Câu 1 (2,0 điểm).
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1 (2,0 điểm). Anh/ chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải thay đổi mình trước khi muốn thay đổi những người xung quanh.

Câu 2 (4,0 điểm). Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật trog hai đoạn trích sau:

Tôi nhớ năm lên lớp hai có lần đau chân không đi học được, mẹ bế tôi đặt vào một đầu thúng rồi gánh tới lớp, đầu kia là cặp sách và đứa em út của tôi mới vừa biết lật phải mang theo luôn vì để ở nhà không có ai trông. Tôi đội chiếc mũ tai bèo cũ rách của cha, mẹ che nắng cho em bằng chiếc nón mê thủng lỗi chỗ còn trên đầu mẹ chỉ buộc một tấm khăn vuông. Ngồi trong thúng tôi cứ ước con đường dài mãi ra để được xoay xoay bồng bềnh theo từng nhịp chân của mẹ, đâu biết rằng mẹ vừa sinh xong dậy mất sức lại thiếu ăn nên vừa run rẩy bước vừa cắn răng nên những cơn đau. Niềm vui lớn nhất thuở ấu thơ chúng tôi là lúc mẹ đi chợ về. Đôi quanh gánh của mẹ dường như gánh theo cả thế giới bí mật thần kỳ với bao nhiêu thức quà từ phố huyện. Hôm nào mẹ đi chợ là chị em cứ tha thẩn chơi loanh quanh đầu ngõ, thấy bóng mẹ từ đằng xa liền reo lên háo hức chạy ùa tới đón. Mẹ mỉm cười lau mồ hôi đặt gánh xuống khỏi vai, chiếc mẹt thưa đậy trên thúng được mở ra từ từ, bên dưới đó thế nào cũng có một đùm kẹo bột, chiếc bánh tráng nướng giòn hay gói bỏng ngô thơm nức. Những món quả ít ỏi được chia đều cho mấy đứa con đang đứng vây xung quanh, thòm thèm đến nỗi hai tay lấm lem đất cát chỉ kịp chùi vội vào vạt áo rồi xoè ra đợi lấy phần của mình. Thế nhưng cũng có hôm chợ ế, mẹ gánh rau đi lại gánh rau về, mở chiếc thúng ra chỉ có mớ dưa cải đọt khoai héo rũ, chị em tôi ngơ ngác nhìn nhau. Mẹ nói hôm nay bà bán kẹo đi vắng nên bữa sau mới mua được nhưng bé út không chịu liền oà lên khóc nức nở. Tôi cố lục tìm lần nữa trong thúng vẫn chẳng thấy gì nên mếu máo khóc theo. Mẹ bế hai đứa lên tay càng cố sức dỗ dành thì em khóc càng to, mồ hôi lẫn với nước mắt ướt đầm manh áo vá. Hình như trong đó có cả nước mắt đắng cay xa xót phận nghèo của mẹ mà chúng tôi vô tâm nào có biết.

(Trích Mẹ gánh con đi, Trần Thị Tú Ngọc, in trong Thương nhớ miền Trung,
NXB Thanh Niên, 2020, tr. 199-200)

Mỗi ngày của mẹ, cùng đôi quang gánh của con tôm cái tép, mẹ bước dài trong màn trời vàng chảy màu nắng, gió lộng, cùng cái nóng lún chân của dải cát bóng. Bước chân mẹ cùng đôi quang gánh chông chênh hằn lên vệt dài, mong manh kéo đến tận chân trời. Lũ anh em chúng tôi đứng nhìn dáng mẹ hút dần về phía xa, rồi reo lên ùa chạy và ra đồi cát thoả sức chơi đùa.

Ngày hai đứa em tôi lên 3 lên 4, chúng hay nằng nặc đòi theo mẹ vượt qua những đồi cát để về làng Ninh Thuỷ, nơi mẹ buôn bán. Mẹ mỉm cười rồi chiều ý. Thế là từ những lần như vậy, mẹ để mỗi đứa vào một đầu gánh, và nhọc nhằn gồng gánh hai con qua dặm dài đồi cát. Hai đứa tíu tít cười đùa, mẹ mím môi cười qua đôi mắt, biển như thương tình, thổi gió ào ạt, tấm áo lưng mẹ vẫn bền bệt mồ hôi.

Lần đó, anh em chúng tôi biết mẹ chưa tầm giờ về và kéo ra biển như mọi bận. Nhưng hôm đó mẹ bệnh, phải sớm phiên chợ về. Từ trên cao đồi cát, mẹ thấy ba anh em chúng tôi lặn ngụp nơi khúc biển vắng, mẹ tung đôi quang gánh, chạy ào theo triền cát lao về phía chúng tôi. Chúng tôi thấy mẹ té, rồi mẹ đứng lên chạy, mẹ ra sức ngăn chúng tôi, mẹ lại té lăn theo triền cát. Trận đòn đêm ấy không làm tôi đau, nhưng tôi đau vì lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mẹ té vùi trong cát.

Lũ anh em chúng tôi lớn dần lên và bước chân mẹ trên những đồi cát dường như lại tất tả hơn cùng cát nóng. Sáng sớm tinh mơ, mẹ đã trẩy đôi quang gánh vượt đồi cát ra chợ, trưa mẹ về cùng con cá con tôm, rồi mẹ lại đi. Cứ mỗi lần như vậy, chúng tôi chỉ háo hức những thứ mẹ đem về, chúng tôi nào biết đôi chân tấy đỏ, bỏng rát cùng bờ vai chai sần quang gánh mà mẹ chẳng bao giờ cho chúng tôi xem.

(Trích Mẹ và đồi cát, Tạ Tư Văn, in trong Thương nhớ miền Trung,
NXB Thanh Niên, 2020, tr. 360-361)

6

Câu 1

Trong cuộc sống, chúng ta thường có xu hướng muốn thay đổi người khác theo ý mình mà quên mất rằng, sự thay đổi có giá trị và thực tế nhất phải bắt đầu từ chính bản thân. Việc thay đổi mình trước khi muốn thay đổi những người xung quanh là một điều vô cùng cần thiết. Trước hết, bản thân mỗi người là yếu tố duy nhất mà chúng ta có toàn quyền kiểm soát và điều chỉnh. Thay vì tốn năng lượng để ép buộc hay phán xét người khác – điều vốn rất khó khăn và dễ gây rạn nứt mối quan hệ – thì việc tự sửa đổi khuyết điểm của mình sẽ mang lại hiệu quả tức thì. Khi chúng ta trở nên tốt đẹp hơn, thấu hiểu hơn, hành động của chúng ta sẽ giống như một tấm gương phản chiếu, tạo ra sức ảnh hưởng và truyền cảm hứng một cách tự nhiên đến mọi người. Một người muốn con cái chăm chỉ thì bản thân phải bớt lười biếng; một người muốn xã hội bớt định kiến thì chính họ phải học cách bao dung. Thay đổi chính mình cũng là cách giúp chúng ta mở rộng góc nhìn, nhận ra rằng đôi khi vấn đề không nằm ở thế giới xung quanh mà ở cách chúng ta đón nhận nó. Tóm lại, tự hoàn thiện bản thân là bước đi khôn ngoan và bền vững nhất, bởi như một câu triết lý đã nói: "Khi ta thay đổi, thế giới sẽ đổi thay".

Câu 2.

Tình mẫu tử luôn là đề tài muôn thuở khơi nguồn cho những trang văn giàu cảm xúc. Trong cuốn sách Thương nhớ miền Trung, hai tác giả Trần Thị Tú Ngọc với đoạn trích Mẹ gánh con đi và Tạ Tư Văn với Mẹ và đồi cát đã mang đến cho người đọc những rung động sâu sắc về hình tượng người mẹ miền Trung tần tảo. Dù có những nét gặp gỡ trong chủ đề, mỗi tác phẩm lại sở hữu những nét đặc sắc nghệ thuật riêng biệt, làm nên sức hấp dẫn độc đáo.

Về nét tương đồng, cả hai đoạn trích đều gặp nhau ở chủ đề ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng, lòng biết ơn sâu sắc của người con trước sự hy sinh thầm lặng của mẹ. Điểm chung thú vị là cả hai tác giả đều chọn hình ảnh đôi quang gánh làm biểu tượng cho cuộc đời đầy lo toan, vất vả của mẹ. Ở cả hai văn bản, người mẹ đều dùng đôi quang gánh ấy để chở che, gánh cả tuổi thơ của những đứa con (mẹ bế con đặt vào một đầu thúng để gánh tới lớp trong Mẹ gánh con đi; mẹ để mỗi đứa vào một đầu gánh qua dặm dài đồi cát trong Mẹ và đồi cát). Đồng thời, cả hai người con khi trưởng thành đều nhìn lại quá khứ bằng niềm tự trách, hối hận vì sự vô tâm thuở nhỏ của mình khi chỉ biết háo hức đợi quà, đòi theo mẹ mà không hề biết đến những cơn đau, đôi chân tấy đỏ hay những giọt nước mắt xa xót phận nghèo của đấng sinh thành.

Tuy nhiên, bên cạnh chủ đề chung, mỗi đoạn trích lại mang một sắc thái nội dung và không gian địa lý khác nhau. Trong Mẹ gánh con đi của Trần Thị Tú Ngọc, bối cảnh hiện lên gắn liền với làng quê, đường đất và những phiên chợ nghèo phố huyện. Nỗi vất vả của người mẹ được đẩy lên đỉnh điểm qua cái nghèo đói xơ xác của những ngày chợ ế, khiến mẹ phải bật khóc cùng con vì bất lực trước manh áo vá. Ngược lại, Mẹ và đồi cát của Tạ Tư Văn lại đặt người mẹ vào không gian đặc trưng của vùng duyên hải miền Trung với dải cát bỏng, nắng rát và biển khơi. Nỗi vất vả ở đây mang tính chất chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để mưu sinh bằng nghề bán tôm bán tép. Đặc biệt, đoạn trích của Tạ Tư Văn còn khắc họa một tình huống đầy kịch tính khi người mẹ dù đang đổ bệnh vẫn bất chấp hiểm nguy, té ngã vùi trong cát để lao ra biển cứu các con, tạo nên một điểm nhấn xúc động về bản năng chở che của người mẹ.

Về nghệ thuật, hai đoạn trích cũng khẳng định tài năng riêng của từng tác giả thông qua phương thức biểu đạt. Trần Thị Tú Ngọc trong Mẹ gánh con đi sử dụng ngòi bút giàu tính tự sự, đi sâu vào việc miêu tả chi tiết, hành động và nội tâm nhân vật. Tác giả tái hiện sinh động cảnh chia quà chợ, tiếng khóc nức nở của đứa em và giọt nước mắt đắng cay của mẹ bằng những từ ngữ rất gợi cảm (xoay xoay bồng bềnh, thòm thèm, héo rũ, ướt đầm). Lối trần thuật tự nhiên, chậm rãi làm cho câu chuyện mang đậm màu sắc kỷ niệm, tạo cảm giác gần gũi như một thước phim quay chậm.

Trong khi đó, Tạ Tư Văn trong Mẹ và đồi cát lại thiên về bút pháp chất chứa chất thơ và giàu tính hình tượng. Tác giả tạo ấn tượng mạnh bằng việc xây dựng những hình ảnh tương phản và có sức gợi lớn như dáng mẹ chông chênh kéo dài tận chân trời đối lập với đồi cát mênh mông, hay trận đòn roi không đau bằng cái đau khi thấy mẹ ngã vùi trong cát. Ngôn ngữ của đoạn trích này mang tính khái quát cao, nhịp điệu câu văn uyển chuyển và dồn dập ở đoạn cao trào cứu con, giúp khắc họa hình ảnh người mẹ không chỉ lam lũ mà còn vô cùng mạnh mẽ, vĩ đại trước thiên nhiên và nghịch cảnh.

Tóm lại, cả hai đoạn trích đều là những bài ca xúc động về tình mẹ. Bằng những nét đặc sắc nghệ thuật riêng – một bên là tự sự chân thực, sâu lắng, một bên là hình tượng giàu chất thơ, kịch tính – cả hai tác giả đã làm nổi bật hình ảnh người mẹ miền Trung chịu thương chịu khó. Những trang văn ấy không chỉ tôn vinh mẹ mà còn thức tỉnh trong lòng mỗi chúng ta bài học về đạo hiếu và sự trân trọng đối với tình cảm gia đình.

CÂU 1 (2,0 ĐIỂM): ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Trong hành trình định vị bản thân và tạo dựng các giá trị sống, việc nhận thức được "sự cần thiết phải thay đổi mình trước khi muốn thay đổi những người xung quanh" có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thay đổi chính mình là quá trình chủ động nhìn nhận, sửa đổi những khuyết điểm, hoàn thiện tư duy và hành động của bản thân. Cuộc sống là một tấm gương phản chiếu trực quan; khi ta thay đổi góc nhìn và cách ứng xử, thế giới xung quanh tự khắc sẽ dịch chuyển theo hướng tích cực. Chúng ta không thể bắt người khác phải bao dung khi bản thân còn ích kỷ, cũng không thể yêu cầu xã hội văn minh khi chính mình còn vứt rác bừa bãi. Thay đổi bản thân trước hết giúp ta làm chủ cuộc đời, giải phóng mình khỏi những năng lượng tiêu cực của sự áp đặt, đòi hỏi vô lí lên người khác. Hơn thế nữa, sự tự thay đổi của mỗi cá nhân chính là "ngọn hải đăng" có sức cảm hóa mạnh mẽ nhất, tạo ra sức lan tỏa tự nhiên đến cộng đồng thay vì những lời giáo điều sáo rỗng. Như đại văn hào Leo Tolstoy từng nhận định: "Ai cũng nghĩ đến việc thay đổi thế giới, nhưng không ai nghĩ đến việc thay đổi chính mình". Nếu mỗi người biết nhìn lại, tự sửa mình từ những điều nhỏ nhất, chúng ta sẽ tạo nên một xã hội tốt đẹp. Hãy ngừng phàn nàn về bóng tối, thay vào đó, hãy tự thắp lên ngọn nến của chính mình.

CÂU 2 (4,0 ĐIỂM): BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

Tình mẫu tử luôn là dòng sông xanh mát chảy qua biết bao trang văn, trang thơ của văn học Việt Nam. Viết về đề tài này, hai tác giả Trần Thị Tú Ngọc với đoạn trích "Mẹ gánh con đi" (trong Thương nhớ miền Trung) và tác giả của đoạn trích thứ hai đã gặp nhau ở một hình tượng nghệ thuật độc đáo: đôi quang gánh của mẹ. Qua việc so sánh, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật của hai đoạn trích, người đọc không chỉ cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng mà còn thấy được vẻ đẹp nhọc nhằn, kiên cường của người mẹ miền Trung nắng gió.

Trước hết, về chủ đề, cả hai văn bản đều tập trung ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, lòng vị tha, sự hy sinh thầm lặng của người mẹ và sự thấu hiểu, biết ơn muộn màng của những đứa con khi trưởng thể. Người mẹ trong cả hai đoạn trích đều gắn liền với hình ảnh đôi quang gánh – biểu tượng của sự lam lũ, gánh gồng cả cuộc đời con.

Tuy nhiên, mỗi đoạn trích lại có những khám phá và lối thể hiện chiều sâu chủ đề rất riêng:

  • Ở đoạn trích thứ nhất ("Mẹ gánh con đi"): Tác giả tập trung khai thác thế giới tuổi thơ xoay quanh niềm vui và nỗi buồn từ những món quà chợ của mẹ. Chủ đề tình mẫu tử được thể hiện qua sự tương phản giữa sự ngây thơ, vô tâm của con trẻ với nỗi đau đớn về thể xác (mẹ mới sinh, thiếu ăn, đau đớn) và nỗi cay đắng xót xa về phận nghèo của mẹ khi chợ ế. Đoạn văn mang đậm phong vị hoài niệm về một thời nghèo khó nhưng ấm áp.
  • Ở đoạn trích thứ hai: Chủ đề lại gắn liền với không gian đặc trưng của miền duyên hải – những đồi cát nóng bỏng rát và sóng biển. Tình mẫu tử ở đây mang vẻ đẹp của sự chở che, bảo vệ mạnh mẽ. Đó là hành động "tung đôi quang gánh", chấp nhận "té vùi trong cát" để cứu con khỏi hiểm nguy của biển cả. Sự hy sinh của người mẹ ở đây mang tính chất che chở trước những dông bão cuộc đời.

Bên cạnh sự tương đồng và khác biệt về chủ đề, nét đặc sắc nghệ thuật của hai đoạn trích cũng tạo nên những dấu ấn thẩm mỹ riêng biệt:

Về phương diện nghệ thuật, cả hai tác phẩm đều sử dụng thành công ngôi kể thứ nhất ("tôi", "anh em chúng tôi"), tạo nên giọng điệu tự sự, trữ tình, chân thực như một lời tự thú, lời tâm tình từ sâu thẳm tâm hồn. Biện pháp nghệ thuật tương phản được cả hai tác giả sử dụng triệt để: tương phản giữa cái nóng, cái nhọc nhằn của mẹ với tiếng cười khúc khích, vui vẻ của những đứa con.

Dù vậy, nét đặc sắc riêng trong nghệ thuật của từng đoạn là không thể phủ nhận:

  • Đoạn trích của Trần Thị Tú Ngọc nổi bật với năng lực miêu tả tâm lý nhân vật và chi tiết nghệ thuật đắt giá. Hình ảnh "chiếc nón mê thủng lỗi chỗ", "đùm kẹo bột, chiếc bánh tráng nướng" hay "mớ dưa cải đọt khoai héo rũ" được tái hiện rất sinh động. Đặc biệt, câu văn cuối: "mồ hôi lẫn với nước mắt ướt đầm manh áo vá... nước mắt đắng cay xa xót phận nghèo" có sức nặng dung chứa cảm xúc, khơi gợi sự đồng cảm sâu sắc nơi người đọc.
  • Đoạn trích thứ hai lại giàu tính tạo hình và đậm chất thơ nhờ các từ ngữ gợi hình, gợi cảm xuất sắc. Tác giả đã xây dựng một bức tranh thiên nhiên khắc nghiệt nhưng hùng vĩ: "màn trời vàng chảy màu nắng", "cái nóng lún chân của dải cát". Hình ảnh người mẹ ngã lăn trên triền cát để cứu con là một thước phim quay chậm đầy ám ảnh, làm bật lên vẻ đẹp kiên cường, bất chấp nguy hiểm của người mẹ trước thiên nhiên và số phận.

Tóm lại, bằng những nét đặc sắc nghệ thuật riêng biệt, cả hai đoạn trích đã làm phong phú thêm cho đề tài tình mẫu tử trong văn học. Nếu đoạn trích của Trần Thị Tú Ngọc là khúc ca trầm buồn, sâu lắng về tình mẹ trong gian khó, đói nghèo, thì đoạn trích thứ hai lại là bức tượng đài kỳ vĩ về người mẹ kiên cường trên cát nóng miền Trung. Cả hai tác phẩm đều lay động góc khuất thiêng liêng nhất trong tim mỗi người đọc, nhắc nhở chúng ta biết trân trọng và yêu thương người mẹ của mình.

Câu 1

Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn người khác thay đổi để phù hợp với suy nghĩ và mong đợi của mình. Tuy nhiên, trước khi muốn thay đổi người xung quanh, mỗi người cần biết thay đổi chính bản thân mình. Bởi lẽ, con người không thể dùng lời nói để thuyết phục người khác hiệu quả bằng chính hành động và cách sống của mình. Khi ta biết sửa đổi những hạn chế, hoàn thiện nhân cách, cư xử chân thành và tích cực, những người xung quanh sẽ dễ dàng bị tác động theo hướng tốt đẹp hơn. Thay đổi bản thân còn giúp ta hiểu người khác, biết lắng nghe và cảm thông thay vì áp đặt. Trong gia đình, một người sống trách nhiệm sẽ lan tỏa tinh thần yêu thương đến mọi thành viên. Trong học tập, một học sinh chăm chỉ, kỷ luật sẽ tạo động lực cho bạn bè cùng cố gắng. Ngược lại, nếu bản thân chưa tốt mà chỉ luôn đòi hỏi người khác thay đổi, ta dễ rơi vào ích kỉ và mâu thuẫn. Dĩ nhiên, thay đổi bản thân không phải là đánh mất chính mình mà là biết hoàn thiện để sống tốt hơn mỗi ngày. Vì vậy, muốn thay đổi thế giới xung quanh, trước hết hãy bắt đầu từ việc thay đổi chính mình.


Câu 2

Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, hình ảnh người mẹ lam lũ luôn là nguồn cảm hứng giàu xúc động. Hai đoạn trích “Mẹ gánh con đi” của Trần Thị Tú Ngọc và “Mẹ và đồi cát” của Tạ Tư Văn đều khắc họa sâu sắc tình mẫu tử cùng những hi sinh nhọc nhằn của người mẹ miền Trung nghèo khó. Dù có những nét riêng về nghệ thuật biểu đạt, cả hai đoạn trích đều để lại trong lòng người đọc niềm thương yêu và biết ơn sâu nặng đối với mẹ.

Trước hết, hai đoạn trích gặp gỡ ở chủ đề ca ngợi tình mẹ bao la và sự tần tảo hi sinh vì con. Trong “Mẹ gánh con đi”, người mẹ hiện lên với cuộc sống cơ cực: vừa sinh xong, sức yếu, thiếu ăn nhưng vẫn gánh con đến lớp, gánh rau ra chợ để nuôi đàn con nhỏ. Hình ảnh người mẹ “vừa run rẩy bước vừa cắn răng nén những cơn đau” khiến người đọc xúc động bởi sự hi sinh âm thầm mà lớn lao. Tình yêu thương của mẹ còn thể hiện qua niềm vui nhỏ bé dành cho con: những chiếc bánh tráng, kẹo bột hay gói bỏng ngô ít ỏi sau mỗi phiên chợ. Đó là thứ hạnh phúc giản dị nhưng chứa đựng biết bao yêu thương.

Trong “Mẹ và đồi cát”, người mẹ cũng hiện lên qua những bước chân nhọc nhằn trên đồi cát nóng bỏng. Mẹ gánh hàng đi buôn, gồng gánh cả tuổi thơ của các con qua những dặm dài cát trắng. Đặc biệt, chi tiết người mẹ đang bệnh nhưng vẫn lao mình chạy cứu con giữa biển khiến hình tượng người mẹ trở nên cao cả và thiêng liêng. Từ nỗi đau “thấy mẹ té vùi trong cát”, người con nhận ra những hi sinh lớn lao mà trước đây mình vô tâm chưa hiểu hết. Cả hai đoạn trích đều cho thấy: đằng sau tuổi thơ hồn nhiên của con là biết bao nhọc nhằn, cay cực mà mẹ âm thầm gánh chịu.

Bên cạnh điểm tương đồng, mỗi đoạn trích lại có những nét đặc sắc nghệ thuật riêng. Đoạn trích “Mẹ gánh con đi” được kể theo dòng hồi ức giàu cảm xúc của người con. Ngôn ngữ mộc mạc, chân thật nhưng giàu sức gợi đã tái hiện rõ cuộc sống nghèo khó nơi thôn quê miền Trung. Tác giả chú ý khai thác những chi tiết đời thường như chiếc thúng, đôi quang gánh, gói kẹo bột, mớ rau héo… Chính những hình ảnh giản dị ấy lại tạo nên sức ám ảnh sâu xa về phận nghèo và tình mẹ. Giọng văn chậm rãi, đượm buồn, tha thiết khiến cảm xúc lắng sâu trong lòng người đọc.

Trong khi đó, “Mẹ và đồi cát” gây ấn tượng bằng những hình ảnh giàu chất tạo hình và không gian miền biển đặc trưng. Hình ảnh “màn trời vàng chảy màu nắng”, “cái nóng lún chân của dải cát bỏng” hay “bước chân mẹ hằn lên vệt dài mong manh” vừa gợi sự khắc nghiệt của thiên nhiên vừa làm nổi bật sự nhọc nhằn của mẹ. Nghệ thuật miêu tả kết hợp tự sự giúp đoạn văn giàu tính điện ảnh và cảm xúc. Đặc biệt, hình ảnh mẹ ngã trên triền cát khi chạy cứu con là chi tiết giàu giá trị biểu tượng, thể hiện tình mẫu tử mãnh liệt và sự hi sinh vô điều kiện của người mẹ.

Hai đoạn trích tuy khác nhau về cách thể hiện nhưng đều chan chứa tình yêu thương mẹ và niềm xúc động trước những hi sinh thầm lặng của người phụ nữ nghèo miền Trung. Qua đó, các tác giả nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng, yêu thương và biết ơn mẹ – người đã dành cả cuộc đời để gánh gồng hạnh phúc cho con.

21 tháng 5

Câu 1:

Để thay đổi thế giới hay đơn giản là những người xung quanh, chìa khóa đầu tiên và quan trọng nhất nằm ở việc thay đổi chính mình. Thực tế, chúng ta không bao giờ có quyền năng tuyệt đối để kiểm soát suy nghĩ hay hành động của người khác, nhưng ta hoàn toàn có quyền làm chủ bản thân. Khi ta chủ động hoàn thiện kỹ năng, thái độ và tư duy, ta không chỉ trở nên tốt đẹp hơn mà còn tạo ra một "từ trường" tích cực lan tỏa đến mọi người. Thay vì chỉ trích hay đòi hỏi người khác phải theo ý mình, việc ta sống kỷ luật, bao dung và nỗ lực sẽ là tấm gương phản chiếu sống động nhất, có sức thuyết phục hơn ngàn lời nói suông. Thay đổi bản thân chính là bước đi thực tế để phá vỡ những định kiến và rào cản trong các mối quan hệ. Khi tâm thế ta thay đổi, cách ta nhìn nhận và ứng xử với thế giới cũng sẽ khác đi, từ đó thúc đẩy những người xung quanh tự nguyện chuyển mình theo hướng tích cực. Như Mahatma Gandhi từng nói: "Hãy là sự thay đổi mà bạn muốn thấy ở thế giới này". Tóm lại, tự hoàn thiện mình không phải là sự thỏa hiệp, mà là khởi đầu của mọi sự chuyển hóa vĩ đại và bền vững trong cộng đồng.


Câu 2:

Trong dòng chảy của văn học viết về tình mẫu tử, hai đoạn trích Mẹ gánh con đi của Trần Thị Tú Ngọc và Mẹ và đồi cát của Tạ Tư Văn đã để lại nhiều xúc động sâu sắc. Cả hai đều khắc họa hình ảnh người mẹ nghèo lam lũ của miền Trung đầy nắng gió, qua đó ngợi ca đức hi sinh lớn lao và tình yêu thương vô bờ bến của mẹ dành cho con. Đồng thời, mỗi đoạn trích cũng mang những nét nghệ thuật riêng, góp phần tạo nên giá trị biểu cảm đặc sắc.

Trước hết, hai đoạn trích gặp gỡ nhau ở chủ đề ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và sự hi sinh nhọc nhằn của người mẹ nghèo. Trong Mẹ gánh con đi, hình ảnh người mẹ hiện lên với đôi quang gánh nặng trĩu: một đầu là con nhỏ, đầu kia là cặp sách cùng đứa em út. Người mẹ vừa sinh xong, cơ thể còn yếu nhưng vẫn “vừa run rẩy bước vừa cắn răng nén những cơn đau” để đưa con đến lớp. Qua đó, tác giả làm nổi bật sự tần tảo, hi sinh âm thầm của mẹ vì tương lai con cái. Tương tự, trong Mẹ và đồi cát, người mẹ ngày ngày “trẩy đôi quang gánh vượt đồi cát ra chợ”, gồng gánh mưu sinh giữa cái nắng gió khắc nghiệt miền Trung. Đặc biệt, chi tiết mẹ lao xuống triền cát cứu con giữa biển đã khắc họa tình thương con mãnh liệt, bất chấp hiểm nguy. Dù trong hoàn cảnh nào, mẹ vẫn luôn là điểm tựa, là người âm thầm chịu đựng mọi nhọc nhằn để con có được niềm vui và sự bình yên.

Bên cạnh đó, cả hai đoạn trích đều thể hiện nỗi xót xa về cuộc sống nghèo khó của những gia đình miền Trung. Những món quà quê ít ỏi như “đùm kẹo bột”, “bánh tráng nướng”, “gói bỏng ngô” trong Mẹ gánh con đi trở thành niềm vui lớn lao của tuổi thơ. Nhưng đằng sau niềm vui ấy là những phiên chợ ế ẩm, là “mồ hôi lẫn với nước mắt ướt đầm manh áo vá”. Trong Mẹ và đồi cát, cái nghèo hiện lên qua đôi chân “tấy đỏ, bỏng rát”, qua bờ vai “chai sần quang gánh”. Những đứa con chỉ háo hức chờ quà mà chưa hiểu hết nỗi nhọc nhằn của mẹ. Qua hồi ức của người con khi trưởng thành, cả hai đoạn trích đều gửi gắm sự thấu hiểu, biết ơn và niềm thương yêu sâu nặng dành cho mẹ.

Tuy nhiên, mỗi đoạn trích lại có những nét đặc sắc nghệ thuật riêng. Đoạn trích Mẹ gánh con đi thiên về giọng kể nhẹ nhàng, giàu cảm xúc và đậm chất hồi tưởng. Tác giả sử dụng nhiều chi tiết đời thường giản dị nhưng gợi xúc động mạnh: chiếc mũ tai bèo cũ rách, chiếc nón mê thủng lỗ, những món quà quê ít ỏi… Những hình ảnh ấy vừa chân thực vừa giàu sức gợi, tái hiện rõ cuộc sống nghèo khó mà ấm áp tình thương. Nghệ thuật miêu tả tâm lí trẻ thơ tự nhiên, hồn nhiên càng làm nổi bật sự vô tư của con trẻ và nỗi xót xa của người mẹ.

Trong khi đó, Mẹ và đồi cát gây ấn tượng bởi những hình ảnh giàu tính biểu tượng và không gian miền Trung khắc nghiệt. Hình ảnh “đôi quang gánh”, “đồi cát”, “biển”, “cát nóng” lặp đi lặp lại tạo nên âm hưởng ám ảnh về cuộc đời lam lũ của mẹ. Giọng văn mộc mạc nhưng mạnh mẽ, giàu chất điện ảnh với những động từ gợi tả như “lao”, “té”, “chạy” khiến cảnh mẹ cứu con trở nên đầy xúc động. Tác giả còn kết hợp hài hòa giữa miêu tả thiên nhiên và khắc họa con người, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp kiên cường của người mẹ miền biển.

Có thể nói, hai đoạn trích là những khúc ca cảm động về tình mẹ. Dù mỗi tác giả có cách thể hiện riêng, cả hai đều giúp người đọc cảm nhận sâu sắc sự hi sinh thầm lặng của mẹ và nhắc nhở mỗi người phải biết yêu thương, trân trọng đấng sinh thành của mình. Những trang văn ấy không chỉ giàu giá trị nghệ thuật mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, chạm tới trái tim người đọc bằng tình cảm chân thành và giản dị nhất.

21 tháng 5

nguuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuuu

27 tháng 3 2019

Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.

27 tháng 3 2019

Dịch ra tiếng việt:

Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.

Dịch ra tiếng anh: 

What am I Dressing up the feathers with a long feather. I usually have hot and wet wires working in the environment. At work, I work forward, pushing forward, I hit the white. Usually work 1-3 times a day, but unfortunately sometimes I can not use it.

I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:             Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình....
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”?

12
14 tháng 5 2021

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:

- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.

- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.

- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.

- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.

Câu 4:

- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.

- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.

- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.

14 tháng 5 2021

ko biet

26 tháng 3 2019

Dịch đây nè:

Nếu bạn có thể dịch, tôi sẽ yêu bạn cả đời

26 tháng 3 2019

Câu hỏi :

Dịch nghĩa từ : гэрийн нохойг уншаарай

Trả lời :

Đọc chó về nhà

P/S : Mk cx ko chắc nx , nhưng bn nên cho bt từ đó là tiếng nước nào chứ !!!!

sai rồi phải là 

ĐỌC LÀ CON CHÓ 

đó là tiếng MÔNG CỔ

I. ĐỌC HIỂUĐọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình

2
21 tháng 7 2021

đọc

nha

21 tháng 5 2025

Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:


Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

  • Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
  • Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?

  • Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
  • Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
  • Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

  • Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
  • Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
  • Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:

“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”

  • Thông điệp:
    • Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
    • Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
    • Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.

Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!



Đọc chó về nhà

Câu 1:

Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.

Câu 2:

Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"

– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu:  ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.

Bình luận các ý kiến:

 Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.

12 tháng 12 2021

-

Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 3 :Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay người xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 3 :

Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay người xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằngba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

Đó là lý do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lý do đó mà thôi.

Kinh Tamud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.”. Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

[....] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích “Nếu biết trăm năm là hữu hạn...” - Phạm Lữ Ân, NXB Hội Nhà văn, 2019, tr 15)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Lý do đầu tiên để nhân vật tôi muốn trở thành một ngươi chính trực và biết yêu thương là gì?

Câu 3: Nội dung câu Kinh Talmud: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” được anh/chị hiểu như thế nào?

1
1 tháng 1 2022

Câu 1 : Tự sự

Câu 2 : Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con  con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. ... Đó là lý do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3 : - Câu kinh đó ý nói: khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ những thế hệ sau này. Những điều tốt đẹp ấy sẽ như một hạt giống tốt tươi được lan xa, lan rộng.

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.