đó cho thấy sâu thẳm trong con người Chí vẫn tồn tại bản chất lương thiện.
Đáng tiếc, định kiến xã hội đã khiến Thị Nở từ chối Chí. Khi cánh cửa trở về cuộc sống lương thiện đóng lại, Chí đau đớn nhận ra mình không thể quay lại làm người bình thường. Trong cơn tuyệt vọng, Chí tìm đến Bá Kiến, giết hắn rồi tự kết liễu cuộc đời mình. Cái chết của Chí là lời tố cáo mạnh mẽ xã hội bất công đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng.Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, ngôn ngữ tự nhiên và cách miêu tả tâm lí sâu sắc, Nam Cao đã tạo nên một tác phẩm giàu giá trị hiện thực và nhân đạo. Chí Phèo không chỉ phản ánh số phận đau khổ của người nông dân mà còn khẳng định khát vọng được sống lương thiện của con người. Tác phẩm giúp em hiểu rằng mỗi người đều xứng đáng được yêu thương, tôn trọng và có cơ hội làm lại cuộc đời.
Mỗi lần đọc bài thơ Chiều đồng nội của tác giả Nguyễn Lãm Thắng, lòng tôi lại dâng lên những niềm xúc động nghẹn ngào và êm đềm đến lạ kỳ. Tác phẩm là một bức tranh thiên nhiên làng quê thanh bình, khoác lên mình chiếc áo mùa thu ngọt ngào, gần gũi, gợi cho tôi bao nỗi nhớ tha thiết về chốn quê nhà.
Bức tranh đồng nội hiện lên qua những hình ảnh hết sức bình dị, quen thuộc. Đó là những giọt thu trong trẻo nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng, là cánh chim chao nghiêng trong buổi chiều thu êm ả. Xa xa, thảm cỏ mướt xanh điểm xuyết những bông hoa dại nhỏ nhắn, còn cánh cò trắng thì chầm chậm đập cánh trôi qua bầu trời. Hình ảnh đàn trâu thung thăng tản bộ về nhà, sóng lúa vàng nhấp nhô đều tăm tắp tỏa hương thơm ngát cùng làn khói bếp tỏa ra từ mái rạ chiều đã vẽ nên một không gian sống động. Tất cả những nét vẽ ấy không chỉ miêu tả thiên nhiên mà còn chất chứa bao tình yêu thương, làm dâng lên trong tôi niềm hoài niệm da diết về mái nhà yên bình và những kỷ niệm mộc mạc.
Thành công của bài thơ còn nằm ở nét nghệ thuật đặc sắc. Tác giả đã lựa chọn thể thơ 5 chữ ngắn gọn, nhịp nhàng, tạo nên giai điệu mộc mạc, tự nhiên như lời tâm tình. Cùng với đó là các biện pháp tu từ được sử dụng vô cùng linh hoạt. Phép so sánh độc đáo coi mùa thu tựa "tay mềm", hay phép nhân hóa biến thu thành một sinh thể biết "chạm" lên thảm lúa và làn khói bếp "gọi trăng thu xuống gần" làm cho cảnh vật trở nên có tâm hồn, ấm áp tình người. Sự xuất hiện của hàng loạt từ láy giàu hình ảnh và cảm xúc như trong veo, mướt xanh, nhấp nhô, chậm rãi càng làm cho bức tranh chiều thu thêm phần uyển chuyển, tươi đẹp.
Khép lại bài thơ, tôi thêm trân trọng những nét đẹp bình dị của quê hương xứ sở. Tác phẩm không chỉ mang lại cho tôi những giây phút lắng đọng tâm hồn mà còn nhắc nhở tôi biết nâng niu, yêu thương từng góc nhỏ làng quê và những kỷ niệm tuổi thơ tươi đẹp.
Mỗi lần đọc bài thơ Chiều đồng nội của tác giả Nguyễn Lãm Thắng, lòng tôi lại dâng lên những niềm xúc động nghẹn ngào và êm đềm đến lạ kỳ. Tác phẩm là một bức tranh thiên nhiên làng quê thanh bình, khoác lên mình chiếc áo mùa thu ngọt ngào, gần gũi, gợi cho tôi bao nỗi nhớ tha thiết về chốn quê nhà.
Bức tranh đồng nội hiện lên qua những hình ảnh hết sức bình dị, quen thuộc. Đó là những giọt thu trong trẻo nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng, là cánh chim chao nghiêng trong buổi chiều thu êm ả. Xa xa, thảm cỏ mướt xanh điểm xuyết những bông hoa dại nhỏ nhắn, còn cánh cò trắng thì chầm chậm đập cánh trôi qua bầu trời. Hình ảnh đàn trâu thung thăng tản bộ về nhà, sóng lúa vàng nhấp nhô đều tăm tắp tỏa hương thơm ngát cùng làn khói bếp tỏa ra từ mái rạ chiều đã vẽ nên một không gian sống động. Tất cả những nét vẽ ấy không chỉ miêu tả thiên nhiên mà còn chất chứa bao tình yêu thương, làm dâng lên trong tôi niềm hoài niệm da diết về mái nhà yên bình và những kỷ niệm mộc mạc.
Thành công của bài thơ còn nằm ở nét nghệ thuật đặc sắc. Tác giả đã lựa chọn thể thơ 5 chữ ngắn gọn, nhịp nhàng, tạo nên giai điệu mộc mạc, tự nhiên như lời tâm tình. Cùng với đó là các biện pháp tu từ được sử dụng vô cùng linh hoạt. Phép so sánh độc đáo coi mùa thu tựa "tay mềm", hay phép nhân hóa biến thu thành một sinh thể biết "chạm" lên thảm lúa và làn khói bếp "gọi trăng thu xuống gần" làm cho cảnh vật trở nên có tâm hồn, ấm áp tình người. Sự xuất hiện của hàng loạt từ láy giàu hình ảnh và cảm xúc như trong veo, mướt xanh, nhấp nhô, chậm rãi càng làm cho bức tranh chiều thu thêm phần uyển chuyển, tươi đẹp.
Khép lại bài thơ, tôi thêm trân trọng những nét đẹp bình dị của quê hương xứ sở. Tác phẩm không chỉ mang lại cho tôi những giây phút lắng đọng tâm hồn mà còn nhắc nhở tôi biết nâng niu, yêu thương từng góc nhỏ làng quê và những kỷ niệm tuổi thơ tươi đẹp.
Nhen nhóm lên từ những điều bình dị nhất, bài thơ "Chiều đồng nội" của nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng như một nốt nhạc trong trẻo, để lại dư âm sâu sắc trong lòng độc giả. Bằng những vần thơ ngọt ngào và đong đầy xúc cảm, tác giả đã mở ra trước mắt người đọc một không gian đồng quê tràn ngập sắc màu cùng hương vị mùa thu. Qua đó, tác phẩm không chỉ đơn thuần tả cảnh mà còn khơi dậy tình yêu quê hương đất nước tha thiết, sâu lắng ẩn sâu trong tâm hồn mỗi chúng ta.Lật mở từng trang thơ, ta như được bước vào và hòa mình trọn vẹn vào bức tranh thiên nhiên vô cùng gần gũi, bình dị chốn làng quê. Ấn tượng đầu tiên chạm vào tâm trí người đọc chính là cách tác giả khéo léo chọn lọc những hình ảnh mang đậm hơi thở của một buổi chiều thu êm ả. Đó là những giọt thu trong trẻo nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng lúa, hòa nhịp cùng những cánh chim bay lượn tự do giữa bầu trời chiều yên ả. Tuyệt vời hơn nữa, không gian ấy lại càng trở nên sống động nhờ những thảm cỏ mướt xanh điểm xuyết những bông hoa dại, nâng đỡ cho hình ảnh cánh cò trắng chầm chậm trôi và đàn trâu thung thăng đi về trên lối nhỏ. Đặc biệt, làn khói bếp từ nếp nhà ai tỏa ra như đang gọi trăng thu xuống gần, để rồi quyện chặt vào hương thơm ngát của mùi lúa chín vào mỗi buổi chiều. Chính sự gắn kết tài tình ấy đã khiến tất cả những hình ảnh trên hiện lên thật thân thương, từ đó đánh thức những cảm xúc êm đềm và nguyên sơ nhất trong lòng người đọc.Song hành cùng thế giới nội dung đầy chất thơ ấy, sự thành công của tác phẩm còn được kết tinh từ những nét nghệ thuật vô cùng độc đáo. Ngay từ hình thức, thể thơ năm chữ gần gũi và mộc mạc đã tạo nên một nhịp điệu uyển chuyển như một khúc tâm tình sâu lắng. Hơn thế nữa, Nguyễn Lãm Thắng còn sử dụng hết sức linh hoạt các biện pháp tu từ, tiêu biểu là phép so sánh mùa thu mềm mại như tay người và phép nhân hóa khi mùa thu biết chạm lên từng thảm lúa, hay làn khói bếp biết gọi trăng thu xuống gần. Biện pháp nghệ thuật này đã thổi hồn vào thiên nhiên đồng nội, khiến cảnh vật vô tri trở nên sinh động và ngập tràn tình cảm. Đồng thời, việc đan cài các từ ngữ giàu tính gợi hình, gợi cảm cùng hệ thống từ láy như "trong veo", "mướt xanh", "nhanh nhanh", "chậm rãi", "nhấp nhô" càng khắc họa rõ nét từng chuyển động khẽ khàng, tinh tế của vạn vật.Quả thực, hành trình đi qua những trang thơ của Nguyễn Lãm Thắng đã khép lại, nhưng dư âm ngọt ngào của Chiều đồng nội thì vẫn còn vang vọng mãi. Tác phẩm không chỉ mang lại cảm giác thư thái, bình yên sau những lo toan của cuộc sống mà còn gửi gắm một bài học sâu sắc cho mỗi chúng ta. Đó chính là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về lòng biết ơn, biết trân trọng và gắn bó thủy chung với những vẻ đẹp bình dị, dung dị của quê hương mình.
Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam, những vần thơ viết về quê hương luôn mang đến cho người đọc những rung động sâu lắng. Đến với bài thơ Chiều đồng nội của Nguyễn Lâm Thắng, em không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp bình dị, thơ mộng của làng quê mà còn thêm yêu, thêm trân trọng những điều thân thuộc trong cuộc sống.
Trước hết, điều khiến em ấn tượng sâu sắc chính là bức tranh thiên nhiên đồng nội thanh bình và tràn đầy sức sống. Qua những hình ảnh gần gũi như cánh chim, thảm cỏ xanh, đàn trâu, cánh cò trắng và những sóng lúa nhấp nhô, tác giả đã khắc họa khung cảnh làng quê thật nên thơ. Đặc biệt, hương thơm của lúa chín cùng làn khói bếp chiều gợi lên cảm giác ấm áp, thân thương. Những hình ảnh ấy không chỉ làm em say mê trước vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn khơi dậy tình yêu quê hương và nỗi nhớ những điều bình dị quanh mình.
Không dừng lại ở giá trị nội dung, bài thơ còn chinh phục em bởi những nét nghệ thuật đặc sắc. Trước hết, thể thơ năm chữ với nhịp điệu nhẹ nhàng đã góp phần tạo nên âm hưởng êm đềm, sâu lắng. Bên cạnh đó, việc sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa cùng những từ láy giàu sức gợi hình, gợi cảm đã khiến cảnh vật hiện lên sinh động, gần gũi. Chính sự kết hợp hài hòa giữa ngôn từ giản dị và hình ảnh giàu sức biểu cảm đã giúp bài thơ dễ dàng chạm đến trái tim người đọc.
Có thể nói, Chiều đồng nội không chỉ là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về tình yêu quê hương. Khép lại những vần thơ, em càng thấm thía giá trị của những điều bình dị quanh mình. Từ đó, em tự nhủ phải biết trân trọng, gìn giữ vẻ đẹp quê hương và nâng niu những kỉ niệm thân thương của tuổi thơ.
Trong kho tàng thơ ca viết về nông thôn Việt Nam, bài thơ "Chiều đồng nội" của tác giả Nguyễn Lãm Thắng đã để lại cho em những ấn tượng vô cùng sâu sắc. Tác phẩm đã vẽ nên một bức tranh phong cảnh đồng quê thanh bình, thơ mộng vào một buổi chiều thu nông thôn. Ngay từ khi đọc những dòng thơ đầu tiên, người đọc đã dễ dàng bị cuốn vào một không gian yên ả, tràn ngập sắc màu và hương vị thân thương của quê hương xứ sở.Trước hết, cảm xúc chủ đạo xuyên suốt tác phẩm chính là tình yêu thiên nhiên tha thiết được gửi gắm qua bức tranh đồng nội đầy sống động. Dưới ngòi bút tài hoa của tác giả, một thế giới thiên nhiên gần gũi, bình dị hiện lên với những sự vật vô cùng quen thuộc và mang đậm đặc trưng của mùa thu. Đó là những giọt thu trong trẻo nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng, là những cánh chim bay liệng giữa buổi chiều thu êm ả. Bên cạnh đó, người đọc còn bắt gặp hình ảnh thảm cỏ mướt xanh điểm xuyến những bông hoa dại, hay cánh cò trắng chầm chậm trôi cùng đàn trâu thung thăng bước về. Đặc biệt, bức tranh đồng quê ấy không chỉ có hình ảnh, màu sắc mà còn có cả hương vị với những sóng lúa nhấp nhô đều tăm tắp và hương thơm ngát của lúa chín lúc hoàng hôn. Cuối cùng, hình ảnh làn khói bếp nhà ai tỏa ra như gọi trăng thu xuống gần đã làm cho khung cảnh thêm phần ấm áp, thi vị. Tất cả những hình ảnh đó thật thân thương, khơi dậy trong lòng em nỗi nhớ và tình yêu sâu đậm đối với sự yên bình của làng quê mỗi độ chiều về.Không chỉ thành công về mặt nội dung, "Chiều đồng nội" còn chinh phục độc giả bởi những nét đặc sắc nghệ thuật độc đáo. Đầu tiên, tác giả đã lựa chọn thể thơ 5 chữ ngắn gọn, mộc mạc, giúp nhịp điệu bài thơ trở nên uyển chuyển, nhẹ nhàng như một lời thủ thỉ. Hơn thế nữa, các biện pháp tu từ được sử dụng một cách rất linh hoạt và khéo léo. Hình ảnh so sánh "mùa thu như tay mềm" kết hợp với phép nhân hóa qua chi tiết "mùa thu chạm lên từng thảm lúa" hay làn khói bếp "gợi trăng thu xuống gần" đã khiến thiên nhiên trở nên sống động, có linh hồn và giàu cảm xúc. Ngoài ra, việc hệ thống các từ láy giàu tính gợi hình, gợi cảm như trong veo, mướt xanh, nhanh nhanh, chậm rãi, nhấp nhô cũng góp phần giúp bức tranh thiên nhiên hiện lên một cách sắc nét và giàu nhạc điệu hơn.Tóm lại, bài thơ "Chiều đồng nội" của Nguyễn Lãm Thắng là một khúc ca nhẹ nhàng nhưng lắng đọng về cảnh sắc quê hương. Qua tác phẩm này, em không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp bình dị của nông thôn Việt Nam mà còn rút ra bài học sâu sắc về lòng yêu thương, biết trân trọng và gắn bó với những vẻ đẹp giản dị xung quanh mình.
Bài thơ Chiều đồng nội của Nguyễn Lãm Thắng là một bức tranh thiên nhiên làng quê thanh bình, gợi lên trong lòng người đọc những xúc cảm dịu dàng và tha thiết. Bằng ngôn từ mộc mạc cùng nhịp điệu êm ả, tác giả đã khắc họa thành công không gian buổi chiều tà nơi đồng quê Việt Nam. Trong khung cảnh ấy, từng hình ảnh như cánh cò, rặng tre, làn khói bếp hay ánh hoàng hôn buông xuống đều hiện lên thật gần gũi, ấm áp. Đọc bài thơ, ta như được đắm mình vào không gian yên bình, gạt bỏ những ồn ào của cuộc sống hiện đại để trở về với tuổi thơ và những ký ức ngọt ngào. Qua đó, tác giả không chỉ thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết mà còn gửi gắm tình yêu quê hương đất nước sâu sắc. Chiều đồng nội thực sự là một nốt nhạc trầm ấm, đọng lại trong tâm trí người đọc sự trân trọng đối với những giá trị bình dị của quê hương.
Câu 1: giới thiệu được tên bài thơ , tên tác giả và nội dung chính
Câu 2: phát biểu cảm nghĩ về nội dung bài thơ :
bài thơ nhắc đến những hình ảnh thiên nhiên nào?
những hình ảnh đó gợi lên cảm xúc gì